Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 20/05/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 20/05/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 14/2024/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 20 tháng 5 năm 2024
V/v: “Xin ly hôn và tranh chấp chia tài
sản trong thời kỳ hôn nhân”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh.
Ông Lê Hoàng Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong các ngày 08 và ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân
gia đình thụ lý số: 34/2023/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc:
“Xin ly hôn và tranh chấp chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân”.
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 110/2023/HNGĐ-ST ngày
31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1120/2024/QĐ-PT ngày
16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế C (Nguyễn Cường T, C1), sinh năm 1963;
vắng mặt.
Địa chỉ: G, D, Richmond V, USA.
Địa chỉ đăng ký thường trú: Tổ B, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Hoàng L, sinh năm 1991.
Địa chỉ thường trú: Tổ D, Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ liên lạc:
1796 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 13/10/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Văn D –
Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt ngày 08/5, vắng mặt ngày
20/5.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1985; vắng mặt.
2
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng
Nai. Nơi tạm trú: Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Châu Thị Thảo L1, sinh năm 1994. Địa
chỉ: Số B N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 03/5/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Châu Văn T1 -
Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
3. Do có kháng cáo của:
3.1. Ông Nguyễn Thế C - Là nguyên đơn;
3.2. Bà Nguyễn Thị Thu N - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nguyên đơn ông Nguyễn Thế C (Nguyễn Cường T, C1) và người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn (về phần tranh chấp chia tài sản chung) trình
bày:
Ông C và bà Nguyễn Thị Thu N kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
An Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 06/3/2018. Sau khi
đăng ký kết hôn ông và bà N thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng, không tìm được
tiếng nói chung khiến cả hai đều cảm thấy chán nản, mệt mỏi. Cả hai đã sống ly
thân từ năm 2019 cho đến nay và không còn liên lạc gì với nhau nữa. Ông cảm thấy
không còn tình cảm với bà N, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân
không đạt được do đó ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu N. Về con
chung: Không có; Về nợ chung: Không có.
Về tài sản: Nguồn gốc nhà và đất có diện tích 301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93,
tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai là do ông C nhận chuyển nhượng từ
năm 2014 của vợ chồng ông Hoàng Văn T2 và bà Nguyễn Đình Huyền T3 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 443456 do Ủy ban nhân dân huyện L
cấp ngày 28/3/2011 với giá trị chuyển nhượng là 20.000 USD (tương đương
380.000.000đ) nhưng do tại thời điểm đó, ông chưa làm thủ tục nhập quốc tịch và
đăng ký thường trú tại Việt Nam nên không làm thủ tục sang tên mà vẫn để ông T2
và bà T3 đứng tên giùm.
Ông C là người đã liên hệ Công ty cổ phần T7 để thực hiện việc thiết kế và
xây dựng nhà. Việc xin giấy phép xây dựng do ông T2 là người nộp hồ sơ. Sau đó,
ông T2, bà T3 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ
cấp ngày 08/9/2015.
Đến tháng 3 năm 2018, ông C kết hôn với bà N nên ông T2 và bà T3 mới lập
hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho bà N và làm thủ tục sang tên cập nhật
thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018 trên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
3
Tuy bà N là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
bà N cũng xác định đây là tài sản riêng của ông C và đã lập bản cam kết ngày
13/8/2018 xác định nhà, đất trên là tài sản riêng của ông C tại Công ty TNHH MTV
T8. Do vậy, nhà và đất nói trên là tài sản riêng của ông C. Ông C đồng ý kết quả
thẩm định giá theo Chứng thư thẩm định giá số: 2871122/CT-TV ngày 08/12/2022
của Công ty cổ phần Đ.
Do đó, ông C yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất có diện tích
301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 08/9/2015
là tài sản riêng của ông C do bà N đứng tên dùm trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và đề nghị bà N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông
C.
- Theo bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N và người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn (về phần tranh chấp chia tài sản chung) trình bày:
Bà N và ông C chung sống với nhau từ năm 2014 nhưng đến năm 2018 mới
đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy
chứng nhận kết hôn số 11 ngày 06/3/2018. Tuy nhiên, sau khi đăng ký kết hôn bà
và ông C chung sống với nhau thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng, cuộc sống vợ
chồng ngày càng lạnh nhạt, không có sự quan tâm, chăm sóc chia sẻ lẫn nhau, mục
đích hôn nhân không đạt được. Nên bà N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông C.
Về con chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, bà N và ông C có tạo lập được
tài sản chung là nhà và đất có diện tích 301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số
70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 08/9/2015 cho ông Hoàng Văn T2, đã được
cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018. Bà N
sinh sống tại căn nhà gắn trên thửa số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng
Nai từ năm 2014. Đến đầu năm 2020 khi phát sinh mâu thuẫn ông C đánh đập và
đuổi bà N ra khỏi nhà nên bà về tạm trú tại nhà cha mẹ ruột tại ấp L, xã L, huyện C,
tỉnh An Giang.
Khi ly hôn bà N yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của bà N và ông C là
nhà, đất nêu trên và bà yêu cầu được nhận nhà, đất và bà N thanh toán lại ½ giá trị
nhà, đất trên theo Chứng thư thẩm định giá số: 2871122/CT-TV ngày 08/12/2022
của Công ty cổ phần Đ cho ông C vì ông C là người nước ngoài không đủ điều kiện
để sở hữu nhà tại Việt Nam và hiện nay bà N không có nhà nào khác mà hiện đang
phải thuê nhà để ở.
- Người làm chứng ông Phan Hoàng T4 và bà Nguyễn Đình Huyền T3 trình
bày:
Ông T4 và ông C là anh em bà con cô bác. Vào năm 2014, ông bà chuyển
nhượng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích
301,7m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
4
khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp
ngày 08/9/2015 cho ông Hoàng Văn T2. Tại thời điểm chuyển nhượng, do ông C là
người nước ngoài nên không làm thủ tục sang tên mà nên vẫn nhờ vợ chồng ông bà
đứng tên giùm, việc này chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Đến năm 2018,
ông C kết hôn với bà N nên yêu cầu vợ chồng ông bà sang tên thửa đất trên cho bà
N và sau đó bà N được cập nhập thay đổi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu
N ngày 28/8/2018 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530. Việc ông C và bà N thỏa thuận nhà, đất
trên là tài sản riêng của ông C tại Văn phòng luật sư như thế nào thì ông bà không
có mặt nên không biết. Nay ông, bà không liên quan đến vụ án nên đề nghị được
vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
- Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 110/2023/HNGĐ-ST ngày
31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4
Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 469, Điều 470
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 8, Điều 9, Điều 55, Điều 56, Điều 57
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5 và 169 Luật Đất đai; Điều 7, 8, 159 và
160 Luật nhà ở năm 2014; Điều 131, 166, 224, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số: 02/2016 được
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016
và được công bố theo Quyết định số: 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc công nhận tài sản riêng của nguyên đơn
ông Nguyễn Thế C; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N.
Ông Nguyễn Thế C được quyền quản lý, sử dụng nhà và đất có diện tích
301,7m2 toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Bà N phải trả lại cho ông C bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 08/9/2015, thay đổi cập nhật chuyển
nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018. Ông C được quyền liên hệ Cơ
quan quản lý đất đai huyện L cập nhật, chỉnh lý lại tên người sử dụng theo quy định
pháp luật.
Ông Nguyễn Thế C phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu N số tiền
995.735.936 đồng (chín trăm chín mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi lăm ngàn chín
trăm ba mươi sáu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn
Thế C (Nguyễn Cường T, C1) được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu N; về con chung:
Không có; về tài sản chung và nợ chung: Không có; về án phí sơ thẩm; về lãi suất
chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
5
- Ngày 06/9/2023, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N
kháng cáo kháng cáo Bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết
công nhận cho bà được sử dụng nhà và đất vì hiện nay bà không có chỗ ở nào khác,
bà N đồng ý chia ½ giá trị nhà đất cho ông C.
- Ngày 10/9/2023, ông Nguyễn Thế C là nguyên đơn kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định căn nhà và đất thuộc quyền sở
hữu riêng của ông C. Ông C không đồng ý áp dụng Án lệ số 02 để chia công sức
cho bà N theo như Bản án sơ thẩm đã xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Ông Bùi Hoàng L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông C
trình bày ý kiến: Giữ nguyên kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm yêu cầu xác định căn nhà và đất thuộc quyền sở hữu riêng của ông
C, ông C không đồng ý chia công sức cho bà N theo như Bản án sơ thẩm đã xử bởi
vì ông C mua đất và xây dựng nhà vào năm 2015 lúc này ông C và bà N chưa
chung sống với nhau, đến năm 2017 ông C mới quen biết bà N. Hơn nữa, bà N
không có công việc ổn định và không chứng minh được có thu nhập, bà N có lập
giấy cam kết ngày 13/8/2018 xác định tài sản riêng của ông C. Tại cấp phúc thẩm
ông C cung cấp giấy xác nhận của người làm chứng xác định ông C là người mua
đất và xây dựng nhà vào năm 2014.
- Bà Châu Thị Thảo L1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn
Thị Thu N có ý kiến: Giữ nguyên kháng cáo Bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm giải quyết công nhận nhà và đất diện tích 301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93,
tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của bà N và
ông C bởi vì nhà và đất do bà N và ông C mua đất và xây dựng vào năm 2014, bà N
là người trông coi xây dựng nhà, sau đó bà N trực tiếp quản lý sử dụng nhà còn ông
C thì sinh sống tại Mỹ, thỉnh thoảng về Việt Nam. Việc bà N làm giấy cam kết
ngày 13/8/2018 về tài sản là theo hướng dẫn của luật sư để làm thủ tục do ông C
bảo lãnh bà đi nước ngoài. Nhưng sau đó thủ tục bảo lãnh không thành. Đến đầu
năm 2020 phát sinh mâu thuẫn và ông C đuổi bà N ra khỏi nhà. Nay bà N yêu cầu
giải quyết cho bà được quyền sở hữu căn nhà và được quyền sử dụng đất diện tích
301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai
vì hiện nay bà N không có chỗ ở nào khác, bà N đồng ý chia ½ giá trị nhà, đất cho
ông C theo chứng thư thẩm định giá tại cấp sơ thẩm đã định giá.
Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn bà N có ý kiến: Tòa án sơ thẩm
đánh giá chưa khách quan về quá trình tạo lập tài sản căn nhà và đất vì ông C và bà
N sống chung với nhau từ năm 2013, sau mua đó mua đất của ông T2 là em bà con
của ông C. Năm 2018, ông C thống nhất để ông T2 và bà T3 lập hồ sơ chuyển
nhượng sang cho bà N và bà N đã được cập nhật sang tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà N: Xác định diện tích 301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số
70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà trên đất là tài sản chung của ông
C và bà N, giao cho bà N được được quyền sở hữu căn nhà và được quyền sử dụng
đất diện tích 301,7m
2
toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L,
tỉnh Đồng Nai, bà N đồng ý chia ½ giá trị nhà, đất cho ông C.
6
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp Luật Tố tụng
dân sự; Đơn kháng cáo của ông C, bà N hợp lệ đủ điều kiện để giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Có căn cứ xác định căn nhà và diện tích 301,7m
2
đất
ở nông thôn + cây lâu năm thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L,
tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của ông C và bà N. Do đó, đề nghị áp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bà N và
không chấp nhận kháng cáo của ông C, sửa án sơ thẩm giao cho ông C được sở hữu
căn nhà và quyền sử dụng đất diện tích 301,7m
2
đất thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số
70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Buộc ông C chia cho bà N ½ giá trị nhà,
đất theo chứng thư thẩm định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thế C và đơn kháng cáo của
bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N đều làm trong thời hạn luật định, hợp lệ đủ điều kiện
để xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tài sản tranh chấp diện tích 301,7m
2
đất ở nông thôn + cây lâu năm thuộc
thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà được
xây dựng trên thửa đất số 93 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 08/9/2015 cho ông Hoàng Văn T2, thay đổi cập nhật
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018.
Theo trích lục đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính do Văn phòng đăng
ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã xác định thửa đất số 93, tờ bản
đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai diện tích 301,7m
2
. Mục đích sử dụng
đất ở nông thôn: 100m
2
; đất trồng cây lâu năm 201,7m
2
.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thế C và người đại diện theo ủy quyền của ông C
khai căn nhà và đất nêu trên là tài sản riêng của ông C được tạo lập trước thời kỳ
hôn nhân nên yêu cầu Tòa án công nhận là tài sản riêng của ông và không đồng ý
chia cho bà N khi ly hôn.
Còn bị đơn bà N và người đại diện theo ủy quyền của bà N thì khai rằng bà N
và ông C chung sống vợ chồng từ năm 2013. Đến năm 2014 mới mua diện tích
301,7m
2
đất toạ lạc tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng
Nai và cất nhà. Khi cất nhà bà N là người đứng ra trông coi việc xây dựng và bà đã
đăng ký tạm trú tại căn nhà từ năm 2014, nhưng đến năm 2018 bà và ông C mới
đăng ký kết hôn. Đối với “Giấy cam kết” ngày 13/8/2018 bà Nguyễn Thị Thu N ký
tên là do khi làm thủ tục để ông C bảo lãnh bà N đi nước ngoài định cư tại Hoa Kỳ
theo diện kết hôn thì Luật sư hướng dẫn bà lập giấy xác nhận không còn tài sản ở
Việt Nam để thuận tiện trong việc bảo lãnh nên bà N mới ký tên vào “Giấy cam
7
kết” do luật sư đã đánh máy. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên
ông C không bảo lãnh bà đi định cư ở Mỹ mà còn xin ly hôn, vì vậy khi ly hôn, bà
N yêu cầu chia đôi tài sản chung của vợ chồng là căn nhà và diện tích 300m
2
thuộc
thửa số 1563 (cũ), tờ bản đồ số 8 (cũ), thửa mới 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L,
tỉnh Đồng Nai.
Chủ đất cũ tên ông Phan Hoàng T4 và bà Nguyễn Đình Huyền T3 khai vào
ngày 28/3/2014 có bán cho ông C 300m
2
thuộc thửa số 1563 (cũ), tờ bản đồ số 8
(cũ), thửa mới 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L. Cùng ngày 28/3/2024 ông C có
nhờ ông T5 nộp hồ sơ xin giấy phép xây dựng một căn nhà trên thửa đất. Ngày
08/9/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hoàng Văn
T2 và bà Nguyễn Đình Huyền T3 đứng tên. Đến năm 2018, ông C có đăng ký kết
hôn với bà N nên ông C yêu cầu ông T2 sang tên cho bà N đối với diện tích
301,7m
2
đất thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai tại
Văn phòng công chứng Thống Nhất tỉnh Đ, sau đó đã cập nhật chuyển nhượng cho
bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018. Việc ông C và bà N thỏa thuận nhà, đất là
tài sản riêng của ông C như thế nào thì ông bà không biết.
Xét thấy ông T2, bà T3 có quan hệ bà con với ông C nên lời khai của ông T2
và bà T3 chưa đảm bảo khách quan nên không đủ căn cứ để xác định diện tích
301,7m
2
đất thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 70, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai
và căn nhà gắn trên đất là tài sản riêng của ông C.
[3] Quá trình thu thập chứng cứ tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông C và bị đơn
bà N đều thống nhất khai thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất tọa lạc
tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của
ông Hoàng Văn T2, bà Nguyễn Đình Huyền T3 vào năm 2014, sau đó xây dựng
căn nhà trên thửa đất số 93.
Ông C khai việc mua đất và xây dựng nhà trước khi kết hôn với bà N nên căn
nhà và thửa đất số 93, tờ bản đồ số 70 tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng
Nai tài sản riêng của ông C.
Còn bà Nguyên k bà và ông C chung sống với nhau từ năm 2013, đến năm
2014 mới mua đất và cất nhà ở, năm 2015 mới làm thủ tục hợp thức hóa nhà nhưng
do xây dựng nhà không hợp pháp nên ông T2 chỉ được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Đến năm 2018 sau khi bà N và ông C đăng ký kết hôn, ông C thống
nhất để ông T2 lập hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N đứng tên
quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng.
Tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông C có cung cấp 03
Văn bản xác nhận của người làm chứng cư ngụ tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng
Nai có cùng nội dung: “Ông C là Việt kiều Mỹ, ông C đến đây mua đất xây dựng
nhà từ năm 2014, ông C là người trực tiếp xây dựng nhà và sử dụng từ năm 2014
đến nay, ngoài ông C ra tôi không thấy người khác sinh sống trong căn nhà nêu
trên”.
Xét thấy 03 Văn bản xác nhận của người làm chứng do đại diện của nguyên
đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm đều được đánh máy với cùng một nội dung
và ghi cùng ngày 17/5/2024, trên văn bản xác nhận chỉ có chữ ký và ghi họ và tên
8
của người lập văn bản xác nhận. Tuy nhiên, văn bản xác nhận không có chứng thực
của chính quyền địa phương về chữ ký và nơi cư trú của người lập Văn bản xác
nhận, đồng thời nội dung xác nhận của người làm chứng và cũng không phù hợp
với lời khai của ông C đã khai tại phiên tòa sơ thẩm. Tại biên bản phiên tòa sơ
thẩm (bút lục 257-259) ông C khai có nội dung: “Tôi mua thửa đất 93 vào năm
2014, sau đó xin giấy phép và xây dựng nhà đến gần cuối năm 2015 mới hoàn
thành, năm 2016 và năm 2017 bà N có về ở tại căn nhà này, tôi không thường
xuyên ở tại căn nhà này mà đi về đến năm 2021 tôi mới về Việt Nam ở và được cấp
căn cước công dân, tôi dự định sẽ qua Mỹ (Hoa Kỳ)”. Vì vậy, không có căn cứ để
chấp nhận lời khai của những người làm chứng theo văn bản xác nhận ngày
17/5/2024 do bên nguyên đơn đã giao nộp.
Xét lời khai của ông C thừa nhận việc và N có về ở tại căn nhà trên thửa đất số
93 tại ấp H, xã P vào năm 2016-2017 phù hợp với xác nhận thông tin về cư trú của
Công an xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được người đại diện theo ủy quyền của
bà N cung cấp chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm. Theo xác nhận thông tin về cư trú
của Công an xã P đã xác nhận “ bà Nguyễn Thị Thu N có đăng ký tạm trú tại xã P
từ 01/01/2014 đến ngày 08/10/2018, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ B, ấp H,
xã P, huyện L”. Ngoài ra, bị đơn bà N có cung cấp các hình ảnh do bà N chụp tại
căn nhà vào thời điểm tổ chức mừng tân gia nhà mới. Điều này phù hợp với lời
khai của bà N về việc bà N và ông C có nhận chuyển nhượng đất của ông T2, bà T3
sau đó xây dựng nhà trên thửa đất 93 để ở, phù hợp với lời khai của ông C: “Năm
2016 và năm 2017 bà N có về ở tại căn nhà này”.
[4] Đối với “Giấy cam kết” ngày 13/8/2018 có chữ ký của bà N có nội dung
xác định thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất tọa lạc tại ấp H, xã P,
huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà trên đất là tài sản của ông C, bà N không có bất
cứ quyền gì đối với tài sản này.
Xét thấy: “Giấy cam kết” được đánh máy và được ký xác nhận của giám đốc
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8 (bút lục 99-100). Bà Nguyên khai
vào ngày 08/3/2018, khi ông C muốn bảo lãnh bà sang Mỹ định cư nên có nhờ
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8 làm thủ tục bảo lãnh, sau đó luật sư
của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8 hướng dẫn bà làm xác nhận
không có tài sản để nhằm mục đích hợp thức hóa làm thủ tục đi xuất cảnh nên bà N
mới ký vào Giấy cam kết ngày 13/8/2018. Ông C cũng có lời khai tại phiên tòa sơ
thẩm xác nhận ông có nhờ luật sư của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
T8 làm thủ tục bảo lãnh bà N xuất cảnh theo diện kết hôn, nên luật sư có giải thích
muốn có công chứng cho bà N đứng tên mà tài sản vẫn thuộc của ông C nên ông C
đồng ý để bà N đứng tên nhận chuyển nhượng thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện
tích 301,7m
2
đất tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong hồ sơ vụ án có thể hiện một hợp đồng dịch vụ ngày 08/3/2018 (bút lục
171) do công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8 ký hợp đồng dịch vụ nhận
thực hiện hướng dẫn thủ tục bảo lãnh định cư USA diện kết hôn cho bà Nguyễn Thị
Thu N.
Như vậy, việc ông C và bà Nguyên k có nhờ công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên T8 nhận thực hiện thủ tục bảo lãnh định cư USA diện kết hôn cho bà
9
Nguyễn Thị Thu N là có thật. Tuy nhiên, trong quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án
cấp sơ thẩm có triệu tập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8 về việc bà
N đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nội dung văn bản cam kết ngày
13/8/2028 để làm rõ lời khai của ông C, bà N nhưng Công ty T8 vắng mặt. Nguyên
đơn ông C cũng không cung cấp được địa chỉ của Công ty T8 để Tòa án xác minh
các tài liệu và chứng cứ do nguyên đơn ông C xuất trình. Tại Văn bản số:
134/2023/CV-ĐLS ngày 27/5/2023 (bút lục 185) của Đoàn luật sư tỉnh Đ xác định
Đoàn luật sư tỉnh Đ không có tên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T8.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy
định: “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” và khoản 3 Điều 33
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có căn cứ
để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi
bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Đối chiếu với quy định trên, do không có đủ căn cứ xác định và căn được xây
dựng trên thửa đất 93 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 08/9/2015 cho ông Hoàng Văn T2, thay đổi cập nhật chuyển
nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018 là tài sản riêng của ông C. Cho
nên thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất ở nông thôn + cây lâu năm
tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn nhà được xây dựng trên đất
được coi là tài sản chung của vợ chồng ông C và bà N.
[5] Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng
vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng
trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”.
Do đó, thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất ở nông thôn + cây
lâu năm tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và căn được xây dựng trên
đất được giải quyết chia đôi theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy ông C và bà N đều có yêu cầu được sử dụng căn nhà và thửa đất số
93. Tuy nhiên, xét hiện nay ông C về Việt Nam và sinh sống tại căn nhà trên thửa
đất 93; ông C không có chỗ ở nào khác. Đối với bà N sau khi vợ chồng phát sinh
mâu thuẫn, bà N về sinh sống tại nhà mẹ ruột tại địa chỉ ấp L, xã L, huyện C, tỉnh
An Giang. Vì vậy, nên giao cho ông C được quyền sử dụng thửa đất 93, tờ bản đồ
số 70, diện tích 301,7m
2
đất tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và sở
hữu căn nhà có trên đất, buộc ông C có trách nhiệm chia cho N ½ giá trị căn nhà và
thửa đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất là phù hợp và có đảm bảo quyền
lợi cho các bên đương sự.
Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 17/11/2022 (bút lục 142-143) đã xác định
trên thửa đất số 93 có căn nhà cấp 4 (xây dựng năm 2014) có kết cấu bê tông cốt
thép sàn bê tông cốt thép lót gạch, tường xây gạch, mái lợp tole, trần thạch cao. Tại
10
chứng thư thẩm định giá ngày 08/12/2022 của Công ty cổ phần định giá và đầu tư
kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng huyện Đ, Thành phố Hồ Chí Minh đã thẩm
định giá quyền sử dụng đất ở + cây lâu năm diện tích 301,7m
2
thành tiền là:
2.371.471.437 đồng; giá trị công trình xây dựng trên đất thành tiền là 782.478.563
đồng. Tổng cộng: 3.153.950.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự
không có yêu cầu định giá lại tài sản. Do đó, buộc ông C có trách nhiệm chia cho
bà N ½ giá trị căn nhà và diện tích đất bằng số tiền là: 1.576.975.000 đồng là có
căn cứ.
Từ những nhận định trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bà N, không
chấp nhận kháng cáo của ông C. Sửa án sơ thẩm: Xác định diện tích 301,7m
2
đất ở
nông thôn + cây lâu năm thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh
Đồng Nai và căn nhà cấp 4 có kết cấu bê tông cốt thép sàn bê tông cốt thép lót
gạch, tường xây gạch, mái lợp tole trần thạch cao được xây dựng trên thửa đất số
93 là tài sản chung của ông C và bà N. Giao cho ông C được quyền sử dụng thửa
đất 93, tờ bản đồ số 70, diện tích 301,7m
2
đất ở nông thôn + cây lâu năm thuộc thửa
số 93, tờ bản đồ số 70, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai và được quyền sở hữu căn nhà
có trên đất kết cấu nhà cấp 4 bê tông cốt thép sàn bê tông cốt thép lót gạch, tường
xây gạch, mái lợp tole trần thạch cao. Buộc ông C có trách nhiệm chia cho N ½ giá
trị tài sản căn nhà và diện tích đất với tổng số tiền là: 1.576.975.000 đồng.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông C và chấp nhận
kháng cáo của bà N sửa bản án sơ thẩm buộc ông C có trách nhiệm chia cho bà N
½ giá trị tài sản nhà, đất theo chứng thư thẩm định giá là phù hợp với nhận định
trên.
[7] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên án phí sơ thẩm được xác định lại: Theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: “a) Trường hợp tranh
chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án phải
xác định giá trị của tài sản hoặc xác định quyền sở hữu quyền sử dụng đất theo
phần thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp vụ án có giá
ngạch đối với phần giá trị mà mình được hưởng”. Nhưng xét ông C là người cao
tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Bà N phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm là 59.309.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên các đương sự không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân tuyên xử
cho ông Nguyễn Thế C được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu N; về con chung và về
nợ chung; về chi phí định giá đo đạc, thẩm định giá; về lãi suất chậm thi hành án
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
11
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thế C;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N.
2. Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 110/2023/HNGĐ-ST
ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về chia tài sản chung:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thế C và chấp
nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N về việc xác định
tài sản riêng, tài sản chung:
Công nhận diện tích 301,7m
2
đất ở tại nông thôn + cây lâu năm thuộc thửa số
93, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Hoàng Văn T2 ngày 08/9/2015, thay đổi
cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018 và căn nhà cấp
4 có kết cấu bê tông cốt thép, sàn bê tông cốt thép lót gạch, tường xây gạch, mái
lợp tole trần thạch cao được xây dựng trên thửa đất số 93 là tài sản chung của ông
Nguyễn Thế C và bà Nguyễn Thị Thu N.
2.2. Giao cho ông Nguyễn Thế C được quyền sử dụng diện tích 301,7m
2
đất ở
tại nông thôn + cây lâu năm thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại ấp H, xã
P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp
cho ông Hoàng Văn T2 ngày 08/9/2015, thay đổi cập nhật chuyển nhượng cho bà
Nguyễn Thị Thu N ngày 28/8/2018 và ông C được quyền sở hữu căn nhà cấp 4 có
kết cấu bê tông cốt thép sàn bê tông cốt thép lót gạch, tường xây gạch, mái lợp tole
trần thạch cao được xây dựng trên thửa đất số 93 (kèm theo trích lục đo vẽ hiện
trạng khu đất bản đồ địa chính).
- Buộc ông Nguyễn Thế C có nghĩa vụ chia cho bà Nguyễn Thị Thu N ½ giá
trị của căn nhà và diện tích đất tại thửa số 93, tờ bản đồ số 70, tọa lạc ấp H, xã P,
huyện L, tỉnh Đồng Nai bằng tổng số tiền là: 1.576.975.000 đồng (một tỷ năm trăm
bảy mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
2.3. Buộc bà Nguyễn Thị Thu N có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Thế C
bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
BY 487530 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Hoàng Văn T2
ngày 08/9/2015, thay đổi cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu N ngày
28/8/2018.
Ông C có quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp
luật.
12
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Thế C được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông
Nguyễn Thế C số tiền nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 600.000 đồng (sáu trăm ngàn
đồng) theo biên lai thu số 0003862 ngày 05/6/2020 và biên lai thu số 0000358 ngày
28/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Bà Nguyễn Thị Thu N phải nộp 59.309.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 12.000.000 đồng (mười hai
triệu đồng) theo biên lai thu số 0002445 ngày 13/11/2020 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Nai. Bà Nguyễn Thị Thu N còn phải nộp 47.309.000 đồng (bốn mươi
bảy triệu ba trăm lẽ chín ngàn đồng) án phí.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu N số tiền nộp tạm ứng án phí phúc
thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002001 ngày
15/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
5. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân tuyên xử cho
ông Nguyễn Thế C được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu N; về con chung và về nợ
chung; về chi phí định giá đo đạc, thẩm định giá; về lãi suất chậm thi hành án
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm
2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng