Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đức Huệ (TAND tỉnh Long An)
Số hiệu: 15/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/04/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 12- 4-2019
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC HUỆ Độc lập Tự do – Hạnh phúc
TỈNH LONG AN
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Nhanh.
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân n huyện Đức
Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia
phiên tòa: Ông Lý Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 14/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 02
năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra t x s: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 28
tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
- Nguyễn Thị T - Sinh năm 1999, tại: Long An; nơi cư trú: p, xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; tnh độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; dân
tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm
1978 Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; chồng Ngô Quang V, sinh năm:
1993 01 con chung sinh năm 2017; tiền án, tiền s: Không; bị o bị cấm đi khỏi
nơi cư trú theo lệnh số 02 ngày 13/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra; bị cáo tại
ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Thị Thanh L - Sinh năm: 1989 - Địa chỉ: p V, T, huyện Đ, tỉnh
Long An. (Vắng mặt không lý do)
2. Ông Chu Văn H - Sinh năm: 1987 - Địa chỉ: Xóm 5, L, huyện H, tỉnh
Hà Tỉnh. (Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 gi 30 phút, ny 26/11/2018, ti p 2, xã Q, Công an huyn Đ bt qu
tang Nguyễn Thị T, điu khin xe mô tô loi Wave α, màu trắng - đen, biển kim soát:
38L1-048.73 không có giấy tờ chng minh ngun gốc pơng tin, n đã lập bn bn
đưa T cùng phương tin v cơ quan công an đlàm rõ.
Ti cơ quan Công an, T khai nhn: Vào ngày 17/11/2018, khi T đang n t có
mt đi tưng nữ tên Lê Th Thanh L, sinh năm 1989, hkhẩu tng trú: p V, xã T,
huyn Đ tìm đến hỏi T có việc làm kng? Nếu không có việcm t chạy xe mô tô do
ni kc phạm ti mà có t khu vc tnh phố H Chí Minh về huyn Đ cho L, L s
tr tin công trót lt mi chuyến là 500.000 đồng. Vì con của T còn nh (sinh năm 2017)
nên T ca nhn li ngay. Khong 10 gi ngày 25/11/2018, L điện thoi li hi T có chạy
xe cho L đưc kng? Lúc y do cần tiền tu sài nên T nhận lời, L kêu T đón xe buýt
đến khu vực chợ đầu mi Thủ Đc (thành phH Chí Minh) để ch, sẽ có ni đến
giao xe. T nh bạn ca em i T, tên Nguyn Tn S (sinh m 1999, hkhu tng trú:
p M, T, huyn Đ) ch T đến bến xe Hậu Nghĩa để đón xe buýt đi tnh phố H Chí
Minh. T i vi S đi mua đcho con ca T. Sau khi đến khu vực chợ đu mối Th
Đức, do tri ti và không có xe n d định, L kêu T tìm ch ngủ li đchờ. Do bản thân
kng mang theo chứng minh nhân n nên T gi cho mt ni bn tên Trn Quang T2
(sinh năm 1987, hộ khu tng trú: p L, xã N, huyn H, tnh Tây Ninh) để mưn chứng
minh nhân dân thuê phòng tr ng li, đến 03 giờ 00 phút ny 26/11/2018, L đin thoại
li nói đã có xe, kêu T ra khu vc chợ đu mi Thủ Đc đng ch, s có ngưi đến giao
xe. Sau đó mt thanh nn lạ mt đến hi hai số đin thoại cuối ca T, xác nhận là đúng,
ni này giao cho T một xe mô loi Wave α, màu trng đen, bin kiểm soát 38L1-
048.73 không có chìa khóa, T điều khin xe v đến ấp 2, Mỹ Quý Tây thì b bắt quả
tang.
Tang vật tạm giữ:
- 01 xe mô nhãn hiệu Honda, nhãn hiệu loi Wave α, màu trng - đen - bc,
số khung: RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328.
- 500.000 đồng, là tiền cá nhân của T.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 là phương
tiện T dùng liên lạc với các đối tượng trong quá trình gây án.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2.
Tại kết luận định giá tài sản số 97/KL-TCKH ngày 28/11/2018 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ xác định: 01 xe nhãn
hiệu Honda, nn hiu loại Wave α, màu trng - đen - bc, số khung:
RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328, tình trạng đã qua sử dụng,
giá trị 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
3
Xử lý tang vật của cơ quan cảnh sát điều tra:
- Quá trình điều tra xác định: 01 xe mô tô (2nh) nn hiệu loi Wave α, màu
trng - đen - bc, skhung: RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328, đã
qua sử dng, khóa bị p hng, không có chìa ka, ch sở hu đưc xác đnh là ông
Chu Văn H, sinh năm: 1987, hộ khẩu thường trú: m 5, L, huyện H, tỉnh
Tĩnh. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/11/2018, ông H điều khiển xe của mình đến
phòng trọ của Nguyễn Quang T3 tại địa chỉ: đường số 06, số nhà 59, khu phố N 1,
phường A, thị D, tỉnh Bình Dương để xem đá bóng, đến 22 giờ 30 phút ng
ngày, khi ông H ra về thì phát hiện xe đã bị mất trộm, ông đã đến Công an phường
Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trình báo vụ việc. Xét thấy không ảnh hưởng
đến các hoạt động điều tra tiếp theo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Đức Huệ đã trả lại cho chử sỡ hữu ông Chu Văn H, theo quyết định xử vật
chứng số 11 ngày 17/01/2019 của quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đức
Huệ, sau khi nhận lại xe mô tô, ông H không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.
Đối vi Trn Quang T2: hin kng có mt ti địa pơng, đi đâu không rõ,
kng m vic đưc. Ngoài lời khai ca b cáo T thì không có chng cứ, tài liu o
kc chng minh T2 phm tội nên Cơ quan điều tra không đủ cơ s x lý đi vi T2, nên
kng đ cp.
Đối vi Nguyn Tn S: S không tha nhận vic chở T đến bến xe Hu Nga đ
đón xe buýt đi thành ph H Chí Minh, S cũng không biết việc T tham gia vận
chuyển xe mô tô do người khác phạm tội mà có. Ngi li khai ca b cáo T thì không
có chng cứ tài liuo khác đ chứng minhn Cơ quan điu tra không đủ cơ sở x lý
đối vi đi tưng y, nên không đề cập.
Đối với Lê ThThanh L: L không tha nhận vic có quen biết hay thuê T tham gia
vn chuyn xe do ni khác phm ti mà có. Đã tchức đối chất vni dung mâu thun
trên, nhưng không thu đưc kết quả. Ngoài li khai của bcáo T thì không chứng cứ
tài liu nào kc để chứng minh nên quan điu tra không đủ cơ s xử lý đối vi đi
tưng y, n không đcp.
Đối với các đối ng giao xe: do không c định được nhân thân, lai lịch nên
không mời m việc được, không đủ s chứng minh, nên kng đề cập.
Cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐH ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm
sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân
tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
4
Căn cứ: khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 32,
Điều 65 Bộ luật hình sự; xphạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xem xét.
- 500.000 đồng, tiền nhân của bị cáo T không liên quan đến quá trình
phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224
phương tiện T dùng liên lạc với các đối tượng để thực hiện tội phạm, đnghị tịch
thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2 đề nghị
trả lại cho bị cáo để bị cáo trả lại cho Trần Quang T2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:
1. Ông Chu n H vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày đã nhận lại
tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.
2. Thị Thanh L vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày không
thuê bị cáo T tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội có, do không đủ cở sở
để chứng minh nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung ván, căn co c i liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t xử nhận định như sau:
[1] Vào ngày 26/11/2018 (khoảng 3 giờ 00 phút), Nguyễn Thị T đã nhận lời
vận chuyển tiêu thụ 01 xe mô tô (2nh) nhãn hiệu loại Wave α, màu trng - đen -
bạc, số khung: RLHHC1201BY591280, smáy: HC12E-3391328 do người khác
phạm tội cho một người không địa chỉ (chỉ biết tên L) từ khu vc Ch
đu mi qun Th Đc (thành ph H Chí Minh) về khu vực Tho Mo thuộc
M, huyện Đ để tiêu thụ với giá tiền công vận chuyển là 500.000 đồng (bị cáo chưa
nhận tiền công). Khi bị cáo T vận chuyển xe mô nói trên đến ấp 2, Mỹ Quý
Tây thì bị lực lượng chức năng bắt giữ người cùng tang vật. Qua định giá tài sản xe
tô nói trên có giá trị là 5.000.000 đng (Năm triu đng) .
[2] Các quyết định khởi tvụ án, khởi tố bị can của quan cảnh sát điều
tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cáo trạng của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đức Huệ truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện
đúng và hợp pháp.
5
[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội. Lời khai nhận của bị cáo phợp với các lời khai của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện Đ lập
lúc 08 giờ 00 phút ngày 26/11/2018, kết luận định giá tài sản số 97/KL-TCKH ngày
28/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ
các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên sở
đó đã đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Nguyễn Thị T phạm vào tội “Tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại
khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐH
ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố
bị cáo Nguyễn Thị T với tội danh và điều luật nêu trên sở đúng theo quy
định của pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi của
bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa mà còn gây trở ngại cho công tác điều tra, truy tố xét xcác vụ án hình
sự, tạo điều kiện khuyến kích cho những người khác đi vào con đường phạm tội. B
cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành
vi trên của bcáo phải được xử nghiêm. Xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự,
nơi trú rõ ràng đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không cần phải
ch ly bị cáo ra khỏi hội mà dưới sự giám t, giáo dục của chính quyền địa
phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] t thấy bị cáo Nguyễn Thị T trong quá trình xét xthật thà khai báo,
phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo phải trực tiếp
nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy
định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình
cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm t về mức hình phạt đối với bị cáo
Nguyễn Thị T là có cơ sở theo quy định pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Chu Văn H vắng mặt tại phiên toà trong lời khai không yêu cầu nên không đcp
xem xét. Nếu sau này phát sinh yêu cầu bồi thường s tách ra giải quyết bằng
một vụ án khác.
[8] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự. Phần quan điều tra đã xử xong không yêu cầu xem xét lại nên không
đề cập xem xét.
- 500.000 đồng, là tiền nhân của T, không liên quan việc phạm tội nên trả
lại cho bị cáo là phù hợp.
6
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224
phương tiện T dùng liên lạc với các đối tượng khi lạc thực hiện tội phạm, nên cần
phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2 bị cáo
mượn để thuê phòng trọ nên trả lại cho bị cáo để bị cáo trả lại cho Trần Quang T2
[9] Đối với Thị Thanh L, quan cảnh sát điều tra Viện kiểm sát
không đủ chứng cứ chứng minh liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo
Nguyễn Thị T nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
[9.1] Đối với nhng người gii thiu, chủ thuê, nời giao nhn xe cho b
cáo, kng xác đnh được nn thân, lai lch, địa ch, không làm vic được. Cơ
quan CSĐT tiếp tục thm tra, xác minh đ xuất xlý sau, nên không đ cập xử
trong vụ án này phù hợp. Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị
cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo qui định của pháp luật.
[10] Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều
32, Điều 65 Bộ luật hình sự; Các 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299, Điều 326 Bộ
luật Ttụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bcáo Nguyn Th T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân T, huyện Đ, tỉnh Long
An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án treo.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi trú thì thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về các biện pháp pháp: Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động
hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 đã qua sử dụng.
7
Trả lại cho bị cáo Nguyn Th T: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) 01
chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2.
Tang vt do chi cc thi hành án dân s huyn Đc Hu đang qun lý.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
6. Bị cáo quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn
15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019). Người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm
trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyn Văn Triến
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND tỉnh Long An;
- VKSND huyện Đức Huệ;
- Công an huyện Đức Huệ;
- CC.THADS huyện Đức Huệ;
- Bị cáo; Liên quan;
- Hồ sơ THAHS;
- Lưu hồ sơ, án văn;
Tải về
Bản án số 15/2019/HS-ST Bản án số 15/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất