Bản án số 14/2022/HNGĐ-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2022/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 14/2022/HNGĐ-PT ngày 29/06/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 14/2022/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không công nhận là vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn T với bà Lương Thị N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH M ĐỒNG
Bản án số: 14/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 29 - 6 - 2022
V/v: Không công nhận vợ chồng.
CỘNG A XÃ HI CH NGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯC CỘNG HÒA HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nguyệt
Bà Lê Thị Vân
- Thư ký phiên t: Ông Nguyễn Duy Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2022/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 3
năm 2022 về việc “Không công nhận vợ chồng”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 76/2021/HNGĐ-ST ngày
22/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm bị kháng cáo và có kháng nghị.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 84/2022/-PT ngày 25/4/2022
Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2022/QĐ-PT ngày 08/6/2022, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn 6, Lộc
Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bđơn: Lương Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn 3, Lộc Tân,
huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền về phần tranh chấp tài sản: Anh Bùi Công T1,
sinh năm 1995; địa chỉ: số M đường N, phường S, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Hoàng Minh D, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn T, phường L,
TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
2
3.2. Ông K’B, sinh năm 1986 Ka D, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn B,
xã L, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông T, bà N, ông T1 có mặt; ông D, ông K’B, bà Ka D vắng mặt).
- Người kháng o: Bà Lương Thị N Bị đơn.
Quyết định kháng nghị số: 01/KN-VKS-DS ngày 05/01/2022 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2019, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa
nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Sau khi ly hôn với vợ đầu là bà Trần Thị V, năm
2012 ông T đến sinh sống như vợ chồng với Lương Thị N vào ngày 24/12/2014
tại phòng trọ riêng của N thuộc phường 2, thành phố Bảo Lộc; thời điểm này
N đang sống ly thân, chưa ly hôn. Đêm 30/12/2014 ông T làm 01 mâm cơm
tại nhà ông Lương Văn Liêm anh cả của N, tại đây toàn bộ anh em của
N tham dự; ông điện thoại trực tiếp cho bố của bà N ngoài bắc xin được
sống chung với N thì bố bà N đồng ý. Sau khi về phòng trọ ông cũng làm 01
mâm cơm anh em của N những người cùng dãy trọ tham dự nhưng không
ông Liêm. Tháng 3/2016 ông T, N dời về phòng trọ nhà bà Tám sau Quỹ
tín dụng phường 2, thành phố Bảo Lộc tại đây ông T, N đăng tạm trú
theo quy định. Ngày 19/7/2016, bà N ly hôn với chồng đến tháng 12/2016 cả hai
dời về thuê trọ tại số nhà H P, phường H, thành phố Bảo Lộc. Quá trình chung
sống ông T làm vườn còn N làm công nhân đến tháng 3/2017 tphát sinh mâu
thuẫn do N không chịu đăng kết hôn sinh con n N tự dọn ra thuê
trọ riêng cho đến nay.
Do ông T và N sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn
nên ông T yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà N là vợ chồng.
2. Vtài sản chung: Quá trình chung sống ông T N thỏa thuận sang
nhượng chung 01 lô đất tại thôn B, xã L, huyện Bảo Lâm của vợ chồng ông K’B
và bà Ka D với giá 410.000.000 đồng nhưng để bà N đứng tên mua bán và đứng
tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ). Cụ thể: trước ngày
06/9/2016 ông bà N đến nvợ chồng ông K’B Ka D đặt cọc 10.000.000
đồng (ông T góp 5.000.000 đồng, bà N góp 5.000.000 đồng từ tiền mượn của anh
trai Lương Văn L); việc đặt cọc không lập giấy tờ với nhau. Ngày 06/9/2016,
trước khi đến nhà vợ chồng ông K’B Ka D ông T đưa cho N
200.000.000 đồng để cùng nhau đến đặt cọc đất lần 2; tại nhà vợ chồng ông K’B
Ka D ông T người trực tiếp đưa cho vợ chồng ông K’B Ka D
200.000.000 đồng rồi ông T viết Đơn xin chuyển nhượng đất ngày 06/9/2016 có
nội dung “Ngày 06/9/2016, chị Lương N đã đặt cọc tiền đất cho vợ chồng tôi với
số tiền cọc 210.000.000đ. Số tiền còn lại chị Lương Minh N hẹn khi nào tôi giao
3
sổ cho chị Lương Minh N thì chị Lương Minh N sẽ giao hết số tiền còn lại
200.000.000đ”.
Do đất của người Dân tộc chuyển nhượng cho người Kinh skhông làm
được GCNQSDĐ nên các bên thống nhất nhờ ông Nguyễn Hoàng Minh D
người quen của Ka L (mẹ của ông K’B) đứng ra là người chuyển nhượng đất
và chịu trách nhiệm đăng ký kê khai để cấp GCNQSDĐ đứng tên bà N.
Ông T và bà N cùng nhau canh tác, quản lý, sử dụng lô đất trên đến khoảng
tháng 3/2017 ông T không canh tác, quản lý, sử dụng nữa do N quan hệ với
người đàn ông khác nên ông T bực tức đã dùng cưa tay cưa, bẻ cây phê trên
thửa đất sang nhượng chung với N bị khởi tố bắt giam về tội cố ý làm
hỏng tài sản. Do khi sang nhượng đất đã thống nhất để N đứng tên và không
chứng cứ nào chứng minh thửa đất trên ông sang nhượng chung với N
nên ông đã nhờ ông D viết cho ông tờ giấy xác nhận ông giao 200.000.000
đồng cho ông D để nhận 02 GCNQSDĐ gồm thửa 277, 278 vào ngày 23/01/2017
nhằm chứng minh các thửa đất này ông sang nhượng chung với bà N để kêu oan.
Tuy nhiên, việc kêu oan không được chấp nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác nhận thực tế người sang nhượng đất là vợ
chồng ông K’B Ka D chứ không phải ông D; người nhận 02 GCNQSDĐ
đưa 200.000.000 đồng còn lại cho vợ chồng ông K’B N chứ không phải
ông.
Do đây tài sản chung của ông N nên ông T yêu cầu được chia ½
quyền sử dụng đất tài sản trên đất, ông có nguyện vọng được nhận thửa 278 và
đồng ý thanh toán công sức đóng góp, quản lý, tôn tạo tài sản trên cho N với
số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi trừ số tiền trên ông không yêu cầu N thanh
toán phần giá trị chênh lệch.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá hết
20.748.000 đồng, ông T đã nộp tạm ứng xong và đnghị giải quyết theo quy định
của pháp luật.
4. Vcon chung, nợ chung: Ông T trình bày giữa ông N không con
chung, không có nợ chung.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện ông T đã nộp Đơn xin xác nhận ngày
24/2/2018 được UBND Lộc Tân xác nhận ngày 20/3/2018; Đơn xin chuyển
nhượng đất ngày 06/9/2016; Đơn trình bày của ông K’B ngày 17/7/2018; Giấy
viết tay trên tờ lịch về việc giao nhận 200.000.000 đồng 02 GCNQSD đất giữa
ông D với ông T ngày 23/01/2017; Đơn xác nhận của Công an phường 2, thành
phố Bảo Lộc ngày 11/10/2021.
Quá trình giải quyết vụ án N không đến làm việc nên không có bản khai
nào. Tại phiên tòa xét xử ngày 08/10/2021, bà N cho rằng bà không biết ông T là
ai, sau đó thì cho rằng bà và ông T chỉ là bạn bè và cho rằng thửa đất 277, 278 tờ
4
bản đồ 27 L, huyện Bảo Lâm tài sản riêng của bà. Tuy nhiên, tại phiên tòa
ngày 13/12/2021 thì N xác nhận năm 2014 đang ly thân với chồng
sống chung với ông T tại phòng trọ ở phường H thành phố Bảo Lộc; bà và ông T
đăng tạm trú như xác nhận của Công an phường H vào ngày 11/10/2021
nhưng giữa ông T không sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết
hôn nên không đồng ý yêu cầu của ông T về việc không công nhận ông T
là vợ chồng.
Đối với tài sản thì N thừa nhận trước ngày 06/9/2016, ông T đóng
góp mỗi người 5.000.000 đồng để đặt cọc mua thửa đất qua đo đạc được cấp
GCNQSDĐ thửa 277, 278 tờ bản đồ 27 tại thôn B, xã L, huyện Bảo Lâm với
giá chuyển nhượng 410.000.000 đồng như ông T trình bày. Ngày 06/9/2016,
đặt cọc thêm 200.000.000 đồng, ông T người viết giấy cọc ơn xin chuyển
nhượng đất) còn tiền của bà. N cũng xác nhận ông D chỉ người đứng ra
làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, còn chủ đất người sang nhượng đất chính vợ
chồng ông K’B và bà Ka D. Sau khi ông D làm xong thủ tục cấp GCNQSDĐ thì
giao lại cho vợ chồng ông K’B đã nhận 02 GCNQSDĐ trực tiếp từ vợ chồng
ông K’B, bà Ka D rồi giao 200.000.000 đồng chuyển nhượng đất còn lại; hiện bà
đang giữ 02 GCNQSDĐ này. Toàn bộ thửa đất 277, 278 tài sản riêng của
nên bà không đồng ý yêu cầu chia tài sản của ông T cũng như yêu cầu về chi phí
tố tụng ông T đã tạm ứng.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình bà N đã nộp: Bản photo
GCNQSDĐ thửa 277, 278 số hiệu CD 194709, CD 149708; bản photo hợp đồng
tín dụng ngày 20/02/2017; Quyết định thuận tình ly hôn số: 50/2016/QĐST-
HNGĐ ngày 19/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Người đại diện theo ủy quyền của N về phần tài sản là anh T1 thống nhất
với lời trình bày của N đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
chia tài sản của ông T.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2021, vợ chồng ông K’B bà Ka D xác
nhận ông chủ sử dụng thửa đất 277, 278; nguồn gốc đất này của ông
K’Bres khai phá sau đó cho bà Ka Lái sử dụng (Bà Ka Lái là mẹ ông K’B), năm
2008 Ka Lái cho vợ chồng ông sdụng. Năm 2016, do cần tiền làm nhà nên
đã sang nhượng cho ông T N với giá 410.000.000 đồng; trước ngày
06/9/2016 ông T và bà N đặt cọc 10.000.000 đồng; ngày 06/9/2016 đặt cọc thêm
200.000.000 đồng viết giấy cọc ghi ông D người nhận tiền, N người
giao tiền, ông K’B là người làm vườn. Tuy nhiên, thực tế người sang nhượng đất
là vợ chồng ông, bà; người nhận sang nhượng đất là ông T, N còn ông D chỉ
người được Ka Lái nhờ đứng ra làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho N. Ngày
27/9/2021 ông, đơn giải trình xin xét xử vắng mặt nộp ngày 29/9/2021
cho rằng chỉ sang nhượng đất cho N. Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 13/12/2021
thì Ka D khẳng định vợ chồng bà sang nhượng đất cho ông T N; việc
5
ông T để N đứng tên sang nhượng đất thì không . Cthể việc sang nhượng
mua bán đất diễn ra đúng như ông T trình bày tại phiên tòa, cụ thể: Trước ngày
06/9/2016 ông T N đặt cọc 10.000.000 đồng đến ngày 06/9/2016 đặt cọc
thêm 200.000.000 đồng, ông T người trực tiếp viết giấy cọc giao
200.000.000 đồng cho vợ chồng bà; ông D chỉ là người được bà Ka Lái nhờ làm
thủ tục cấp GCNQSD đất. Sau khi ông D giao 02 GCNQSD đất đứng tên N thì
bà N đưa 200.000.000 đồng còn lại và nhận 02 GCNQSD đất nói trên.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/7/2021 và tại phiên tòa sơ thẩm bà Ka Lái
cũng khẳng định thửa đất 277 và 278 của cha ông K’Bres khai phá sau đó
cho vợ chồng bà, năm 2008 bà cho lại vợ chồng ông K’B, bà Ka D; năm 2008 do
cần tiền làm nhà nên vợ chồng K’B chuyển nhượng lại cho ông T, N; bà đã
nhờ ông D là bạn của bà đứng ra làm thủ tục cấp GCNQSD đất đứng tên bà N
nhận tiền ng, ông D không phải là chủ đất, không phải người chuyển nhượng
đất cho ông T, bà N.
Tòa án đã tiến hành công khai tài liệu, chứng cứ hòa giải nhưng không
hòa giải được.
Tại bản án s: 76/2022/HNGĐ-ST ngày 22/12/2021, Tòa án nhân dân huyện
Bảo Lâm đã xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn
T, không công nhận ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị N là vợ chồng.
2. Về tài sản chung:
Công nhận thửa đất 277, 278 tờ bản đồ 27 xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh
Lâm Đồng là tài sản chung của ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị N.
- Giao cho ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có diện
tích 2.418m
2
thuộc thửa đất số 278 tờ bản đồ 27 Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh
Lâm Đồng.
- Giao cho Lương Thị N quyền sử dụng đất tài sản trên đất diện tích
3.777m
2
thuộc thửa đất số 277 tờ bản đồ 27 xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh
Lâm Đồng.
(Kèm theo trích lục thửa đất ngày 24/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện Bảo Lâm).
Buộc bà Lương Thị N giao cho ông Nguyễn Văn T giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của thửa 278 tờ bản đồ 27 Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm
Đồng số hiệu CD 194709 vào sổ cấp GCN số CH02734 ngày 18/01/2017. Ông T
có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động đối với thửa
đất 278 theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
6
Ngày 28/12/2021 bị đơn Lương Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung
bản án sơ thẩm.
Ngày 05/01/2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm ban
hành Quyết định kháng nghị số: 01/KN-VKS-DS ngày 05/01/2022 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên quyết định
kháng nghị số: 01/QĐKN-VKS-DS ngày 05/01/2022 Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bảo Lâm.
Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm và đề nghị giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp
hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa
hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm chấp nhận kháng
cáo của bị đơn N. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản
án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm theo hướng:
Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc
yêu cầu không công nhận ông T và bà N là vợ chồng,
Về phần tài sản: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia ½ quyền sử dụng
đất và tài sản trên đất. Buộc bà N thanh toán cho ông T số tiền ông T đã đưa
là 5.000.000đ tương đương với t lệ giá trị đất theo chứng thư thẩm định giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp
Không công nhận là vợ chồng” theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014, là có căn cứ.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm ông D, ông K’B, bà Ka D đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo
Lâm và kháng cáo của bị đơn bà Lương Thị N thì:
Đơn kháng cáo ca b đơn Lương Th N np trong hn luật đnh, ngưi
kháng cáo, th tc kháng cáo thi hạn kháng cáo theo đúng quy định ti các
Điu 271, 272, 273 B lut T tng dân s.
7
Quyết định kháng ngh ca Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo
Lâm tuân thủ đúng quy định tại các Điều 278, 279, 280 B lut T tng dân s
nên đủ điu kiện để Hội đồng xét x xem xét gii quyết theo th tc phúc thm.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Nguyên đơn ông T cho rằng ông không có đăng ký kết hôn với bà N nhưng
giữa ông N chung sống như vchồng từ ngày 24/12/2014 đến tháng
3/2017. Đchứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình ông T cung cấp 01 đơn
xin xác nhận ngày 11/10/2021 xác nhận của Công an phường 2, thành phố Bảo
Lộc với nội dung: “Ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị N đăng tạm trú tại số
112/2 Nguyễn Công Trứ, P2, TP. Bảo Lc vào ngày 16/3/2016 đến ngày
01/12/2016” (Bút lục 187).
Theo quy định khoản 7, Điều 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì
“Việc chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi
nhau nvợ chồng” tại điểm d, mục 2 Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết số: 35/2000-
QH10 ngày 09/06/2001 hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy
định: “Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ đủ điều
kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên)
chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau
xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ
tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả
hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay t
chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc,
giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”.
Xét nội dung đơn xin xác nhận ngày 11/10/2021 của Công an phường H,
thành phố Bảo Lộc thì thấy rằng: Công an phường H, thành phố Bảo Lộc chỉ xác
nhận ông T, bà N đăng tạm trú tại số M N, P2, TP. Bảo Lộc vào ngày
16/3/2016 đến ngày 01/12/2016. Trong khi đó địa chỉ nhà số M Nguyễn Công Trứ
là nhà trọ nên không thể hiện được ông T và bà N có chung sống và có mối quan
hệ như vợ chồng hay không.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lương Thị N trình bày giữa
8
ông T chỉ là bạn chứ không có việc chung sống với nhau như vợ chồng và cho
rằng lời trình bày của ông T là không đúng sự thật và không có căn cứ.
Ngoài ra, ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác trong
hồ sơ vụ án không còn tài liệu, chứng cứ o khác xác định được quan hệ chung
sống như vợ chồng giữa ông T và bà N.
Do đó, không n cứ đHội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu không công nhận ông Nguyễn Văn T
Lương Thị N vợ chồng.
[3.2] Về tài sản tranh chấp:
Ông T cho rằng thửa đất 278, tờ bản đồ 27, L diện tích 2.418m
2
đất
trồng cây cà phê và thửa 277, tờ bản đồ 27, xã Lộc Tân có diện tích 3.777m
2
đất
trồng cây cà phê và trên đất có 01 căn nhà tạm 63m
2
(Đất đã được UBND huyện
Bảo Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu CD 194709 số
CH02734 ngày 18/01/2017 mang tên Lương Thị N) tài sản chung của ông
T, bà N và yêu cầu chia đôi phần tài sản này.
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2018
(Bút lục 33) thì ông T cho rằng diện tích đất trên ông T N nhận chuyển
nhượng từ ông Nguyễn Hoàng Minh D với giá 410.000.000 đồng, N góp số
tiền 210.000.000 đồng, ông T góp số tiền 200.000.000 đồng.
Theo lời trình bày trong hồ ban đầu ông T xác định trước ngày
06/9/2016 ông đưa cho N 5.000.000 đồng góp để đặt cọc chuyển nhượng
đất và được bà N thừa nhận đối với số tiền này. Đến ngày 06/9/2016 ông T và bà
N đến nhà K’B đặt cọc tiếp số tiền 200.000.000 đồng, do là tiền của N nên khi
viết giấy sang nhượng đất ông T không ghi tên và ông T cũng không ký vào giấy
sang nhượng. Đến khi đi nhận 02 GCNQSDĐ ông T mới giao cho ông Nguyễn
Hoàng Minh D số tiền 200.000.000 đồng. Ông T đã nộp 01 bản chính giấy giao
số tiền 200.000.000 đồng và nhận 02 GCNQSDĐ từ ông D lập ngày 26/12/2017
âm lịch (bút lục 168).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ngày 22/12/2021 ông T thay đổi lời khai và cho rằng
trong tổng số tiền chuyển nhượng đất 410.000.000 đồng thì giữa ông T N
mỗi người góp 205.000.000 đồng và trình bày ngày 09/6/2016 ông T đưa cho
N số tiền 200.000.000 đồng để đặt cọc chuyển nhượng đất cho vợ chồng K’ Biên,
khi đưa tiền do tin tưởng nhau nên không ghi giấy tgì. các đương sự đều
thừa nhận thửa đất 277, 278 tờ bản đồ 27 Lộc Tân là sang nhượng từ v chng
ông K’B, bà Ka D; ông D ch người đứng ra hoàn tt th tục để cấp GCNQSDĐ.
Xét thấy, lời trình bày của ông T về số tiền 200.000.000 đồng thanh toán tiền
chuyển nhượng đất là không thống nhất và không phù hợp với lời khai của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ
vụ án. Ngoài 01 bản chính giấy giao số tiền 200.000.000 đồng nhận 02
9
GCNQSDĐ từ ông D lập ngày 26/12/2017 âm lịch (bút lục 168) thì ông T không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác đchứng cho yêu cầu khởi kiện của
mình là có căn cứ.
Ngoài ra, giấy sang nhượng đất đề ngày 06/9/2016 do ông T viết, chỉ thể
hiện một mình N đứng ra chuyển nhượng đất GCNQSDĐ được cấp chỉ đứng
tên một mình N. Không đồng ý với bản án thẩm, kèm theo đơn kháng cáo
N đã cung cấp các Giấy lĩnh tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân phường 2, thành
phố Bảo Lộc vào các ngày 05 ngày 06/9/2016 để chứng minh khoản tiền
200.000.000 đồng giao cho v chng ông K’B, bà Ka D vào ngày 06/9/2016
tin riêng ca bà N và điều này phù hp vi các tài liu, chng c khác có trong
h sơ vụ án.
Hơn nữa, vào ngày 28/8/2017 do ghen tuông ông T đã chặt phá 350 cây
phê Rôbusta tại các thửa đất 277, 278 tờ bản đồ 27 Lộc Tân nên N đã làm
đơn tố cáo ông T gởi đến Công an huyện Bảo Lâm. Trong quá trình điều tra, truy
tố và xét xử ông T đều khai nhận các thửa đất 277, 278 tờ bản đồ 27 xã Lộc Tân
tài sản riêng của N và tại bản án hình sự thẩm số: 29/2018/HSST ngày
19/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm đã xử phạt ông T 12 tháng tù.
Sau đó, ông T kháng cáo kêu oan và có nhờ ông Nguyễn Hoàng Minh D viết cho
ông T tờ giấy xác nhận lập ngày 26/12/2017 âm lịch nội dung ông T có giao cho
ông D 200.000.000 đồng và nhận 02 GCNQSDĐ để nhằm mục đích kêu oan. Tại
phiên tòa hình sự phúc thẩm ông T không kêu oan mà chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số: 76/2018/HSPT ngày 18/10/2018
a án cấp phúc thẩm đã xử phạt ông T 06 tháng tù.
[3.3] Đối với số tiền 5.000.000 đồng ông T góp khi đặt cọc sang nhượng đất
đưa trước ngày 06/9/2016 thì trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà
N thừa nhận ông Tđưa 5.000.000 đồng trong tổng số tiền đặt cọc 10.000.000
đồng, N cho rằng đã trả số tiền này cho ông T nhưng N không xuất trình
được tài liệu, chứng cđể chứng minh và ông T không thừa nhận. Cần buộc bà N
phải thanh toán cho ông T số tiền 5.000.000 đồng tương đương với tỉ lệ giá trị đất
theo chứng thư thẩm định giá phù hợp (Số tiền 5.000.000 đồng/giá trị chuyển
nhượng 410.000.000 đồng = 1.2%, theo kết quả thẩm định giá thì giá trị đất
1.108.905.000 đồng x 1.2% = 13.306.000 đồng).
[4] Từ những phân tích, nhận định trên xét thấy kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm và kháng cáo của bị đơn N là có căn
cứ một phần nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần. Cần sửa bản
án sơ thẩm theo hướng đã phân tích trên.
[5] V chi phí t tng: Quá trình gii quyết v án ông T đã np tm ng chi
phí xem xét thẩm định, đo vẽ, định giá tài sn hết 20.748.000đ. Do yêu cu khi
kin ca ông T đưc chp nhn mt phn nên c ông T và bà N phi chu s tin
chi phí t tng theo quy định, c th ông T phi chu 20.499.000 đồng; bà N phi
10
chịu 248.900 đồng (làm tròn 249.000 đng). Ông T đã nộp đủ s tin trên nên
buc bà N có nghĩa vụ thanh toán li cho ông T s tiền 249.000 đồng.
[6] V án phí:
Ông T phi chịu 300.000đ án phí v vic yêu cu không công nhn v
chng không được chp nhn phi chu án phí dân s thẩm đối vi phn yêu
cu v tài sn không được chp nhn 1.108.905.000 đồng 13.306.000 đồng =
1.095.599.000 đồng = 44.867.970 đồng (làm tròn 44.868.000 đồng).
Do kháng cáo được chp nhn mt phn nên N không phi chu án phí
dân s phúc thm.
N phi chu án pdân s đối vi phn yêu cu khi kin ca ông T đưc
chp nhn (13.306.000 đồng x 5% = 665.300 đồng) nhưng được tr vào s tin
300.000 đồng N đã np theo biên lai thu tm ng án phí, l phí tòa án s
0004242 ngày 05/01/2022 ca Chi cc thi hành án dân s huyn Bo Lâm. Bà N
còn phi np s tin 365.300 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
huyện Bảo Lâm.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Lương Thị N.
Sửa Bản án Hôn nhân gia đình thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chp nhn yêu cu khi kin ca ông Nguyn
Văn T v vic yêu cu không công nhn ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị N
là v chng.
2. Về tài sản chung:
Không chp nhn yêu cu khi kin ca ông Nguyễn Văn T về việc xác định
thửa đất số 277, 278 tờ bản đồ 27 xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
tài sản chung của ông Nguyễn Văn T và bà Lương Thị N
Buộc Lương Thị N phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn T số tiền
13.306.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm lẻ sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
11
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Nguyễn Văn T phải chu s tin 20.499.000 đồng (Hai mươi triệu
bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng). S tin này ông T đã nộp đ đã được
Tòa án nhân dân huyn Bo Lâm quyết toán xong.
Lương Thị N có nghĩa vụ thanh toán li cho ông T s tiền 249.000 đồng
(Hai trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
4. Về án phí:
Ông T phi chu 44.868.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi
tám nghìn đồng) án phí dân s thẩm nhưng được tr s tin 5.425.000 đồng
(Năm triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tm ng án phí đã nộp ti biên lai
s AA/2016/0012842 ngày 21/3/2019 ca Chi cc thi hành án dân s huyn Bo
Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Ông T còn phi np 39.443.000 đồng (Ba mươi chín triệu
bốn trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
Bà N phi chu 665.300 đồng án phí dân s thẩm nhưng được tr vào s
tiền 300.000 đồng N đã nộp theo biên lai thu tm ng án phí, l phí tòa án s
0004242 ngày 05/01/2022 ca Chi cc thi hành án dân s huyn Bo Lâm. Bà N
còn phi np 365.300 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm nhìn ba trăm đng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Thanh
Tải về
Bản án số 14/2022/HNGĐ-PT Bản án số 14/2022/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất