Bản án số 129/2026/DS-ST ngày 25/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 129/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 129/2026/DS-ST ngày 25/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 129/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Hồng Y kiện ông Trần Sĩ D về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; “Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế công chứng vô hiệu” .
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 129/2026/DS-ST Bản án số 129/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 129/2026/DS-ST Bản án số 129/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỤC 5 - KHÁNH HÒA
Bản án số: 129/2026/DS-ST
Ngày: 25 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất;
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; Tranh chấp về thừa kế tài sản; hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế công
chứng vô hiệu.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Doanh.
2. Ông Nguyễn Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
5 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh
Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2024/TLST-DS ngày
21/3/2024, thụ lý bổ sung số 02/2024/TLST-DS ngày 27/5/2024 và thụ lý bổ sung
số 05/2024/TLST-DS ngày 17/6/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;
“Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Tranh chấp về thừa kế tài sản”;
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Tranh chấp liên
quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế công chứng
vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2026/QĐXXST-DS, ngày 19
tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2026/QĐST-DS ngày 08
tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng Y, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Sĩ D, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D:
2
Bà Trương Thị N, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường B, tỉnh
Khánh Hòa (theo Giấy ủy quyền ngày 17/4/2024) (có mặt).
Ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, tỉnh
Khánh Hòa (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 07/7/2026) (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Trần Sĩ H. Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Trần Thị Hồng Y, sinh năm
1988. Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (theo Giấy ủy quyền
ngày 30/7/2025) (có mặt).
3.2 Văn phòng C.
Địa chỉ: Số A đường B tháng H, phường B, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).
3.3 Ủy ban nhân dân thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ: Số A đường M, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Kim H1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Bình P – Chuyên viên phòng
Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đ (theo Giấy ủy quyền ngày 04/9/2026) (vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2024, đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện
ngày 01/6/2024; đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 01/6/2024, trong quá trình tham
gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Cha bà là cụ Trần Sĩ M (chết năm 2017) mẹ là cụ Nguyễn Thị Hồng P1 (chết
năm 2021) cụ M và cụ P1 có 02 con chung là: Trần Sĩ D và Trần Sĩ H. Hai cụ
không có con riêng, có con nuôi là bà Y, cha mẹ của cụ M và cụ P1 đều chết trước
02 cụ đã lâu.
Cụ M, cụ P1 tạo lập được thửa đất số 177 tờ bản đồ số 73, diện tích 221,8m
2
,
tọa lạc tại phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, có xây dựng 01 nhà cấp 4
khoảng năm 1993, hai cụ chết không để lại di chúc. Bà và ông H hiện đang sinh
sống, quản lý nhà đất.
Ngày 01/6/2013, cụ M, cụ P1 có lập giấy bán đất bằng giấy viết tay chuyển
nhượng cho bà diện tích 73,5m
2
đất (ngang 7 m, dài 10,5m) thuộc một phần thửa
đất số 177 tờ bản đồ số 73, đông giáp đường đi, tây giáp đất ông N1, nam giáp đất
của thửa đất số 177 tờ bản đồ số 73, bắc giáp đất ông N1. Giá chuyển nhượng
30.000.000 đồng. Bà đã giao đủ tiền và nhận đất, do ở cùng cụ M, cụ P1 nên bà để
cho cha mẹ tiếp tục nuôi heo, gà.
3
Ngày 10/8/2013 cụ M, cụ P1 có lập giấy bán đất bằng giấy viết tay chuyển
nhượng cho bà diện tích 60m
2
(ngang 6m, dài 10m) thuộc một phần thửa đất số
177 tờ bản đồ số 73, đông giáp đường đi, tây giáp đất nhà ông N1, nam giáp nhà
cha mẹ, bắc giáp đất nhà ông N1 kế tiếp với phần diện tích 73,5m
2
. Giá chuyển
nhượng là 30.000.000 đồng. Bà đã giao đủ tiền và nhận đất, do chưa có điều kiện
để xây nhà ở riêng nên bà tiếp tục giao phần đất trên cho cha mẹ quản lý sử dụng.
Sau khi cụ M, cụ P1 chết ông D và ông H lập văn bản thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế số công chứng 10887, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
17/12/2021 tại Văn phòng C để phân chia di sản là Quyền sử dụng đất theo trích
lục bản đồ địa chính là thửa đất số: 177 (đã chỉnh lý), tờ bản đồ địa chính số: 73,
diện tích 221,8m
2
tọa lạc tại phường Đ. Thỏa thuận phân chia: “Bằng văn bản này
chúng tôi đồng ý tặng cho phần di sản trên mà chúng tôi được hưởng của ông Trần
Sĩ M và bà Nguyễn Thị Hồng P1 để lại cho: Ông Trần Sĩ D, sinh năm 1971”. Sau
đó, ông D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 964997 do UBND
thành phố P – T cấp ngày 03/8/2022. Việc ông H, ông D thỏa thuận phân chia di
sản của cụ M, cụ P1 là không đúng vì không có ý kiến của bà, thiếu người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất.
Bà đồng ý với trích lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày
05/01/2026 của Chi nhánh văn phòng Đ1; chứng thư thẩm định giá
205/2026/THJSC/401 ngày 27/7/2026 của Công ty cổ phần T. Đề nghị lấy kết quả
theo chứng thư thẩm định trên để giải quyết vụ án.
Bà xác định phần diện tích nhận chuyển nhượng (1,2,3,7,8,17,16,15) là
122,5m
2
, trong đó có 60,7m
2
là đất ở đô thị và 61,8m
2
là đất trồng cây lâu năm.
Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận là 25,2m
2
thì bà không có tranh chấp,
nếu tranh chấp sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải ngày 14/8/2026 bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án như sau:
- Tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng số
10887, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C
bị vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DD 964997 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp ngày
03/8/2022 cho ông Trần Sĩ D.
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản của ông Trần Sĩ M và bà
Nguyễn Thị Hồng P1 chết để lại là diện tích 221,8m
2
, thuộc thửa đất 177, tờ bản
đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Chia thừa kế thành 04 phần: ông
D, ông H mỗi người nhận 01 kỷ phần, bà Y nhận 02 kỷ phần trong đó có 01 kỷ
phần nhận thừa kế theo pháp luật và 01 kỷ phần tính công sức đóng góp, bảo quản
di sản. Bà nhận toàn bộ di sản bằng hiện vật và hoàn trả giá trị kỷ phần bằng tiền
cho ông D.
4
Bà rút yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc ông Trần Sĩ D trả lại cho bà diện tích
133,5m
2
thuộc thửa đất 177, tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, thành phố P - T,
tỉnh Ninh Thuận.
Đối với yêu cầu phản tố của ông D về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà và cụ M, cụ P1 ngày 01/6/2013 và ngày 10/8/2013 đối
với diện tích 122,5m
2
đất tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa vô hiệu và giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà đồng ý.
Về chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản: Bà Y đã nộp tạm ứng
và đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản.
Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 07/5/2024, quá trình giải quyết vụ án bị đơn,
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ông D thống nhất về quan hệ huyết thống, nguồn gốc, hiện trạng thửa đất số
177 tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận như
trình bày của bà Y. Cụ M, cụ P1 chết không để lại di chúc.
Ngày 01/6/2013 cụ M, cụ P1 lập giấy bán đất bằng giấy viết tay chuyển
nhượng cho bà Y diện tích 73,5m
2
, giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng. Ngày
10/8/2013 cụ M, cụ P1 lập giấy bán đất bằng giấy viết tay chuyển nhượng đất cho
bà Y diện tích 60m
2
, giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng. Giấy bán đất là do cụ
Minh V, chữ ký chữ viết bên người bán là do cụ P1 và cụ M ký và viết ra. Hợp
đồng mua bán vi phạm về hình thức, nội dung, không có chữ ký của bà Y. Cụ M
và cụ P1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đủ điều
kiện để công nhận 02 giấy bán đất này. Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy bán đất giữa bà Y và cụ
M, cụ P1 ngày 01/6/2013 và ngày 10/8/2013 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu.
Ngày 17/12/2021 tại Văn phòng C, ông D và ông H đã lập văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế số công chứng 10887, quyển số 02/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD để phân chia di sản Quyền sử dụng đất là thửa đất số 177 (đã chỉnh
lý), tờ bản đồ địa chính số: 73, diện tích 221,8m2 tọa lạc tại phường Đ, thành phố
P - T, tỉnh Ninh Thuận. Thỏa thuận phân chia: “Bằng văn bản này chúng tôi đồng ý
tặng cho phần di sản trên mà chúng tôi được hưởng của ông Trần Sĩ M và bà
Nguyễn Thị Hồng P1 để lại cho: Ông Trần Sĩ D, Sinh năm: 1971”. Ông D đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 964997 do UBND thành phố P – T
cấp ngày 03/8/2022. Do thiếu hiểu biết nên khi phân chia di sản không đưa bà Y
vào để có ý kiến. Nay, bà Y yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế trên bị vô hiệu thì ông đề nghị giải quyết theo quy định và ghi nhận ý kiến
của ông H đã tự nguyện tặng cho ông toàn bộ kỷ phần thừa kế.
Ông D đồng ý với trích lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày
05/01/2026 của Chi nhánh văn phòng Đ1; đồng ý lấy chứng thư thẩm định giá
205/2026/THJSC/401 ngày 27/7/2026 của Công ty cổ phần T để giải quyết vụ án.
Phần diện tích đất bà Y nhận chuyển nhượng là 122,5m
2
, trong đó có 60,7m
2
là đất ở đô thị và 61,8m
2
là đất trồng cây lâu năm thì ông D đồng ý. Phần diện tích
5
đất nằm ngoài giấy chứng nhận là 25,2m
2
thì ông D không có tranh chấp, nếu có
tranh chấp sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Đối với yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ M, cụ P1 chết để lại
là diện tích 221,8m
2
, thuộc thửa đất 177, tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, tỉnh
Khánh Hòa thì ông đồng ý chia thừa kế cho ông D, ông H và bà Y mỗi người nhận
1 kỷ phần thừa kế. Kỷ phần thừa kế của ông H thì đề nghị Tòa án giao cho ông D
do ông H đã có ý kiến tặng cho trước đây. Ông nhận toàn bộ di sản bằng hiện vật
và hoàn trả giá trị kỷ phần bằng tiền cho bà Y.
Đối với chi phí thẩm định giá thì ông đồng ý chịu toàn bộ và đã nộp đủ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H và người đại diện theo ủy
quyền trình bày: Ông H thống nhất về quan hệ huyết thống, nguồn gốc thửa đất
như trình bày của bà Y. Ông H đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Y và
đồng ý với yêu cầu phản tố của ông D. Đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với
toàn bộ di sản của cụ M, cụ P1 chết để lại là diện tích 221,8m
2
, thuộc thửa đất 177,
tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa thành 04 phần, cụ thể ông D,
ông H mỗi người nhận 01 kỷ phần, bà Y nhận 02 kỷ phần trong đó có 01 kỷ phần
nhận thừa kế theo pháp luật và 01 kỷ phần tính công sức đóng góp, bảo quản di
sản. Đối với kỷ phần thừa kế của ông thì đề nghị nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện
vật và tặng cho kỷ phần của ông cho bà Y.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày:
Ngày 11/10/2021, các ông D và H có liên hệ Văn phòng C (viết tắt là V2) yêu
cầu VPCC An Khang công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối
với di sản do cụ M, cụ P1 chết để lại. Qua nghiên cứu các giấy tờ mà ông D và ông
H cung cấp bao gồm: Tờ thỏa thuận cho nhường phân chia di sản thừa kế, Đơn xin
cam kết về quan hệ nhân thân UBND phường Đ xác nhận có nội dung ông Trần Sĩ
D và ông Trần H “... là con của ông M (chết) và bà P1 (chết) là đúng. Ngoài ra
không còn người thừa kế nào khác”; Tờ cam kết về nguồn gốc di sản, Trích lục
bản đồ địa chính thửa đất đều có xác nhận của chính quyền địa phương và các giấy
tờ tùy thân khác kèm theo... V2 đã thụ lý hồ sơ và đã thực hiện việc Niêm yết công
khai “Việc phân chia tài sản thừa kế" theo quy định tại UBND phường Đ. Đến
ngày 17/12/2021, ông D và ông H đã cùng có mặt tại VPCC A, sau khi nghe Công
chứng viên giải thích toàn bộ nội dung Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế này; và tự đọc lại toàn bộ nội dung văn bản, ông D và ông H đã đồng ý, đã cùng
ký tên và điểm chỉ vào các văn bản này trước sự có mặt của Công chứng viên V2.
Vì vậy, VPCC An Khang chứng nhận Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế số công chứng 10887, quyền số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
17/12/2021 là đúng trình tự thủ tục, theo quy định pháp luật đề nghị Tòa án bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Y.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch UBND phường Đ trình
bày: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng cho Chủ tịch UBND phường Đ nhưng Chủ tịch UBND phường Đ
6
không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu,
chứng cứ do các đương sự cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa nguyên
đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông H đã thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Y và cụ Trần
Sĩ M, cụ Nguyễn Thị Hồng P1 ngày 01/6/2013 và ngày 10/8/2013 đối với diện tích
122,5m
2
đất tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa vô hiệu và giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu.
- Tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng
10887, quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C
vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DD 964997 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp ngày
03/8/2022 cho ông Trần Sĩ D.
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản của cụ Trần Sĩ M và cụ
Nguyễn Thị Hồng P1 chết để lại là diện tích 221,8m
2
, thuộc thửa đất 177, tờ bản
đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa, giá trị tài sản thừa kế: 475.701.000
đồng.
Giải quyết hậu quả đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô
hiệu, hoàn trả cho bà Y 60.000.000 đồng, khấu trừ trong giá trị di sản thừa kế. Di
sản thừa kế còn lại là: 415.701.000 đồng (cách tính 475.701.000đ - 60.000.000đ =
415.701.000 đồng). Chia thừa kế theo pháp luật thành 03 phần, ông D, ông H và bà
Y mỗi người nhận 01 kỷ phần, giá trị là 138.567.000 đồng (cách tính 415.701.000
đồng : 3 = 138.567.000 đồng). Ông D đồng ý giao kỷ phần bằng hiện vật cho bà Y,
bà Y đồng ý nhận và có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho ông D số tiền 138.567.000
đồng. Ông H đồng ý nhận kỷ phần bằng hiện vật và tặng cho kỷ phần của ông H
được nhận cho bà Y thì bà Y đồng ý nhận. Bà Y được nhận toàn bộ di sản thừa kế.
Về chi phí thẩm định giá thì ông D đồng ý chịu 15.000.000 đồng; Về chi phí
xem xét thẩm tại chỗ, đo đạc, định giá bà Y đồng ý chịu 3.932.000 đồng.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy
định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định
của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt không có lý
do căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS) đề nghị xét
xử vắng mặt họ.
7
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Y và cụ M,
cụ P1 ngày 01/6/2013 và ngày 10/8/2013 đối với diện tích 122,5m
2
đất tọa lạc tại
phường Đ, tỉnh Khánh Hòa vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 10887,
quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số DD 964997 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp ngày
03/8/2022 cho ông Trần Sĩ D.
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản của cụ Trần Sĩ M và cụ
Nguyễn Thị Hồng P1 chết để lại là diện tích 221,8m
2
, thuộc thửa đất 177, tờ bản
đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
Đình chỉ xét xử phần yêu cầu của nguyên đơn về việc: Buộc ông Trần Sĩ D trả
lại cho bà Y 133,5m
2
thửa đất 177, tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, thành phố
P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Về án phí và chi phí tố tụng: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; “Hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Tranh chấp liên quan đến
yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế công chứng vô hiệu”
theo khoản 2, 3, 5, 11 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn cư trú tại phường Đ, tỉnh
Khánh Hòa, căn cứ vào Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ, Văn phòng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu, thấy rằng:
Các đương sự đều khai nhận: Ngày 01/6/2013, cụ M, cụ P1 có lập giấy bán
đất bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho bà Y diện tích 73,5m
2
đất (ngang 7 m,
dài 10,5m), giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng; Ngày 10/8/2013 cụ M, cụ P1 có
lập giấy bán đất bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho bà Y diện tích 60m
2
(ngang
8
6m, dài 10m), giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng. Phần diện tích đất chuyển
nhượng theo đo đạc là 122,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 177 tờ bản đồ số 73 tọa
lạc tại phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Do đó nội dung này là tình tiết sự kiện không
phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS.
Quá trình Toà án giải quyết và tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H đều thừa nhận cụ M, cụ P1 đã nhận đủ
60.000.000 đồng và đã giao đất cho nguyên đơn. Các đương sự đều biết việc thửa
đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ M, cụ P1; hợp
đồng chuyển nhượng đất chưa được công chứng, chứng thực.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H đều yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng
vô hiệu, hoàn trả cho bà Y 60.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất, không yêu
cầu tính tiền chênh lệch giá đất, khấu trừ số tiền trên vào giá trị di sản thừa kế của
cụ M, cụ P1. Đây là quyền tự định đoạt và là sự thoả thuận tự nguyện của các
đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xác định Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được thể hiện tại Giấy bán đất ngày 01/6/2013, ngày 10/8/2013
giữa cụ M, cụ P1 với bà Y vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
theo quy định tại Điều 122, Điều 127, 128, Điều 689, Điều 698 của Bộ luật Dân sự
năm 2005; Điều 117, Điều 122, Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Xét yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế vô hiệu, thấy rằng:
[2.2.1] Về hình thức của văn bản: Xét thấy ngày 17/12/2021, ông D, ông H
cùng thỏa thuận ký văn bản phân chia di sản thừa kế đối với di sản là thửa đất 177,
tờ bản đồ số 73 theo trích lục bản đồ địa chính số 3756/VPĐKĐĐNT-CNPRTC
ngày 28/9/2021 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh P2 - T. Văn bản được công chứng
viên Trần Thị V1 ký công chứng, vào sổ công chứng số 10887 Quyển số 02/2021
TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C. Do đó, hình thức của văn bản phù hợp quy
định tại Điều 44, 46, 47, 48 Luật Công chứng năm 2014.
[2.2.2] Xét về thủ tục công chứng văn bản: Xét hồ sơ công chứng thấy rằng
Văn phòng C đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 57 Luật
Công chứng năm 2014.
[2.2.3] Xét về nội dung của văn bản công chứng:
Ông D và ông H lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để phân chia
di sản là Quyền sử dụng đất theo trích lục bản đồ địa chính là thửa đất số: 177 (đã
chỉnh lý), tờ bản đồ địa chính số: 73, diện tích 221,8m
2
tọa lạc tại phường Đ, thành
phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Tại Giấy khai sinh số 1986 ngày 14/10/1988 của UBND phường Đ, thị xã P -
T, tỉnh Thuận Hải xác nhận: Bà Y có cha là cụ Trần Sĩ M và mẹ là cụ Nguyễn Thị
Hồng P1. Do đó có căn cứ xác định: Bà Y là con nuôi hợp pháp của cụ M, cụ P1.
Tại văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 10887, quyển
số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C không có sự
9
tham gia của bà Y. Việc bỏ sót người thừa kế của cụ M, cụ P1 làm ảnh hưởng đến
quyền lợi hợp pháp của bà Y là vi phạm quy định tại Điều 117, 122, 650, 651 và
Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố Văn bản phân chia di sản thừa kế trên vô hiệu
là có căn cứ.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế trên vô hiệu. Xét sự thoả thuận của các đương sự là tự
nguyện, không vi phạm điều cấm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 964997 do UBND thành
phố P – T cho ông Trần Sĩ D, thấy rằng:
Do văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 10887, quyển
số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C bị vô hiệu như
nhận định tại mục [2.2] nêu trên nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD
964997 do UBND thành phố P – T (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ)
cấp ngày 03/8/2022 cho ông D đối với thửa đất 177, tờ bản đồ số 73, diện tích
221,8m
2
tọa lạc phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là trái quy định của
pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn huỷ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D.
[2.4] Về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, thấy rằng:
Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Trần Sĩ M (chết năm 2017), cụ Nguyễn Thị Hồng
P1 (chết năm 2021), hai cụ chết không để lại di chúc. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật
Dân sự (viết tắt BLDS) 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
của cụ M, cụ P1 vẫn còn.
Xác định di sản thừa kế: Các đương sự đều thống nhất xác định, di sản thừa kế
của cụ M, cụ P1 là thửa đất 177, tờ bản đồ số 73, diện tích 221,8m
2
tọa lạc phường
Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Đ, tỉnh Khánh Hòa) theo trích
lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày 05/01/2026 của Chi nhánh văn
phòng Đ1, trên đất có 01 căn nhà 01 tầng mái lợp ngói, trần la phông nhựa, tường
xây gạch. Giá trị tài sản thừa kế: 475.701.000 đồng.
Về diện và hàng thừa kế: Căn cứ Điều 613, 649, 650 và 651 BLDS năm 2015,
Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cụ M, cụ P1
gồm 03 người: Ông D, ông H và bà Y.
Bà Y, ông H là người quản lý di sản, tại phiên tòa các đương sự không yêu
cầu xem xét tính công sức trong việc quản lý và giữ gìn tài sản là di sản thừa kế
của cụ M, cụ P1 chết để lại nên Hội đồng xét xử không xét.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả đối với
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hoàn trả cho bà Y 60.000.000
đồng, khấu trừ số tiền trên vào giá trị di sản thừa kế. Xác định di sản thừa kế còn
10
lại là: 415.701.000 đồng (cách tính 475.701.000đ - 60.000.000đ = 415.701.000
đồng). Chia thừa kế theo pháp luật thành 03 phần, ông D, ông H và bà Y mỗi
người nhận 01 kỷ phần, giá trị là 138.567.000 đồng (cách tính 415.701.000 đồng :
3 = 138.567.000 đồng). Ông D đồng ý giao kỷ phần bằng hiện vật cho bà Y, bà Y
đồng ý nhận và có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho ông D số tiền 138.567.000 đồng.
Ông H đồng ý nhận kỷ phần bằng hiện vật và tặng cho kỷ phần của ông H cho bà
Y thì bà Y đồng ý nhận. Bà Y được nhận toàn bộ di sản thừa kế bằng hiện vật.
Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự phù hợp pháp luật nên được
chấp nhận.
[2.5] Đối với phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận là 25,2m
2
gồm: diện
tích (3,4,5,6,7) thuộc đất nghĩa địa là 16,5m
2
; diện tích (9,10,11,12) thuộc thửa đất
31 là 4,8m
2
; diện tích (13,14,15,16,17) thuộc thửa đất 176 là 3,9m
2
. Quá trình giải
quyết vụ án các đương sự không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải
quyết đối với phần diện tích đất này, nên Hội đồng xét xử không xét, trường hợp
các đương sự có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Sĩ D trả lại cho bà Y diện tích
133,5m
2
thuộc một phần thửa đất 177, tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, thành
phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Đ, tỉnh Khánh Hòa), thấy rằng: Quá
trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện nêu trên, việc rút yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ
xét xử yêu cầu khởi kiện này là phù hợp với quy định tại Điều 244 của BLTTDS.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là 3.932.000 đồng
nguyên đơn đồng ý chịu, không yêu cầu các đồng thừa kế khác phải hoàn lại,
nguyên đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng.
Về chi phí thẩm định giá là 15.000.000 đồng bị đơn đồng ý chịu, không yêu
cầu các đồng thừa kế khác phải hoàn lại, bị đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng.
[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu
phản tố của bị đơn được chấp nhận; Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có
giá ngạch đối với giá trị tài sản thừa kế được nhận theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2, 3, 5, 11 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều
147, Điều 157, Điều 227, 228, 244, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
11
Điều 122, Điều 127, 128, 136, 137, Điều 689, Điều 698 của Bộ luật Dân sự
năm 2005; Điều 117, Điều 122, Điều 611, 612, 613, 614, 615, 623, 650, 651 của
Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 105, 106, 107 Luật đất đai 2003; Các Điều 26, 27, 28, 29, 31 của Luật
Đất đai năm 2024.
Điều 44, 46, 47, 48 và 57 của Luật Công chứng;
Căn cứ Điều 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy bán đất ngày
01/6/2013 và ngày 10/8/2013 giữa bà Trần Thị Hồng Y và cụ Trần Sĩ M, cụ
Nguyễn Thị Hồng P1 vô hiệu.
Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số công chứng 10887,
quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/12/2021 của Văn phòng C bị vô
hiệu.
Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số DD 964997 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T, tỉnh Ninh
Thuận cấp ngày 03/8/2022 cho ông Trần Sĩ D đối với thửa số 177 tờ bản đồ địa
chính số 73 toạ lạc tại phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là
phường Đ, tỉnh Khánh Hòa).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Sĩ H cho bà Trần Thị Hồng Y kỷ phần
thừa kế mà ông H được hưởng.
Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trần Sĩ M, cụ Nguyễn Thị
Hồng P1 là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 73, diện tích
221,8m
2
tọa lạc phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Đ,
tỉnh Khánh Hòa) theo trích lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày
05/01/2026 của Chi nhánh văn phòng Đ1 như sau:
Giao cho bà Trần Thị Hồng Y được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất
và tài sản gắn liền với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 73, diện tích 221,8m
2
tọa lạc
phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Đ, tỉnh Khánh Hòa)
theo trích lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày 05/01/2026 của Chi
nhánh văn phòng Đ1. Bà Trần Thị Hồng Y được quyền sở hữu các tài sản trên đất
gồm: căn nhà mái lợp tole, tường xây gạch, nền xi măng và các công trình kiến
trúc khác (sân, mái tôn che, tường rào, trụ cổng cửa sắt, công trình phụ). (Kèm
theo trích lục bản đồ địa chính số 50/CNVPĐKĐĐPR ngày 05/01/2026 của Chi
nhánh văn phòng Đ1).
12
Bà Trần Thị Hồng Y được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Bà Trần Thị Hồng Y phải có nghĩa vụ hoàn trả 01 kỷ phần thừa kế được chia
bằng giá trị hiện vật cho ông Trần Sĩ D là 138.567.000 đồng (một trăm ba mươi
tám triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Buộc ông
Trần Sĩ D trả lại cho bà Y diện tích 133,5m
2
thuộc một phần thửa đất 177, tờ bản
đồ số 73 tọa lạc tại phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Đ,
tỉnh Khánh Hòa).
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là 3.932.000 đồng
(ba triệu chín trăm ba mươi hai nghìn đồng) bà Y tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
Về chi phí thẩm định giá là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) ông D
đồng ý chịu và đã nộp đủ.
4. Về án phí:
Bà Y phải chịu 14.156.700 đồng (mười bốn triệu một trăm năm mươi sáu
nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu
tạm ứng án phí số 0000324 ngày 15/3/2024, số 0000325 ngày 15/3/2024, số
0002822 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T,
tỉnh Ninh Thuận (nay là Thi hành án dân sự tỉnh K). Bà Y còn phải nộp số tiền
12.056.700 đồng (mười hai triệu không trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm đồng)
án phí dân sự sơ thẩm.
Ông D phải chịu 7.228.350 đồng (bảy triệu hai trăm hai mươi tám nghìn ba
trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án
phí số 0002713 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan
Rang- T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Thi hành án dân sự tỉnh K). Ông D còn phải nộp
số tiền 6.928.350 đồng (sáu triệu chín trăm hai mươi tám nghìn ba trăm năm mươi
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34, 36 của
Luật Thi hành án dân sự.
13
Án xử công khai nguyên đơn; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người
đại diện theo ủy quyền của ông H có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 129/2026/DS-ST Bản án số 129/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 129/2026/DS-ST Bản án số 129/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất