Bản án số 127/2026/DS-ST ngày 24/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 127/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 127/2026/DS-ST ngày 24/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 127/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh L kiện Võ Thị Bích P về việc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 127/2026/DS-ST Bản án số 127/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 127/2026/DS-ST Bản án số 127/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
Bản án số: 127/2026/DS-ST
Ngày: 24 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay có
cầm cố tài sản; hợp đồng thuê tài
sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Doanh.
2. Bà Vũ Thị Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 –
Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Võ Phúc Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 371/2026/TLST-DS ngày 03/8/2026 về
việc: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; hợp đồng thuê tài sản” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2026/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 8 năm 2026 và
Quyết định hoãn phiên tòa số: 123/2026/QĐST-DS, ngày 08 tháng 9 năm 2026 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh L, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: 162/10/7 N, Tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Võ Thị Bích P, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số E đường H, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2026, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn
ông Nguyễn Anh L trình bày:
Ngày 03/3/2026, bà Võ Thị Bích P có tới cơ sở kinh doanh L PEDONI do ông là
chủ hộ kinh doanh cầm cố xe máy hiệu Yamaha – S – 85B1-482.48 để vay số tiền
2
4.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng trong vòng 6 tháng, mỗi tháng trả gốc và lãi là
702.000 đồng/tháng. Sau đó do có nhu cầu đi lại nên bà P có thuê xe lại với phí thuê là
180.000 đồng/tháng, thời gian 3 tháng và gia hạn thêm nếu bà P thanh toán tiền thuê xe
và tiền gốc, lãi cầm cố xe đúng theo thỏa thuận. Tổng số tiền bà P phải trả cho ông hàng
tháng là 882.000 đồng/tháng. Đến hạn thanh toán bà P không thanh toán, vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông
đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bà P trả cho ông tổng số tiền tạm tính đến ngày
21/8/2026 là 5.440.000 đồng, trong đó tiền gốc cầm xe chưa trả là 4.000.000 đồng, tiền
lãi 360.000 đồng, tiền thuê xe là 1.080.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Buộc bà
Võ P trả cho ông tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2026 là 4.900.000 đồng, trong đó
tiền gốc cầm xe chưa trả là 4.000.000 đồng, tiền lãi 360.000 đồng, tiền thuê xe là
540.000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà P còn phải tiếp tục chịu
lãi suất phát sinh đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho
đến khi thanh toán xong nợ.
Sau khi bà P thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán thì ông L sẽ trả lại bản chính
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 042567 do Phòng C Công an tỉnh N
cấp cho bà P ngày 04/02/2020.
Bị đơn bà Võ Thị Bích P: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo,
tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà P nhưng bà P không đến Tòa án làm việc và
không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp,
vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố
tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc
chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo
quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo
điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi liện
của nguyên đơn buộc bà P phải thanh toán cho ông L tổng số tiền tính đến ngày
24/9/2026 là 4.900.000 đồng và phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2026
cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Ngoài ra, đương sự chịu
án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P phải thanh toán số tiền còn nợ, tiền lãi theo
hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng thuê xe, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; hợp đồng thuê tài sản” theo khoản
3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú tại phường P, tỉnh Khánh Hòa, căn cứ
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa.
[1.2]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản
tố tụng cho bị đơn bà P nhưng bà P không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống
đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa, bà P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng:
Hộ kinh doanh L1 do ông Nguyễn Anh L là chủ hộ kinh doanh được Ủy ban nhân
dân phường P cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đăng ký thay đổi lần thứ 3,
ngày 16/9/2025. Theo đó, hộ kinh doanh L1 được kinh doanh dịch vụ cầm đồ.
Ngày 03/3/2026, bà P và ông L có ký hợp đồng cầm cố tài sản. Thông qua Hợp
đồng, ông L đã cho bà P vay số tiền 4.000.000 đồng và đã giao cho bà P số tiền trên,
ông L nhận bảo đảm khoản tiền vay đã giải ngân thông qua việc cầm cố xe hiệu Yamaha
– Sirius biển số 85B1-482.48 do bà P đứng tên chủ sở hữu.
Cùng ngày 03/3/2026, bà P và ông L có ký hợp đồng cho thuê xe máy, theo đó
ông L cho bà P thuê lại xe hiệu Yamaha – Sirius biển số 85B1-482.48 phí thuê là
180.000 đồng/tháng, thời gian 3 tháng, từ ngày 03/3/2026 đến ngày 03/6/2026.
Xét thấy, Hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng cho thuê xe máy được các bên xác
lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã
hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy
định tại Điều 309, 310 Điều 463, 472 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về nội dung yêu cầu thanh toán tiền vay từ hợp đồng cầm cố và hợp đồng
cho thuê tài sản:
Hộ kinh doanh L1 có kinh doanh dịch vụ cầm đồ; tại khoản 4 Điều 3 Nghị định
96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ,
gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang
đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố”.
Điều 309 của Bộ luật Dân sự quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây
gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây là
gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
4
Ông L và bà P giao kết hợp đồng cầm cố tài sản để nhận số tiền cầm cố: 4.000.000
đồng, thể hiện bà P là người cầm cố tài sản chiếc xe máy để vay tiền tại Hộ kinh doanh
L1. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: mặc dù hình thức của hợp đồng ngày 03/3/2026
là hợp đồng cầm cố tài sản nhưng nội dung của hợp đồng là thỏa thuận về việc H kinh
doanh Long Pedoni cho bà P vay số tiền 4.000.000 đồng và việc bà P cầm cố chiếc xe
Yamaha – Sirius biển số 85B1-482.48 cho H kinh doanh Long Pedoni thông qua hợp
đồng này là phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay.
Hộ kinh doanh Long P1 đã giao đủ số tiền cho bà P theo Hợp đồng cầm cố đã ký
kết ngày 03/3/2026. Và sau khi ký hợp đồng thuê xe ngày 03/3/2026, thì ông L đã giao
cho bà P xe máy hiệu Yamaha – Sirius biển số 85B1-482.48 để quản lý, sử dụng. Quá
trình thực hiện hợp đồng, bà P không thanh toán được cho ông L khoản tiền nào nên đã
vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 và Điều 311, 472, 473 của Bộ luật
Dân sự năm 2015. Vì vậy, ông L khởi kiện yêu cầu bà P có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc
4.000.000đ, tiền thuê xe 540.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
[2.3] Về yêu cầu tính lãi, mức lãi suất: Ông L chỉ yêu cầu lãi suất theo thỏa thuận
là 1,5%/tháng: Cụ thể tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2026, tiền lãi còn nợ:
360.000 đồng. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 29 Nghị định
96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và khoản 2 Điều 5 Nghị Quyết
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Yêu cầu của ông L là phù hợp, nên bà P phải có nghĩa vụ
trả số tiền lãi còn nợ cho ông. Và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh đối với khoản
tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho
đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[2.4] Đối với bà P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng bà không có văn bản
ý kiến, không đến Tòa để trình bày và yêu cầu về nội dung giải quyết việc vay tiền và
cầm cố như thế nào, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định được số tiền bà P
đã trả cụ thể và các nội dung khác. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên
đơn, quy định của pháp luật, buộc bà P trả tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2026 theo
yêu cầu của nguyên đơn là: 4.900.000 đồng, trong đó tiền vốn gốc: 4.000.000 đồng,
tiền lãi: 360.000 đồng, tiền thuê xe 540.000 đồng.
[2.5] Đối với việc xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe máy đã cho bị đơn thuê lại để
sử dụng và yêu cầu đòi các phí theo thỏa thuận: Ông L không có yêu cầu xử lý tài sản
cầm cố và không yêu cầu thanh toán các phí theo thỏa thuận trong hợp đồng, nên Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ghi nhận ý kiến của ông L về việc sau khi bà P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ
thì ông L sẽ trả lại cho bà P bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy
số 042567 do Phòng C Công an tỉnh N cấp cho bà P ngày 04/02/2020.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
5
[4] Về án phí: Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông L số tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 266,
271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 309, Điều 310, 311, 312, 313, 314, Điều 315,
Điều 357, Điều 468, Điều 463, 472 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh L – Chủ cơ sở
kinh doanh L.
- Buộc bà Võ Thị Bích P phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Anh L tổng số
tiền vay tính đến ngày 24/9/2026 là: 4.360.000 đồng (bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn
đồng), trong đó nợ gốc 4.000.000 đồng; tiền lãi 360.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/9/2026, bà Võ Thị Bích P
còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh
toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong
toàn bộ khoản nợ.
- Buộc bà Võ Thị Bích P phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Anh L số tiền
thuê xe là: 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngay sau khi bà Võ Thị Bích P thanh toán hết nợ, ông Nguyễn Anh L có nghĩa
vụ trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 042567 do Phòng C
Công an tỉnh N cấp cho bà Võ Thị Bích P ngày 04/02/2020.
2. Về án phí:
Bà Võ Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ
thẩm.
6
Hoàn lại cho ông Nguyễn Anh L số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000641 ngày
27/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34, 36 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2026). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND khu vực 5 – Khánh Hòa;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 127/2026/DS-ST Bản án số 127/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 127/2026/DS-ST Bản án số 127/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất