Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 15/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 15/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 15/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đức Huệ (TAND tỉnh Long An) |
| Số hiệu: | 15/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/04/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 12- 4-2019
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC HUỆ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH LONG AN
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Nhanh.
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức
Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia
phiên tòa: Ông Lý Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 02
năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 28
tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
- Nguyễn Thị T - Sinh năm 1999, tại: Long An; nơi cư trú: Ấp, xã T, huyện
Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; dân
tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm
1978 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; có chồng là Ngô Quang V, sinh năm:
1993 và 01 con chung sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi
nơi cư trú theo lệnh số 02 ngày 13/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra; bị cáo tại
ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Thanh L - Sinh năm: 1989 - Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện Đ, tỉnh
Long An. (Vắng mặt không lý do)
2. Ông Chu Văn H - Sinh năm: 1987 - Địa chỉ: Xóm 5, xã L, huyện H, tỉnh
Hà Tỉnh. (Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 26/11/2018, tại ấp 2, xã Q, Công an huyện Đ bắt quả
tang Nguyễn Thị T, điều khiển xe mô tô loại Wave α, màu trắng - đen, biển kiểm soát:
38L1-048.73 không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc phương tiện, nên đã lập biên bản
đưa T cùng phương tiện về cơ quan công an để làm rõ.
Tại cơ quan Công an, T khai nhận: Vào ngày 17/11/2018, khi T đang ở nhà thì có
một đối tượng nữ tên Lê Thị Thanh L, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: ấp V, xã T,
huyện Đ tìm đến hỏi T có việc làm không? Nếu không có việc làm thì chạy xe mô tô do
người khác phạm tội mà có từ khu vực thành phố Hồ Chí Minh về huyện Đ cho L, L sẽ
trả tiền công trót lọt mỗi chuyến là 500.000 đồng. Vì con của T còn nhỏ (sinh năm 2017)
nên T chưa nhận lời ngay. Khoảng 10 giờ ngày 25/11/2018, L điện thoại lại hỏi T có chạy
xe cho L được không? Lúc này do cần tiền tiêu sài nên T nhận lời, L kêu T đón xe buýt
đến khu vực chợ đầu mối Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh) để chờ, sẽ có người đến
giao xe. T nhờ bạn của em gái T, tên Nguyễn Tấn S (sinh năm 1999, hộ khẩu thường trú:
ấp M, xã T, huyện Đ) chở T đến bến xe Hậu Nghĩa để đón xe buýt đi thành phố Hồ Chí
Minh. T nói với S là đi mua đồ cho con của T. Sau khi đến khu vực chợ đầu mối Thủ
Đức, do trời tối và không có xe như dự định, L kêu T tìm chỗ ngủ lại để chờ. Do bản thân
không mang theo chứng minh nhân dân nên T gọi cho một người bạn tên Trần Quang T2
(sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: ấp L, xã N, huyện H, tỉnh Tây Ninh) để mượn chứng
minh nhân dân thuê phòng trọ ngủ lại, đến 03 giờ 00 phút ngày 26/11/2018, L điện thoại
lại nói đã có xe, kêu T ra khu vực chợ đầu mối Thủ Đức đứng chờ, sẽ có người đến giao
xe. Sau đó một thanh niên lạ mặt đến hỏi hai số điện thoại cuối của T, xác nhận là đúng,
người này giao cho T một xe mô tô loại Wave α, màu trắng đen, biển kiểm soát 38L1-
048.73 không có chìa khóa, T điều khiển xe về đến ấp 2, xã Mỹ Quý Tây thì bị bắt quả
tang.
Tang vật tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, nhãn hiệu loại Wave α, màu trắng - đen - bạc,
số khung: RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328.
- 500.000 đồng, là tiền cá nhân của T.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 là phương
tiện T dùng liên lạc với các đối tượng trong quá trình gây án.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2.
Tại kết luận định giá tài sản số 97/KL-TCKH ngày 28/11/2018 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ xác định: 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda, nhãn hiệu loại Wave α, màu trắng - đen - bạc, số khung:
RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328, tình trạng đã qua sử dụng, có
giá trị 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
3
Xử lý tang vật của cơ quan cảnh sát điều tra:
- Quá trình điều tra xác định: 01 xe mô tô (2 bánh) nhãn hiệu loại Wave α, màu
trắng - đen - bạc, số khung: RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328, đã
qua sử dụng, ổ khóa bị phá hỏng, không có chìa khóa, chủ sở hữu được xác định là ông
Chu Văn H, sinh năm: 1987, hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã L, huyện H, tỉnh Hà
Tĩnh. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/11/2018, ông H điều khiển xe của mình đến
phòng trọ của Nguyễn Quang T3 tại địa chỉ: đường số 06, số nhà 59, khu phố N 1,
phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương để xem đá bóng, đến 22 giờ 30 phút cùng
ngày, khi ông H ra về thì phát hiện xe đã bị mất trộm, ông đã đến Công an phường
Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trình báo vụ việc. Xét thấy không ảnh hưởng
đến các hoạt động điều tra tiếp theo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Đức Huệ đã trả lại cho chử sỡ hữu là ông Chu Văn H, theo quyết định xử lý vật
chứng số 11 ngày 17/01/2019 của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đức
Huệ, sau khi nhận lại xe mô tô, ông H không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.
Đối với Trần Quang T2: hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ,
không làm việc được. Ngoài lời khai của bị cáo T thì không có chứng cứ, tài liệu nào
khác chứng minh T2 phạm tội nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xử lý đối với T2, nên
không đề cập.
Đối với Nguyễn Tấn S: S không thừa nhận việc chở T đến bến xe Hậu Nghĩa để
đón xe buýt đi thành phố Hồ Chí Minh, S cũng không biết việc T tham gia vận
chuyển xe mô tô do người khác phạm tội mà có. Ngoài lời khai của bị cáo T thì không
có chứng cứ tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xử lý
đối với đối tượng này, nên không đề cập.
Đối với Lê Thị Thanh L: L không thừa nhận việc có quen biết hay thuê T tham gia
vận chuyển xe do người khác phạm tội mà có. Đã tổ chức đối chất về nội dung mâu thuẩn
trên, nhưng không thu được kết quả. Ngoài lời khai của bị cáo T thì không có chứng cứ
tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xử lý đối với đối
tượng này, nên không đề cập.
Đối với các đối tượng giao xe: do không xác định được nhân thân, lai lịch nên
không mời làm việc được, không có đủ cơ sở chứng minh, nên không đề cập.
Cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐH ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm
sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân
tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
4
Căn cứ: khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 32,
Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xem xét.
- 500.000 đồng, là tiền cá nhân của bị cáo T không liên quan đến quá trình
phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 là
phương tiện T dùng liên lạc với các đối tượng để thực hiện tội phạm, đề nghị tịch
thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2 đề nghị
trả lại cho bị cáo để bị cáo trả lại cho Trần Quang T2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:
1. Ông Chu Văn H vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày đã nhận lại
tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.
2. Bà Lê Thị Thanh L vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày không
có thuê bị cáo T tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do không đủ cở sở
để chứng minh nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào ngày 26/11/2018 (khoảng 3 giờ 00 phút), Nguyễn Thị T đã nhận lời
vận chuyển và tiêu thụ 01 xe mô tô (2 bánh) nhãn hiệu loại Wave α, màu trắng - đen -
bạc, số khung: RLHHC1201BY591280, số máy: HC12E-3391328 do người khác
phạm tội mà có cho một người không rõ địa chỉ (chỉ biết tên L) từ khu vực Chợ
đầu mối quận Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh) về khu vực Tho Mo thuộc xã
M, huyện Đ để tiêu thụ với giá tiền công vận chuyển là 500.000 đồng (bị cáo chưa
nhận tiền công). Khi bị cáo T vận chuyển xe mô tô nói trên đến ấp 2, xã Mỹ Quý
Tây thì bị lực lượng chức năng bắt giữ người cùng tang vật. Qua định giá tài sản xe
mô tô nói trên có giá trị là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) .
[2] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều
tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đức Huệ truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện
đúng và hợp pháp.
5
[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện Đ lập
lúc 08 giờ 00 phút ngày 26/11/2018, kết luận định giá tài sản số 97/KL-TCKH ngày
28/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ và
các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở
đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Nguyễn Thị T phạm vào tội “Tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại
khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 16/CT-VKS-ĐH
ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố
bị cáo Nguyễn Thị T với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy
định của pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi của
bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa mà còn gây trở ngại cho công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình
sự, tạo điều kiện khuyến kích cho những người khác đi vào con đường phạm tội. Bị
cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành
vi trên của bị cáo phải được xử lý nghiêm. Xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự,
có nơi cư trú rõ ràng đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không cần phải
cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa
phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị T trong quá trình xét xử thật thà khai báo,
phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo phải trực tiếp
nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy
định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình
cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
Nguyễn Thị T là có cơ sở theo quy định pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông
Chu Văn H vắng mặt tại phiên toà trong lời khai không yêu cầu nên không đề cập
xem xét. Nếu sau này có phát sinh yêu cầu bồi thường sẽ tách ra giải quyết bằng
một vụ án khác.
[8] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự. Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không
đề cập xem xét.
- 500.000 đồng, là tiền cá nhân của T, không liên quan việc phạm tội nên trả
lại cho bị cáo là phù hợp.

6
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 là
phương tiện T dùng liên lạc với các đối tượng khi lạc thực hiện tội phạm, nên cần
phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2 là bị cáo
mượn để thuê phòng trọ nên trả lại cho bị cáo để bị cáo trả lại cho Trần Quang T2
[9] Đối với bà Lê Thị Thanh L, cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát
không đủ chứng cứ chứng minh có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo
Nguyễn Thị T nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
[9.1] Đối với những người giới thiệu, chủ thuê, người giao nhận xe cho bị
cáo, không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ
quan CSĐT tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử
lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị
cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo qui định của pháp luật.
[10] Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
32, Điều 65 Bộ luật hình sự; Các 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299, Điều 326 Bộ
luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long
An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án treo.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động
hiệu Nokia, loại 1280, số sim 0968.628.224 đã qua sử dụng.

7
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và 01
chứng minh nhân dân số 290866904 mang tên Trần Quang T2.
Tang vật do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn
15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2019). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm
trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Triến
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND tỉnh Long An;
- VKSND huyện Đức Huệ;
- Công an huyện Đức Huệ;
- CC.THADS huyện Đức Huệ;
- Bị cáo; Liên quan;
- Hồ sơ THAHS;
- Lưu hồ sơ, án văn;
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm