Bản án số 1331/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1331/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1331/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1331/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Trướng Trí khởi kiện ông Nguyễn Thanh Phong yêu cầu ông Phong trả lại quyền sử dụng đất đã cố.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1331/2026/DS-PT Bản án số 1331/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1331/2026/DS-PT Bản án số 1331/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1331/2026/DS-PT
Ngày 15 - 9 - 2026
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng Quyền sử dụng đất,cầm cố
Quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Các Thẩm phán: Ông Trương Hoài Bình
Ông Nguyễn Chế Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư – Thư ký viên của Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1360/2026/TLPT-DS ngày
21 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và cầm cố quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2026/DS-ST, ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1674/2026/QĐ-PT,
ngày 31 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Trường T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số H, ấp L, xã N,
thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số A, ấp L, xã N,
thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Hứa Văn C, sinh năm 1966.
Địa chỉ: số A, đường T, ấp C, phường M, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số I, ấp L, xã N, thành phố Cần
Thơ (có mặt).
2. Ông Đào Khương N, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số A, ấp L, xã N, thành phố
Cần Thơ (vắng mặt).
2
3. Ông Đặng Văn S, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ
(vắng mặt).
4. Ông Lê Văn S1, sinh năm 1952 (vắng mặt).
5. Bà Lê Hồng S2, sinh năm 1958 (vắng mặt).
6. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1952 (vắng mặt).
7. Bà Lê Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ
8. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ
(vắng mặt).
9. Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1950. Địa chỉ: ấp M, xã H, thành phố Cần
Thơ (vắng mặt).
10. Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp N, xã C, huyện V, tỉnh Bạc
Liêu (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của Lê Hồng S2, Lê Thị Đ, Lê Thị H, Lê Thị
T2, Huỳnh Văn B, Lê Thị Ú: Ông Lê Trường T, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp L, xã
G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy uỷ quyền ngày 19/12/2025), (có mặt).
11. Bà Lê Thị Hồng N1, sinh năm 1981, (vắng mặt).
12. Bà Lê Thị Huyền T3, sinh năm 2004, (vắng mặt).
13. Bà Đào Thị Hồng L, sinh năm 1997, (vắng mặt).
14. Bà Đào Thị Kiều M, sinh năm 2004, (vắng mặt).
15. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1970, (vắng mặt).
Cùng trú tại ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ.
16. Ông Đào Khương Á sinh năm 1943, (vắng mặt).
17. Ông Lê Văn Đ1 sinh năm 1957, (vắng mặt).
Cùng trú tại ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ
- Người làm chứng: Ông Đinh Văn V sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp L, xã N,
thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Thanh P (Nguyễn Văn P1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm
tắt như sau:
3
Theo nguyên đơn ông Lê Trường T trình bày: Gia đình ông có phần đất thửa
369, tờ bản đồ số 6, diện tích 29.782 m
2
, loại đất mùa, tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện
M, tỉnh Sóc Trăng nay là ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ, được Ủy ban nhân dân
huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 896770 cho ông Lê Út N2
(Cha ruột ông Lê Trường T) đứng tên gồm có 07 thửa với tổng diện tích 48.129
m
2
ngày đến ngày 5/5/1994. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ông Lê Út N2 đã phân chia đất cho ông Lê Trường T 03 công tương đương diện
tích 3.900m
2
loại đất mùa nằm thuộc thửa 369. Do điều kiện khó khăn nên ông
Lê Trường T nhờ ông Lê Văn T1 liên hệ với người địa phương gần khu vực đất
của ông T để cho thuê hoặc cầm cố để ông T có vốn làm ăn.
Sau một thời gian thì ông Lê Văn T1 có giao cho ông Lê Trường T 02 chỉ
vàng 24K và nói đã cầm cố phần đất với diện tích 3.900m
2
cho ông Nguyễn Thanh
P nhưng ông Lê Văn T1 không nói thời gian cầm cố bao lâu thì chuộc lại. Do điều
kiện kinh tế khó khăn nên chưa chuộc lại đến năm 2020 kinh tế gia đình ổn định
thì ông Lê Trường T có liên hệ ông Nguyễn Thanh P để chuộc lại đất trước đó
ông Lê Trường T nhờ ông Lê Văn T1 đã cầm cố. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh
P cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần với diện tích 3.900m
2
của ông Lê Trường
T với giá 7,5 chỉ vàng 24K và ông Nguyễn Thanh P có đưa ra tờ giấy “Tờ thống
nhất sang nhượng đất sản xuất nông nghiệp” lập ngày 23/11/1994 có đầy đủ chữ
ký của ông Lê Út N2. Sau đó ông Lê Trường T liên hệ với ông Lê Văn T1 hỏi
việc cầm cố đất cho ông Nguyễn Thanh P thì ông Lê Văn T1 khẳng định chỉ cầm
cố cho ông Nguyễn Thanh P phần đất với diện tích 3.900m
2
với giá 7,5 chỉ vàng
24K. Đối với tờ giấy “Tờ thống nhất sang nhượng đất sản xuất nông nghiệp” lập
ngày 23/11/1994 thì ông Lê Văn T1 cho rằng ông Nguyễn Thanh P tự lập và giả
mạo chữ ký của ông Lê Trường T và ông Lê Út N2, còn bản thân ông Lê Văn T1
và ông Lê Út N2 không biết gì hết. Hiện nay phần đất trên do ông Đào Khương
N và ông Đặng Văn S đang quản lý sử dụng. Nay ông Lê Trường T yêu cầu ông
Nguyễn Thanh P và người liên quan ông Đào Khương N phải cho ông chuộc lại
phần đất có diện tích 3.900m
2
tại thửa số 369, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp
L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và ông Lê Trường T hoàn trả lại cho ông
Nguyễn Thanh P 02 chỉ vàng 24K.
Theo bị đơn ông Nguyễn Thanh P trình bày: Năm 1994 ông Lê Văn T1 là
em ruột của ông Lê Trường T đến gặp để kêu sang bán phần của ông Lê Trường
T được ông Lê Văn Ú1 chia cho. Sau khi thoả thuận mua bán với nhau ông P đồng
ý mua 03 công tầm cấy đất tại thửa 369, tờ bản đồ số 6, loại đất mùa, tọa lạc tại
ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng với giá 7,5 chỉ vàng 24K và hai bên có làm
giấy tay mua bán đất với nhau có ông Lê Trường T và Lê Văn Ú1 ký xác nhận
vào tờ mua bán đất. Ông đã trả đủ số vàng cho ông T1 và cùng với ông Lê Văn
T1, ông Lê Văn Ú1 tiến hành đo đạc giao đất để ông P sử dụng. Sau khi giao đất
xong ông P đã đổi phần diện tích đất trên cho ông Đào Khương Á là cha của ông
Đào Khương N sử dụng cho đến nay không ai tranh chấp gì. Hiện nay, phần diện
tích đất nêu trên ông Đào Khương N đang sử dụng vẫn chưa được sang tên cho
ông Đào Khương N vì phía ông Lê Văn T1 và ông Lê Văn Ú1 không đưa giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để cho ông P đi thực hiện thủ tục tách thửa đất.
Nay ông Lê Trường T cho rằng ông T không có sang bán quyền sử dụng đất đối
4
với diện tích đất nêu trên cho ông mà chỉ nhờ ông T1 cầm cố hoặc cho thuê và
yêu cầu được chuộc lại đất là không có căn cứ nên ông không đồng ý. Vì ông Lê
Trường T, ông Lê Văn Ú1 ông Lê Văn T1 đã bán cho ông Nguyễn Thanh P, đã
nhận đủ số vàng và ông P đã đổi đất với ông Đào Khương N, hiện tại ông N đang
quản lý sử dụng đất nên ông không có đất trả lại cho ông Lê Trường T, ông Lê
Văn Ú1 ông Lê Văn T1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 trình bày: Nguồn gốc
diện tích đất đang tranh chấp là của ông Lê Út N2, chia đất cho ông Lê Trường T
03 công tương đương diện tích 3.900m
2
,
loại đất mùa nằm trong thửa 369, tờ bản
đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nhưng không làm
giấy tờ gì. Năm 1994 ông Lê Trường T nhờ ông liên hệ với người địa phương gần
khu vực đất của ông Lê Trường T để cho thuê hoặc cầm cố để ông Lê Trường T
có vốn làm ăn nên ông đã tìm ông Nguyễn Thanh P để cầm cố cho ông Nguyễn
Thanh P phần diện tích đất 3.900m
2
loại đất mùa nằm trong thửa 369, tờ bản đồ
số 06, đất tọa lạc tại ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng với giá là 7,5 chỉ vàng
24K rồi đưa lại cho ông Lê Trường T 2,5 chỉ vàng 24K còn 5 chỉ vàng ông Lê
Văn T1 giữ lại để tiêu xài không nói cho ông T biết. Việc cầm cố với nhau không
có giấy tờ gì chỉ bằng lời nói với nhau giữa ông với ông Nguyễn Thanh P. Ông
khẳng định chỉ cầm cố cho ông Nguyễn Thanh P phần đất với diện tích 3.900m
2
với giá 7,5 chỉ vàng 24K. Đối với tờ giấy “Tờ thống nhất sang nhượng đất sản
xuất nông nghiệp” lập ngày 23/11/1994 là ông Nguyễn Thanh P tự lập và giả mạo
chữ ký của ông Lê Trường T và ông Lê Út N2, bản thân ông và ông Lê Út N2
không biết gì hết. Ông yêu cầu ông P trả lại diện tích đất đã cầm cố cho ông Lê
Trường T và ông đồng ý trả lại cho ông P số vàng là 7,5 chỉ vàng cho ông P.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Khương N trình bày: Diện
tích phần đất tranh chấp 3.900m
2
mà ông Lê Trường T và ông Nguyễn Thanh P
đang tranh chấp là do cha ông là Đào Khương Á đổi với ông Nguyễn Thanh P từ
năm 1994 sau khi ông P mua đất của ông Lê Văn T1 và ông Lê Út N2. Việc đổi
đất với nhau hai bên chỉ trao đổi bằng lời nói không có lập thành văn bản gì. Sau
khi đổi đất xong thì cho lại ông N sử dụng 02 công, còn lại 01 công ông Đào
Khương Á đổi cho ông Lê Văn Đ1 là cha vợ của ông Đặng Văn S, hiện nay ông
Đặng Văn S đang sử dụng một phần trên diện tích đất này. Việc đổi 01 công tầm
cấy đất cho ông Đ1 cũng không có làm giấy tờ gì chỉ thoả thuận bằng lời nói với
nhau. Từ khi đổi đất với ông Nguyễn Thanh P, ông đã sử dụng ổn định không có
ai tranh chấp hay ngăn cản. Hiện tại ông N và ông S đang sử dụng diện tích đất
đang tranh chấp giữa ông T và ông P phần diện tích đất này vẫn chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì hiện nay diện tích đất này vẫn thuộc đất
của hộ của ông Lê Út N2 là cha ruột của ông T và ông T1. Nay ông Lê Trường T
cho rằng là đất của ông T cầm cố nên đòi chuộc lại là không đúng vì đất này ông
Lê Út N2, ông T và ông T1 đã bán đứt cho ông P và ông P đã đổi với cha ông N
là ông Đào Khương Á sử dụng ổn định nên ông N không đồng ý cho ông T chuộc
lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Đ1 trình bày: Ông biết
trước đây vào năm 1994 ông Đào Khương Á có đổi đất với ông Nguyễn Thanh P.
Sau đó, ông Lê Văn Đ1 đổi với ông Á 01 công tầm cấy trong phần diện tích đất
5
ông Á đổi với ông P giáp với đất ông Đào Khương N đang sử dụng. Việc đổi đất
giữa ông Lê Văn Đ1 với ông Đào Khương Á chỉ thoả thuận bằng lời nói với nhau
không lập thành văn bản, sau khi đổi đất ông Lê Văn Đ1 sử dụng một thời gian
thì cho con rể là ông Đặng Văn S sử dụng cho đến nay. Từ khi đổi đất với nhau
đến nay vẫn chưa làm giấy tờ chuyển quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích
đất trên vì theo ông Lê Văn Đ1 được biết thì diện tích đất này ông Lê Út N2 đang
đứng tên quyền sử dụng đất chưa sang tên cho ai khác. Nay ông Lê Trường T yêu
cầu được chuộc lại đất thì ông không có ý kiến gì, ông cũng không biết rõ đất này
ông Nguyễn Thanh P mua của ông T hay ông T cầm cố cho ông P, nếu yêu cầu
trả đất lại ông cũng đồng ý và sẽ yêu cầu ông Á trả lại phần đất khác đã đổi cho
ông Lê Văn Đ1.
Các đương sự thống nhất với kết quả thẩm định ngày 15/4/2024 và sơ đồ, vị
trí hiện trạng diện tích đất tranh chấp ngày 15/4/2022 của công ty TNHH H1 và
kết quả định giá tài sản tranh chấp tại chứng thư định giá ngày 27/5/2024 của
Công ty cổ phần T7.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 55/2026/DS - ST ngày 30/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ đã quyết định như sau:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 157; Điều 158; Điều 162; Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 117 Điều 122 Điều 166, Điều 131 Bộ
luật dân sự năm 2015; Điều 246 Luật đất đai năm 2024 và khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Trường T.
Tuyên bố giao dịch hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất 3.820,8m
2
,
thuộc thửa 369, tờ bản đồ số 06 toạ lạc tại ấp L, xã N, thành phố
Cần Thơ giữa ông Nguyễn Thanh P và ông Lê Văn T1 là vô hiệu.
2. Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
2.1 Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Đặng Văn S,
bà Lê Thị N1, bà Đặng Huyền T4 phải có trách nhiệm giao trả lại cho người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Út N2 gồm ông Lê Trường T, Lê Văn
T1, Lê Thị Đ, Lê Thị Ú, Lê Thị H, Lê Văn S1, Lê Hồng S2, Lê Thị T5, Huỳnh
Văn B phần đất theo đo đạc thực tế có số đo tứ cận như sau:
+ Hướng Đông bắc giáp đất ông Võ Hữu T6 có số đo là 29,76m;
+ Hướng Tây nam giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 29,80m;
+ Hướng Tây bắc giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 43,52m;
+ Hướng Đông nam giáp phần đất ông Đào Khương N đang sử dụng có số
đo 43,52m,
Phần đất có diện tích là 1.296m
2
, thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 06, toạ
lạc tại ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc
Trăng cấp ngày 05/5/1995 cho hộ ông Lê Út N2 đứng tên quyền sử dụng đất. Trên
6
đất có 01 ao nuôi tôm hiện đang do ông Đặng Văn S sử dụng ngoài ra không có
tài sản gì khác.
2.2. Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Đào Khương
N, bà Nguyễn Thị O và Đào Thị Hồng L phải có trách nhiệm giao trả lại cho người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Út N2 gồm ông Lê Trường T, Lê
Văn T1, Lê Thị Đ, Lê Thị Ú, Lê Thị H, Lê Văn S1, Lê Hồng S2, Lê Thị T5, Huỳnh
Văn B phần đất theo đo đạc thực tế có số đo tứ cận như sau:
+ Hướng Đông bắc giáp đất ông Võ Hữu T6 có số đo là 59,97m;
+ Hướng Tây nam giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 56,07m;
+ Hướng Tây bắc giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 43,52m;
+ Hướng Đông nam giáp đất bà Lê Thị L1 có số đo 43,69m.
Có diện tích là là 2.524,8m
2
. thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại
ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp
ngày 05/5/1995 cho hộ ông Lê Út N2 đứng tên quyền sử dụng đất. Trên đất có 01
ao nuôi tôm hiện đang do ông Đào Khương N sử dụng ngoài ra không có tài sản
gì khác.
2.3 Buộc ông Lê Trường T phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh
P số vàng 02 chỉ vàng loại 24K theo giá vàng tại thời điểm xét xử là 16.300.000
vàng 24K tương đương với số tiền là: 02 chỉ vàng 24K x 16.300.000 đồng/chỉ =
32.600.000 đồng.
2.4 Buộc ông Lê Văn T1 phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh P
số vàng 5,5 chỉ vàng loại 24kra theo giá vàng tại thời điểm xét xử là 16.300.000
đồng/chỉ vàng 24K tương đương với số tiền là: 5,5 chỉ vàng 24K x 16.300.000
đồng/chỉ = 89.650.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án, hướng dẫn thi hành án theo quy định pháp
luật.
Ngày 09/4/2026 ông Nguyễn Thanh P kháng cáo không đồng ý với quyết
định của bản án sơ thẩm. Với lý do cấp sơ thẩm đưa ra xét xử hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả của hợp đồng
vô hiệu để buộc phía có lỗi bồi thường thiệt hại theo mức độ lỗi. Vì vậy, đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo hướng xác định lỗi
50/50 buộc ông T1 phải bồi thường cho ông 95.528.000 đồng. Tổng cộng ông T1
có nghĩa vụ trả cho ông tổng cộng là 217.778.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bi đơn nộp đơn kháng cáo bổ sung thay đổi yêu cầu
xác định mức độ lỗi 50% theo kết quả định giá là 156.653.000 đồng. Tổng cộng,
yêu cầu ông T1 trả là 278.903.000 đồng và xác định bị đơn kháng cáo yêu cầu 03
vấn đề xem xét lại giá bồi thường thiệt hại; yêu cầu xử lý ông T1 có dấu hiệu
phạm tội lừa đảo; yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trong tờ chuyển nhượng đất
và định giá lại. Tuy nhiên, qua phần tranh tụng tại phiên tòa người đại diện bị đơn
7
xin rút lại các yêu cầu bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu và xem xét xử lý
hành vi có dấu hiệu lừa đảo của ông T1 để yêu cầu riêng. Chỉ yêu cầu Hội đồng
xét xử xem xét giám định chữ ký, chữ viết trên tờ Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông T1 với ông P.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án sau
khi phân tích và đánh giá chứng cứ kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu rút một phần kháng cáo của bị đơn đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với yêu cầu bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu
giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố
tụng dân sự. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng
cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng
cáo do ông Nguyễn Thanh P nộp cho Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cần Thơ là
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 nên kháng cáo là hợp lệ và đúng theo luật định. Hội đồng xét xử chấp nhận
xem xét kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Khương N, Đặng Văn S, Lê Văn S1, Lê Thị Hồng N1,
Lê Thị Huyền T3, Đào Thị Hồng L, Đào Thị Kiều M, Nguyễn Thị O, Đào Khương
Á, Lê Văn Đ1 và người làm chứng Đinh Văn V vắng mặt. Xét thấy, những người
có tên nêu trên đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không lý
do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự xét
xử vắng mặt những người có tên nêu trên.
[3] Tại phiên tòa, bị đơn rút kháng cáo đối với yêu cầu xử lý hợp đồng vô
hiệu là yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu định giá lại và cũng không
yêu cầu Hội đồng xét xử xử lý hành vi của ông T1 để yêu cầu thành vụ án khác.
Xét thấy, việc rút yêu cầu của bị đơn về kháng cáo xử lý hậu quả hợp đồng vô
hiệu (bồi thường thiệt hại) là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội
nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo
của bị đơn về yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
8
vô hiệu (bồi thường thiệt hại) theo quy định tại khoản 3 Điều 289 Bộ luật tố tụng
dân sự. Đối với yêu cầu xử lý hành vi của ông T1 và định giá tài sản do bị đơn
yêu cầu bổ sung khi hết thời hạn kháng cáo và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử
không đặc ra xem xét.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh P tại phiên tòa yêu cầu
giám định chữ viết trên “Tờ thống nhất sang nhượng đất sản xuất nông nghiệp”
lập ngày 23/11/1994. Xét thấy, tại giai đoạn sơ thẩm nguyên đơn đã yêu cầu giám
định chữ ký và chữ viết trong “Tờ thống nhất sang nhượng đất nông nghiệp ngày
23/11/1994”. Tại kết luận giám định số 339/KL-KHHS ngày 25/8/2025 của Phân
viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận chữ viết của ông
“Lê Trường T” và ông “Lê Văn Ú1” trong “Tờ thống nhất sang nhượng đất nông
nghiệp ngày 23/11/1994” đã xác định không phải cùng một người viết ra; Đồng
thời, không có đủ cơ sở kết luận chữ ký của ông Lê Văn Ú1 và Lê Trường T. Quá
trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông T và ông T1 cũng xác định cha ông chỉ có
một tên là Lê Út N2, không có tên nào là Lê Văn Ú1. Sau khi xét xử sơ thẩm thì
bị đơn không kháng cáo yêu cầu giám định lại. Tại tòa hôm nay bị đơn yêu cầu
giám định là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu và việc giám định chữ viết trên
“tờ thống nhất sang nhượng đất nông nghiệp ngày 23/11/1994” không làm thay
đổi bản chất vụ án, là không cần thiết nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu
cầu của bị đơn về việc yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký.
[5] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm
sát viên áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng
cáo của đương sự. Giữ nguyên bản án số 55/2026/DS-ST, ngày 30 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của đương sự không được chấp nhận
nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều
29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên
Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 289; khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 và khoản 6
Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số
9
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn về yêu cầu xử lý
hậu quả hợp đồng vô hiệu là yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Không chấp nhận kháng cáo bổ sung của bị đơn đối với yêu cầu giám định
chữ viết, chữ ký. Giữ Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2026/DS-ST, ngày 30 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, án tuyên như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Trường
T. Tuyên bố giao dịch hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất 3.820,8m
2
thuộc thửa 369 tờ bản đồ số 06 toạ lạc tại ấp L, xã N, thành phố
Cần Thơ giữa ông Nguyễn Thanh P và ông Lê Văn T1 là vô hiệu.
2. Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
2.1 Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Đặng Văn S,
bà Lê Thị N1, bà Đặng Huyền T4 phải có trách nhiệm giao trả lại cho người thừa
kế của ông Lê Út N2 gồm ông Lê Trường T, Lê Văn T1, Lê Thị Đ, Lê Thị Ú, Lê
Thị H, Lê Văn S1, Lê Hồng S2, Lê Thị T5, Huỳnh Văn B phần đất theo đo đạc
thực tế thuộc một phần thửa số 369 tờ bản đồ số 06 toạ lạc tại ấp L, xã N, thành
phố Cần Thơ do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 05/5/1995
cho hộ ông Lê Út N2 đứng tên quyền sử dụng đất, trên đất có 01 ao nuôi tôm,
phần đất có số đo tứ cận như sau:
+ Hướng Đông Bắc giáp đất ông Võ Hữu T6 có số đo là 29,76m;
+ Hướng Tây Nam giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 29,80m;
+ Hướng Tây Bắc giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 43,52m;
+ Hướng Đông Nam giáp phần đất ông Đào Khương N đang sử dụng có số
đo 43,52m, có diện tích là 1.296m
2
;
2.2 Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Đào Khương
N, bà Nguyễn Thị O và Đào Thị Hồng L phải có trách nhiệm giao trả lại cho người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Út N2 gồm ông Lê Trường T, Lê
Văn T1, Lê Thị Đ, Lê Thị Ú, Lê Thị H, Lê Văn S1, Lê Hồng S2, Lê Thị T5, Huỳnh
Văn B phần đất theo đo đạc thực tế thuộc một phần thuộc thửa số 369 tờ bản đồ
số 06 toạ lạc tại ấp L, xã N, thành phố Cần Thơ do Ủy ban nhân dân huyện M,
tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 05/5/1995 cho hộ ông Lê Út N2 đứng tên quyền sử dụng
10
đất, trên đất có 01 ao nuôi tôm hiện đang do ông Đào Khương N sử dụng ngoài ra
không có tài sản gì khác. Phần đất có số đo tứ cận như sau:
+ Hướng Đông Bắc giáp đất ông Võ Hữu T6 có số đo là 59,97m;
+ Hướng Tây Nam giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 56,07m;
+ Hướng Tây Bắc giáp đất ông Đặng Văn S có số đo 43,52m;
+ Hướng Đông Nam giáp đất bà Lê Thị L1 có số đo 43,69m. Có diện tích
là là 2.524,8m
2
.
2.3. Buộc ông Lê Trường T phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh
P số vàng 02 chỉ vàng loại 24K theo giá vàng tại thời điểm xét xử là 16.300.000
vàng 24K tương đương với số tiền là: 02 chỉ vàng 24K x 16.300.000 đồng/chỉ =
32.600.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Thanh P
có đơn yêu cầu thi hành án, ông Lê Trường T còn phải chịu lãi đối với số tiền
chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự.
2.4 Buộc ông Lê Văn T1 phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh P
số vàng 5,5 chỉ vàng loại 24kra theo giá vàng tại thời điểm xét xử là 16.300.000
đồng/chỉ vàng 24K tương đương với số tiền là: 5,5 chỉ vàng 24K x 16.300.000
đồng/chỉ = 89.650.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Nguyễn Thanh P
có đơn yêu cầu thi hành án, ông Lê Văn T1 còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Nguyên đơn ông Lê Trường T phải chịu phí dân sự sơ thẩm là 1.630.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền án phí đã nộp theo biên lai số 008207 ngày
26/04/2021 của của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên nay là Phòng thi
hành án dân sự khu vực 8 - Cần Thơ ông Lê Trường T còn phải nộp số tiền án phí
là 1.330.000 đồng.
+ Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
300.000 đồng.
+ Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm là 4.482.500 đồng.
4. Chi phí thẩm định, định giá tài sản Nguyễn Thanh P phải chịu là
10.730.500 đồng để hoàn trả cho ông Lê Trường T.
11
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
người kháng cáo phải chịu 300.000đ. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng ông P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0007064 ngày 15/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
6. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người
phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa
đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 8 - Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 8 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: HS-VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tôn Thị Thanh Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1331/2026/DS-PT Bản án số 1331/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1331/2026/DS-PT Bản án số 1331/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất