Bản án số 133/2020/DS-PT ngày 16/06/2020 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 133/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 133/2020/DS-PT ngày 16/06/2020 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 133/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông T1 yêu cầu bà C trả diện tích đất theo đo đạc thực tế là 482,6 m2, đồng ý trả thành quả lao động cho bà C bao gồm công bồi đắp và cây trồng trên đất với số tiền 20.000.000 đồng; yêu cầu bà C hoàn trả lại toàn bộ chi phí tố tụng ông T1 đã nộp. Ông T1 rút lại một phần yêu cầu đối với phần đất có diện tích 67,9m2 .
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 133/2020/DS-PT
Ngày 16 6 2020
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Út
Ông Trịnh Xuân Miễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Thúy Hồng Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 156/2020/TLPT-DS ngày 18 tháng 5
năm 2020 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 56/2020/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 134/2020/QĐ-PT ngày
27 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1966 (Có mặt).
Cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh C ..
- Bị đơn:Nguyễn Thị C, sinh năm 1936 (Có mặt).
Cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh C ..
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà M (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh C ..
2. Anh Châu Văn D, sinh năm 1976 (Có mặt).
3. Bà Cao Thị N, sinh năm 1967 (Có mặt).
Cùng cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh C ..
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Trần Văn T1 trình bày:
2
Nguồn gốc đất do ông nội của ông T1 (tên Trần ) để lại cho cha ông T1
(tên Trần Văn Ky); sau này cụ Ky tặng cho lại cho ông T1, diện tích 14.500 m
2
, đất
tọa lạc tại ấp Cái t, Lợi An, huyn Trần Văn Thời, tỉnh Mau. Đến năm
1994, ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại c thửa số 518, 519,
775, tờ bản đồ số 04. Thửa đất số 518 diện tích 3.200 m
2
của ông T1 nằm liền kề với
thửa đất cấp cho ông Châu n Đực (chồng bà C) tại thửa 517, tờ bản đồ số 04 diện
tích 4.980 m
2
. Năm 1986, C lấn chiếm phần đất của ông T1 diện tích 550,5 m
2
,
phần đất từ trước đến nay không ai sử dụng, các cây trồng trên đất do tự mọc, riêng
bụi tre không biết ai trồng. Phần đất tranh chấp hiện nay chỉ cá nhân ông T1 và vợ là
Cao ThN quyền sử dụng quyết định đối với phần đất. Ông T1 xác định gia
đình ông Đực công bồi đắp trên phần đất tranh chấp ngang 04 - 05 t, dài 22
t. Ông T1 yêu cầu C trả diện tích đất ngang 23 mét, dài 24 mét (theo đo đạc
thực tế là 550,5 m
2
).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T1 yêu cầu bà C trả diện tích đất theo đo đạc
thực tế 482,6 m
2
, đồng ý trả thành quả lao động cho C bao gồm ng bồi đắp
và cây trồng trên đất với số tiền 20.000.000 đồng; yêu cầu bà C hoàn trả lại toàn bộ
chi phí tố tụng ông T1 đã nộp. Ông T1 rút lại một phần yêu cầu đối với phần đất có
diện tích 67,9m
2
.
- Theo bà Nguyễn Thị C trình bày:
Nguồn gốc đất của cha mẹ chồng C tặng cho chồng C tên Châu Văn
Đực (đã chết). Đến năm 1994, ông Đực được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất diện tích 26.780 m
2
tại các thửa 517, 577, tờ bản đồ số 04. Thửa đất 517 diện
tích 4.980 m
2
nằm liền kề với thửa đất 518 cấp cho ông T1 diện tích 3.200 m
2
. Bà C
xác định diện tích đất tranh chấp 550,5 m
2
theo đo đạc thực tế thuộc quyền sử dụng
đất cấp cho gia đình bà. Sau khi ông Đực chết, C anh Châu văn Dụ được
hưởng thừa kế phần đất theo thỏa thuận của gia đình. Phần đất hiện nay do C và
anh D quản sử dụng, ngoài ra không còn ai khác. Các cây trồng trên phần đất
tranh chấp do gia đình C trồng chứ không phải do tự mọc. Phần đất tranh chấp
trước đây là đất trũng, gia đình C bồi đắp nên mới bằng phẳng như hôm nay.
C không đồng ý trđất theo yêu cầu của ông T1; đồng thời yêu cầu công nhận
quyền sdụng đất đối với diện tích đất tranh cho bà C; nếu ông T1 thỏa thuận trả
thành quả cho C số tiền 40.000.000 đồng thì C đồng ý giao diện tích đất
tranh chấp 482,6 m
2
cho ông T1.
Tại phiên tòa thẩm, C đồng ý giao phần đất diện tích 482,6 m
2
cho
ông T1, yêu cầu ông T1 trả lại giá trị đất cây trồng 27.083.000 đồng, tiền
công bồi đắp 10.000.000 đồng.
- Theo bà Cao Thị N trình bày:
Bà N thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông T1.
- Theo anh Châu Văn D trình bày:
Anh D thống nhất với trình bày và yêu cầu của bà C.
Tại bản án dân sthẩm số:56/2020/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định:
3
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn T1. Buộc bị đơn
Nguyễn Thị C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn D trách
nhiệm giao trả cho nguyên đơn Trần Văn T1 diện tích đất 482,6 m
2
thuộc thửa đất
số 518, 519 tờ bản đồ s04 (bđ 299) tương ứng với thửa đất s496 tờ bản đồ
số 05 (bđ 2003) Đất tọa lạc tại ấp Cái Bát, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh
Mau (vị trí số 1 theo mảnh trích đo địa chính số 03/2018 ngày 02/02/2018),
tứ cận cụ thể như sau:
+ Cạnh ngang mặt tiền giáp kinh Ban Lẽn từ điểm số 4 qua điểm số 3
chiều dài 16 mét;
+ Cạnh ngang mặt hậu giáp đất ông T1 từ điểm số 1 qua điểm số 2 chiều
dài 19,6 mét;
+ Cạnh dài giáp đất ông T1 từ điểm số 4 đến điểm số 1 có chiều dài 23 mét;
+ Cạnh dài giáp đất C từ vị trí 16 mét (tđiểm số 4 quan điểm số 3) đến
vị trí 19,6 mét (từ điểm số 1 quan điểm số 2) có chiều dài 23,8 mét.
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn T1 đối với
phần đất diện tích 67,9 m
2
thuộc thửa đất số 517 tờ bản đồ số 04 (bđ 299)
tương ứng với thửa đất số 484 tờ bản đồ số 05 (bđ 2003) Đất tọa lạc tại ấp Cái
Bát, Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Mau (vị trí s2 theo mảnh trích đo
địa chính số 03/2018 ngày 02/02/2018)
(Kèm theo nh trích đo địa chính s03/2018 ngày 02/02/2018 của Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời).
Các bên quyền liên hệ với quan thẩm quyền về quản lý đất đai đ
điều chỉnh lại quyền sdụng đất đối với diện tích đất cho phù theo quyết định của
bản án này.
- Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn Nguyễn Thị C. Buộc
nguyên đơn Trần Văn T1 trả cho bị đơn Nguyễn Th C số tiền 30.083.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn Nguyễn Thị C về việc yêu
cầu nguyên đơn Trần Văn T1 trả công bồi đắp với số tiền 7.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí đo đạc, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/4/2020, ông Trần Văn T1 đơn kháng cáo yêu cầu xem xét phần
bản án sơ thẩm buộc ông trả cho bà C s tiền 30.083.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T1 phát biểu: Ông đồng ý trả cho C số tiền bằng 20.000.000 đồng;
phần cây trồng trên đất giao cho bà C hưởng, C trách nhiệm khai thác số cây
trồng trên đất để trả lại đất cho ông.
C phát biểu: Không đồng ý ông T1 trả 20.000.000 đồng, yêu cầu giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Bà N, anh D không có ý kiến tranh luận.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội
đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1, sửa một phần
bản án sơ thẩm, buộc ông T1 trả cho bà C số tiền 20.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Trần Văn T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Phần đất C sử dụng do ông Châu Văn Đực (chồng bà C) đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp ngày 20/12/1994 gồm các thửa đất số:
517, 577 tờ bản đồ số 04, diện tích 26.780m
2
. Phần đất ông T1 sử dụng do ông
Trần Quốc Tiên đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp ngày
20/12/1994 gồm các thửa số: 518, 519, 577 tờ bản đồ số 04, diện tích 14.500m
2
.
Theo Công văn 574/CNVPĐKĐĐ ngày 26/11/2019 Công văn số
09/CNVPĐKĐĐ ngày 08/01/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện
Trần Văn Thời thể hiện diện tích đất tranh chấp 482,6 m
2
(đất trồng lúa) thuộc thửa
số 518; thửa đất số 517 tờ bản đồ số 04 (bản đồ 299) tương ứng với thửa đất số 484
tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2003); thửa đất số 518, 519 tờ bản đồ số 04 (bản đồ 299)
tương ứng với thửa đất số 496 tbản đồ số 05 (bản đồ 2003). Như vậy, căn cứ
xác định phần đất tranh chấp diện tích 482,6 m
2
thuộc thửa số 518 ông T1 được
cấp quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, C thừa nhận
phần đất tranh chấp diện tích 482,6m
2
thuộc quyền sdụng của ông T1 đồng
ý trả lại đất. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ông T1, buộc bà C và anh D trả lại diện
tích đất tranh chấp 482,6m
2
căn cứ. Phần nội dung này không bị kháng cáo,
kháng nghị nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.
[2] Đối với số tiền án thẩm buộc ông T1 trả cho C 30.083.000 đồng (
gồm có: giá trị đất 14.478.000 đồng; giá trị cây trồng trên đất 12.605.000 đồng,
công bồi đắp 3.000.000 đồng) thấy rằng:
[2.1] Đối với phần đất tranh chấp diện tích 482,6m
2
nêu trên được xác định
của ông T1, án thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông T1 buộc C trả đất,
nhưng lại buộc ông T1 trả lại cho C giá trị của diện tích đất C phải trả
cho ông T1 không phù hợp. Do đó, cấp phúc thẩm sửa án thẩm đối với phần
này theo hướng không buộc ông T1 phải trả lại giá trị đất cho bà C.
[2.2] Đối với phần cây trồng trên đất (gồm 34 cây tràm bông vàng, 20 bụi
dừa nước,01 bụi tre, 01 cây dừa, 32 cây vẹt, 01 cây cồng), xét thấy không phải
công trình kiến trúc không thể di dời, hơn nữa ông T1 ng không đồng ý nhận số
cây trồng này; đáng lẽ ra phải buộc phía bà C có trách nhiệm khai thác số cây trồng
trên đất để trả lại đất cho ông T1, nhưng án thẩm buộc ông T1 trả cho C giá
trị cây trồng trên đất là không phù hợp. Mặt khác, án thẩm buộc ông T1 trả cho
bà C giá trị phần cây trồng trên đất nhưng không tuyên ông T1 được hưởng đối với
số cây trồng trên đất thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T1. Do đó,
5
cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm đối với phần này theo hướng không buộc ông T1 trả
giá trị phần cây trồng trên đất cho C; buộc phía C trách nhiệm khai thác
toàn bộ số cây trồng trên phần đất tranh chấp để trả lại đất cho ông T1.
[2.3] Đối với phần công sức bồi đắp, quá trình giải quyết vụ án ông T1 cũng
thừa nhận phía C công sức bồi đắp đối với phần đất tranh chấp, nên án
thẩm buộc ông T1 bồi hoàn công sức bồi đắp cho bà C phù hợp. Về mức bồi
hoàn, án sơ thẩm buộc ông T1 bồi hoàn cho bà C số tiền bằng 3.000.000 đồng; ông
T1 thống nhất bồi hoàn số tiền này, bà C cũng không có kháng cáo. Đáng lẽ ra cấp
phúc thẩm chỉ buộc ông Tiền bồi hoàn cho C tiền công sức bồi đắp bằng
3.000.000 đồng phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm ông T1 tự nguyện
bồi hoàn cho C tổng s tiền bằng 20.000.000 đồng, xét thấy đây ý chí tự
nguyện của ông T1 và có lợi cho bà C nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.4] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T1, ông T1 khởi kiện đòi C trả
diện tích đất 550,5m
2
, nhưng qua đo đạc thực tế xác định diện tích đất tranh chấp
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1 482,6 m
2
diện
tích không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp cho ông T1 67,9m
2
,
nên tại phiên toà sơ thẩm ông T1 chỉ yêu cầu bà C trả diện tích đất 482,6 m
2
, phần
diện tích còn lại 67,9m
2
ông T1 không yêu cầu. Trường hợp này được xác định
ông T1 thay đổi yêu cầu khởi kiện, nhưng cấp sơ thẩm lại xác định ông T1 rút một
phần yêu cầu khởi kiện đình chỉ xét xđối với yêu cầu của ông T1 đối với diện
tích đất 67,9m
2
chưa đúng. Do đó, cấp phúc thẩm sửa án thẩm phần này theo
hướng không tuyên đình chỉ.
[3] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn
T1, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4] Do sửa án thẩm đối với số tiền ông T1 phải trả cho C, nên phần án
phí dân sự thẩm ông T1 phải chịu được điều chỉnh lại theo quy định pháp luật.
Án phí n sự pc thẩm: ông Trần Văn T1 không phải chịu, đã dự nộp được nhận
lại.
[5] c quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị nên không đặt ra
xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm s56/2020/DS-ST ngày 27/3/2020 của
Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T1.
6
Buộc Nguyễn Thị C anh Châu Văn D trả lại cho ông T1 diện tích đất
theo đo đạc thực tế 482,6 m
2
thuộc thửa đất số 518, 519 tờ bản đồ số 04 (bản đồ
299) tương ứng với thửa đất s496 tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2003), đất tọa lạc tại
ấp Cái Bát, Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Mau (Theo vị trí số 1 mãnh
trích đo địa chính số 03/2018 ngày 02/02/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện Trần Văn Thời), có tứ cận cụ thể như sau:
+ Cạnh ngang mặt tiền giáp kinh Ban Lẽn từ điểm số 4 qua điểm số 3, chiều
dài 16 mét;
+ Cạnh ngang mặt hậu giáp đất ông T1 từ điểm số 1 qua điểm số 2, chiều dài
19,6 mét;
+ Cạnh dài giáp đất ông T1 từ điểm số 4 đến điểm số 1, chiều dài 23 mét;
+ Cạnh dài giáp đất C từ vị trí 16 mét (tđiểm s4 quan điểm số 3) đến
vị trí 19,6 mét (từ điểm số 1 quan điểm số 2), chiều dài 23,8 mét.
(Kèm theo nh trích đo địa chính số 03/2018 ngày 02/02/2018 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đt đai huyện Trần Văn Thời).
- Buộc Nguyễn Thị C anh Châu Văn D trách nhiệm khai thác toàn
bộ số cây trồng trên diện tích đất tranh chấp 482,6 m
2
(gồm 34 cây tràm bông vàng,
20 bụi dừa nước,01 bụi tre, 01 cây dừa, 32 cây vẹt, 01 cây cồng) để trả lại đất cho
ông Trần Văn T1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị C đối với ông
Trần Văn T1.
Buộc ông Trần Văn T1 trả cho Nguyễn Thị C số tiền 20.000.000 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị C đối với
ông Trần Văn T1với số tiền bằng 17.083.000 đồng.
- Chi phí tố tụng:
Buộc Nguyễn Thị C trách nhiệm trả lại cho ông Trần Văn T1 số tiền
2.972.500 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2005.
- Án phí sơ thẩm dân sự:
Ông Trần Văn T1 phải chu 1.000.000 đồng. Ông T1 đã dự nộp 275.000
đồng theo biên lai thu số 0004264 ngày 01/10/2014 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện Trần Văn Thời, đối trừ ông T1 còn phải nộp tiếp 725.000 đồng.
Nguyễn Thị C được miễn chịu án phí. Bà C đã dự nộp 250.000 đồng theo
biên lai thu số 0006362 ngày 09/11/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Trần Văn Thời được nhận lại.
7
- Án phí dân sự phúc thẩm ông Trần Văn T1 không phải chịu. Ngày
08/5/2020 ông T1 đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003625 của
Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bkháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
- Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 133/2020/DS-PT Bản án số 133/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất