Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 15/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Phúc kiện đòi ông Công phần đất giáp ranh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 15/2026/DS-PT
Ngày 09 - 01 - 2026
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư phiên tòa: Hoàng Minh Thư - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên t: Bà
Lê Huyền Kim - Kiểm sát viên.
Trong c ngày 07 09 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Nai xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 737/2025/TLPT-DS ngày
16/12/2025 về "Tranh chấp kiện đòi tài sản”. Do Bản án dân sự thẩm số
46/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 -
Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
744/2025/QĐPT-DS ngày 30/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1960; địa chỉ: số F, thôn N,
xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bđơn: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn N, L, tỉnh
Đồng Nai. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của anh C: Chị Trần Thị Tú P1, sinh năm
1981; địa chỉ: số A, thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Trần Thị P1, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, thôn N, L, tỉnh
Đồng Nai. (có mặt)
+ Trần Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: số F, thôn N, L, tỉnh Đồng Nai.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, lời trình bày
trong quá trình gii quyết v án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P
trình bày:
Năm 2017, ông P nộp đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc H ông
Nguyễn Đức P2 lấn chiếm đất của ông P phần diện tích đất ông P mua của bà
Nguyễn Thị Ngọc H1, diện tích 1397m
2
, đất tọa lạc tại tổ H, khu phố N, thị trấn
L, huyện L. Ông P được biết anh C cũng đang kiện bà H, ông P2 lấn chiếm phần
diện tích đất trên. Trong diện tích đất tranh chấp giữa bà H, ông P2 anh C thì
có 01 phần diện tích đất tranh chấp giữa ông P và bà H, ông P2 nên anh C và ông
P đã lập giấy thỏa thuận ngày 16/4/2017 với nội dung nếu anh C thắng kiện đối
với phần tranh chấp đất giữa anh C với H, ông P2 thì anh C sẽ trả lại cho ông
P diện tích đất như ông P rút đơn khởi kiện trong năm 2017. Tuy nhiên anh C
không thực hiện theo giấy thỏa thuận đã lập.
Nay, ông P yêu cầu anh C trả lại phần diện tích đất con đường đi diện tích
chiều ngang mặt đường nhựa 0,9m, chiều ngang đuôi đất 2 mét, chiều dài đất
khoảng 80 mét và phần diện tích 492,6m
2
thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 29
đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH03220 do UBND huyện L cấp ngày
26/5/2023 đứng tên Nguyễn Chí C. Đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L,
tỉnh Bình Phước. Nay thôn N, L, tỉnh Đồng Nai. Phần diện tích 492,6m
2
trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án số 05/2018 ngày
23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Phần đất tranh
chấp này ông P và anh C đã thỏa thuận theo văn bản thỏa thuận ngày 16/4/2017.
Phần diện tích đất tranh chấp được trên ông P quản sử dụng từ trước đến nay.
Khoảng tháng 3/2023, thì chị P1 xây hàng rào ngăn lại không cho ông sử dụng.
Ông P không ý kiến đối với đồ trích đo địa chính số 199-2024 ngày
27/9/2024 của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B, Công văn số 37/2025 ngày
14/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh Công văn số 46/2025 ngày
26/6/2025 của Tòa án nhân n huyện Lộc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực
14 Đồng Nai).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P giữ nguyên u cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án
buộc anh C trả lại phần diện tích đã lấn chiếm theo văn bản thỏa thuận ngày
16/4/2017 giữa ông P anh C. Đối với việc anh C chuyển nhượng đất cho ch
P1 thì ông P không yêu cầu đối với chị P1, không yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị P1.
* B đơn anh Nguyn Chí C đại din theo y quyn ca b đơn chị
Trn Th Tú P1 thng nht trình bày:
Anh C là cháu rut ông P, t khi cha rut anh C chết thì anh C sng cùng
vi ông P t khong 8-9 tuổi đến năm 2017 thì anh C đi làm tại Đ (ph bán quán
cho con gái ông P), tuy nhiên thnh thong anh C vn v nhà ông P. Năm 2018,
Tòa án nhân dân huyn Lc Ninh xét x gii quyết đối vi tranh chp hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đt giữa nguyên đơn anh C b đơn bà H, ông
P2 theo bn án 05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc
Ninh, tỉnh Bình Phước. Khi bản án hiệu lực pháp luật, anh C được Tòa án giao
3
phần diện tích đất đã được tuyên trong bản án. Trong vụ án, trên ông P tham gia
với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, còn bà Nguyễn Thị D, sinh
năm: 1954. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước tham gia
với cách là đại diện theo ủy quyền của anh C. Trong năm 2017, tại thời điểm
anh C khởi kiện bà H ông P2 thì anh C được biết ông P không khởi kiện bà H và
ông P2 như ông P trình bày. Ngoài ra, anh C cũng không lập giấy thỏa thuận nào
với ông P vì anh C không biết chữ, anh C chỉ biết viết họ và tên của mình. Đồng
thời nếu sự thỏa thuận giữa ông P anh C tphải có mặt D tham gia vì
D nhận ủy quyền của anh C. Tất cả mọi việc liên quan tới vụ án, D người
quyết định.
Phần diện tích đất tranh chấp như ông P trình bày con đường đi diện
tích chiều ngang mặt đường nhựa là 0,9m, chiều ngang đuôi đất là 02 mét, chiều
dài đất khoảng 80 mét thuộc thửa s112, tờ bản đồ 29 có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất CH 03231 cấp ngày 26/5/2023 đứng tên Nguyễn Chí C và phần diện
tích 492,6m
2
thuộc thửa đất s114, tờ bản đồ số 29 đã được cấp giấy chứng nhận
QSDĐ số CH03220 do UBND huyện L cấp ngày 26/5/2023 đứng tên Nguyễn Chí
C đều tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước nay L, tỉnh
Đồng Nai được cấp theo Bản án s05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Anh C người quản sử dụng từ
khi Bản án số 05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc
Ninh, tỉnh Bình Phước có hiệu lực pháp luật, sau đó anh C đã chuyển nhượng cho
chị P1 phần diện tích 492,6m
2
thuộc thửa đất s114, tờ bản đồ số 29 đã được cấp
giấy chứng nhận QSDĐ số CH03220 do UBND huyện L cấp ngày 26/5/2023
đứng tên Nguyễn Chí C sang trang tư đứng tên chị P1 từ tháng 6/2023.
Nay, anh C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P vì giữa ông P
anh C không lập văn bản thỏa thuận như ông P trình bày. Chị P1, anh C không có
ý gì kiến gì đối với sơ đồ trích đo địa chính số 199-2024 ngày 27/9/2024 của Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh B công văn số 37/2025 ngày 14/4/2025 của Tòa
án nhân dân huyện Lộc Ninh, công văn số 46/2025 ngày 26/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Lộc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai).
* Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người liên quan chị Trần
Thị Tú P1 trình bày:
Thửa đất diện tích 492,6m
2
thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 29 đã
được cấp giấy chứng nhận QSDĐ sCH03220 do UBND huyện L cấp ngày
26/5/2023 được cấp theo Bản án số 05/2018 ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân
huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đứng tên Nguyễn Chí C thì chị P1 đã nhận
chuyển nhượng của anh C từ năm 2018, đến năm 2023 chị P1 đã được cấp giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất sang trang từ ngày 29/6/2023. Đối với con
đường đi diện tích chiều ngang mặt đường nhựa là 0,9m, chiều ngang đuôi đất là
2 mét, chiều dài đất khoảng 80 mét ông P khởi kiện thì chị P1 không đồng ý
yêu cầu khởi kiện vì phần diện tích đó đã cấp cho anh C. Anh C không biết chữ,
chỉ biết ký tên ghi họ tên của anh C nên giấy thỏa thuận như ông P trình bày
không đúng sự thật.
4
* Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người liên quan Trần Thị
T trình bày:
Bà T vợ ông Nguyễn Hữu P, bà T thống nhất như lời ông Phúc trình B,
bà T đồng ý để ông P toàn quyền quyết định giải quyết vụ án và không trình bày
gì thêm.
* Người làm chứng Nguyễn Thị D trình bày: D ruột của anh
Nguyễn Chí C, ông P anh ruột D. Đối với việc anh Nguyễn Chí C khởi kiện
ông P2, H đã được Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết tại Bản án số
05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018. Trong vụ án trên, D tham gia với cách
đại diện theo ủy quyền của anh C anh C không biết chữ và không am hiểu pháp
luật. Ông P tham gia ván trên với cách là người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan. Mọi việc liên quan đến vụ án trên D người toàn quyền quyết định thay
anh C. Tuy nhiên anh C sống ng ông P từ nhỏ (anh C khoảng 7 tuổi) đến khoảng
năm 2016-2017 thì anh C đi phụ việc cho con gái ông P tại Đ nhưng thỉnh thoảng
anh C vẫn vnhà ông P. Khi còn sống với cha mẹ ruột anh C thì anh C không
được đi học, anh C không có giấy khai sinh, không có giấy tờ gì nên từ khi sống
cùng ông P thì anh C cũng không được đi học. Do đó, việc ông P trình bày có sự
thỏa thuận theo giấy thỏa thuận ngày 16/4/2017 giữa ông P anh C là không
đúng sự thật. vậy đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của giấy thỏa thuận
trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tòa án
buộc bị đơn anh C phải trả lại phần diện tích đã lấn chiếm con đường đi diện
tích chiều ngang mặt đường nhựa 0,9m, chiều ngang đuôi đất là 2 mét, chiều
dài đất khoảng 80 mét phần diện tích 492,6m
2
thuộc thửa đất số 114, tờ bản
đồ số 29 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH03220 do UBND huyện L
cấp ngày 26/5/2023 đứng tên Nguyễn Chí C theo văn bản thỏa thuận ngày
16/4/2017.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 06/10/2025 nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P
có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông P giữ nguyên kháng cáo.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án
từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng
xét xử các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
5
Về nội dung giải quyết vụ án: Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại
phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Hữu P; giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P được nộp trong hạn
luật định, có nội dung, hình thức và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại
các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xét xử theo
trình tự phúc thẩm.
Về nội dung tranh chấp:
[2] Xét yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông
Nguyễn Hữu P về yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Nguyễn Chí C phải trả lại cho
nguyên đơn phần diện tích đất mà nguyên đơn cho rằng bị lấn chiếm, gồm: phần
đất có diện tích 127,3m
2
và phần đất có diện tích 492,6m² thuộc thửa đất số 114,
tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước, theo
kết quả đo đạc thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 199-2024 do Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện L (cũ) lập ngày 21/8/2024, được Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B (cũ) ký duyệt ngày 27/9/2024 (BL 329) mà anh C đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
[3] Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ đã thu
thập được, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4] Tại phiên toà, các bên đều xác nhận phần đất tranh chấp có nguồn gốc
anh C được hưởng lại từ cha mẹ anh. Nguyên đơn ông P cho rằng căn cứ để ông
khởi kiện yêu cầu anh C trả lại đất là vì: vào năm 2017, ông kiện tranh chấp
đất đai với vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc H, ông Nguyễn Đức P2, khi đó do anh
C nói ông P rút đơn khởi kiện đanh C kiện vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc H,
ông Nguyễn Đức P2 nếu anh C thắng thì anh C sẽ trả lại cho ông P phần đất anh
C đã lấn hiện nay ông đang khởi kiện nên hai bên lập Giấy thỏa thuận ngày
16/4/2017 nhưng sau khi anh C được Toà án xử cho thắng kiện tại Bản án số
05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 tanh C đã không thực hiện cam kết. Còn bị
đơn anh C thì cho rằng: hoàn toàn không có việc anh ông P sthoả thuận
những nội dung như ông P trình bày. Về giấy thoả thuận lập ngày 16/4/2017, anh
C thừa nhận anh có ký vào giấy này nhưng việc anh ký là vì trước đây có lần ông
P đưa cho anh tờ giấy đã được lập sẵn bảo anh ký, do anh sống với ông P từ nh
nên anh tin tưởng ký chứ anh không đọc, không biết nội dung của giấy; hơn nữa,
do cha anh chết sớm (năm anh 8 tuổi) nên anh sống với ông P từ nhỏ, toàn bộ đất
do cha mẹ anh để lại do ông P quản lý; khi lớn anh đi làm thuê cho con gái của
ông P Đ đến năm 2017, năm 2018 thắng kiện và sử dụng đất đến năm 2023 thì
6
anh chuyển nhượng cho chị P1. Diện tích đất của anh của ông P đã ranh giới
ràng, quá trình sử dụng hai bên không tranh chấp gì, chỉ sau này khi anh
chuyển nhượng đất cho chị P1 thì ông P mới tranh chấp. Vì thế, anh không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của ông P.
[5] Xét trình bày của ông P mâu thuẫn, cụ thể: ông P cho rằng năm
2017 ông có khởi kiện bà H, ông P2 để yêu cầu trả lại phần đất mà ông cho rằng
H, ông P2 đã sdụng lấn của ông nên giữa ông anh C thoả thuận việc
ông rút đơn khởi kiện để anh C kiện, nếu anh C thắng thì anh C sẽ trả lại đất cho
ông nhưng ông P lại không chứng minh được việc ông khởi kiện vào năm 2017
như ông trình bày. Trong khi, tại Công văn số 37 ngày 14/4/2025 và công văn số
46 ngày 26/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh (cũ) đã khẳng định năm
2017 Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh không nhận đơn khởi kiện, không thông
báo trả đơn khởi kiện và không thụ vụ án nào tên người khởi kiện Nguyễn
Hữu P người bị kiện ông Nguyễn Đức P2, Nguyễn Thị Ngọc H. Đồng
thời, trong Giấy thỏa thuận lập ngày 16/4/2017 (BL 333) cũng không có nội dung
nào ghi rõ anh C phải có nghĩa vụ trả lại ông P diện tích cụ thể bao nhiêu, thuộc
thửa đất nào. Bên cạnh đó, tại phiên toà ông P cho rằng ông người sử dụng phần
đất tranh chấp từ trước cho đến năm 2023, đến khoảng tháng 3/2023 chị P1 xây
dựng hàng rào ông mới khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy: hồ sơ vụ án thể hiện
kể từ thời điểm Bản án số 05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 có hiệu lực pháp luật,
anh C người quản lý, sử dụng các phần đất nêu trên. Sau đó, anh C đã chuyển
nhượng cả hai thửa đất cho chị P1 (cũng là cháu ruột của ông P), ngày 29/6/2023
chị P1 đã được sang tên thửa số 114 (BL 122); đối với thửa 112 mặc dù anh C và
chị P1 đã hợp đồng chuyển nhượng nhưng khi đang làm thủ tục sang tên, do
ông P tranh chấp nên việc sang tên cho chị P1 bị ngưng lại. tại tòa, cả chị P1
anh C đều khẳng định anh C chuyển nhượng cho chị P1 02 thửa đất từ năm
2018, chị P1 người trực tiếp quản lý, sử dụng khai thác tài sản trên đất, không
phải anh C nhưng đến năm 2023 mới làm thủ tục theo quy định của pháp luật.
Cũng chính ông P khẳng định trước khi chị P1 xây tường rào giữa đất của ông với
đất của anh C như hiện nay thì đất của hai bên cũng hàng rào bằng dây thép,
điều này mâu thuẫn với việc ông cho rằng năm 2017 anh C hứa trả đất cho ông
nếu thắng kiện, trong khi việc kiện anh C đã thắng kiện từ năm 2018 ông P vẫn
đồng ý với ng rào bằng thép không yêu cầu anh C thực hiện việc hứa trả đất
không phù hợp. Trên hết, xét thấy hiện nay thửa đất số 114 đã được chị P1 đứng
tên còn thửa 112 anh C chị P1 đã kết hợp đồng chuyển nhượng từ tháng
6/2023, tại Tòa án cấp thẩm khi được giải thích ông P vẫn khẳng định ông
không tranh chấp với chị P1, không yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa
anh C và chị P1 chỉ kiện yêu cầu anh C phải trả lại đất. Tại phiên toà phúc
thẩm, ông P yêu cầu Tòa hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa anh C chị phượng
đối với thửa số 112 hủy Giấy CNQSDĐ đã cấp cho chị P1 đối với thửa 114,
nhưng xét yêu cầu này là vượt quá yêu cầu khởi kiện và phạm vi kháng cáo. Mặc
dù, ông P cho rằng vào tháng 3/2023 ông đã có đơn khởi kiện anh C là trước khi
chị P1 nhận chuyển nhượng và được sang tên nhưng trong qúa trình giải quyết ở
Tòa án cấp thẩm ông đã biết việc chuyển dịch quyền tài sản giữa anh C, chị P1
7
nhưng lại không thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện. Vì thế, việc Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của ông P Tòa án cấp phúc thẩm
cũng không thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu này của ông P căn
cứ.
[6] Từ những phân tích trên, thấy rằng kháng cáo của ông P không s
chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 14
Đồng Nai.
[7] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn ông P không được chấp
nhận nên ông P phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000
đồng chi phí trưng cầu giám định 6.000.000 đồng được trừ vào số tiền nộp
tạm ứng chi phí tố tụng ông P đã nộp theo biên lai số 74 ngày 02/7/2024 và biên
lai số 119 ngày 23/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai).
[8] Án pdân sự thẩm: ông P là người cao tuổi có yêu cầu được miễn
nên được miễn án phí.
[9] Án pdân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông P không được chấp nhận
nhưng ông người cao tuổi yêu cầu được miễn án phí nên ông P được xem
xét miễn án phí phúc thẩm.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ nên
được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P;
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 30/9/2025
(kèm theo Quyết định sửa đổi, bổ sung Bản án số 07/2025/QĐSĐBSBA ngày
08/12/2025) của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 227, Điều 235, Điều 271, 272, khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166, Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015;
các điều 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P
đối với yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Nguyễn Chí C phải trả phần diện tích đất
127,3m
2
(chiều ngang mặt đường nhựa 0,9m, chiều ngang đuôi đất 2 mét,
chiều dài 88,40m, trong đó 4,0m
2
thuộc HLBVĐB) một phần thuộc thửa 112
tờ bản đồ số 29, được UBND huyện L (cũ) cấp GCNQSDĐ số DK 917919, số
vào sổ cấp GCN: CH 03221 ngày 26/5/2023 cho anh Nguyễn Chí C diện tích
đất 492,6m
2
thuộc thửa số 114 tờ bản đồ s29, được UBND huyện L (cũ) cấp
GCNQSDĐ sDK 917920, số vào sổ cấp GCN: CH 03220 ngày 26/5/2023 cho
8
anh Nguyễn Chí C được điều chỉnh biến động tại mục “IV. Những thay đổi sau
khi cấp giấy chứng nhận” sang tên cho chị Trần Thị P1 vào ngày 29/6/2023;
cả hai thửa đất đều tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước
(nay thôn N, L, tỉnh Đồng Nai) vị trí, tứ cận được thể hiện tại Mảnh
trích đo địa chính số 199-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L
(cũ) lập ngày 21/8/2024, được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B (nay Sở
Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) ký duyệt ngày 27/9/2024 (kèm theo Bản án).
Chi phí tố tụng: ông Nguyễn Hữu P phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ là 3.000.000 đồng và chi phí giám định 6.000.000 đồng, được trừ
vào các khoản tiền tạm ứng ông P đã nộp theo các biên lai số 74 ngày 02/7/2024
và biên lai số 119 ngày 23/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh (nay là
Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai).
Án phí dân sự thẩm và án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Hữu P được
miễn nộp; anh Nguyễn Chí C không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực 14 – Đồng Nai;
- VKSND khu vực 14 – Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 14 -Đồng Nai;
- THADS tỉnh Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Tải về
Bản án số 15/2026/DS-PT Bản án số 15/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/DS-PT Bản án số 15/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất