Bản án số 126/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 của TAND TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 126/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 126/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 126/2020/HS-ST ngày 22/05/2020 của TAND TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Thuận An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 126/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/05/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 126/2020/HS-ST
Ngày: 22 – 5 – 2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Ngũ Minh Luận.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân, Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ
án hình sự thụ lý số: 104/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 117/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị
cáo:
Trần Văn B, sinh ngày 11/6/2001 tại tỉnh K; nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện C,
tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề
nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1981 và bà Huỳnh Thanh
L, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2019 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Xuân C, sinh năm
1982; nơi cư trú: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Dương Văn H. Vắng mặt.
- Trần Minh M. Vắng mặt.

2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 30/12/2019, Đội Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an
thành phố Thuận An phối hợp với Công an phường G tiến hành tuần tra đảm bảo an
ninh trật tự trên địa bàn phường G, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi tổ tuần tra đến
đoạn đường D4, khu dân cư B, khu phố T, phường G thì phát hiện đối tượng Trần Văn
B và Dương Văn H đang đứng cạnh xe mô tô biển số 67H1-069.95 có biểu hiện nghi
vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, đối tượng B và H khai có sử dụng trái phép
chất ma túy đá, B lấy trong ví của mình ra một gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu
trắng giao nộp cho lực lượng công an và khai đó là ma túy của B. Lực lượng công an
tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong tang vật, đưa
B và H về trụ sở công an làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Trần Văn B là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17
giờ ngày 30/12/2019, B đến khu vực Vòng xoay An Phú, phường An Phú, thành phố
Thuận An, tỉnh Bình Dương mua của đối tượng tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói
ma túy đá với giá 900.000 đồng cất dấu trong người để sử dụng. Trên đường đi về B
gặp Dương Văn H đi bộ trên đường trong khu dân cư T, phường G nên rủ H đi ăn tối.
B điều khiển xe trên chở H đi thì xe bị hư nên dừng lại sửa và bị công an phát hiện bắt
giữ như trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi ni lon miệng kéo dính chứa tinh thể màu
trắng, 01 (một) ví da màu vàng, 01 (một) xe mô tô biển số 67H1-069.95
Kết luận giám định số 960/MT-PC09 ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật Hình
sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma
túy, có khối lượng 0,7489 gam loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 121/CT-VKS-TA ngày 20/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, trong
phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu,
đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 01 (một) năm 06 (sáu)
tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số
960/MT-PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Bình Dương là vật chứng trong vụ án và một ví da màu vàng không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với một xe mô tô hai bánh (kiểu
dáng Wave), biển kiểm soát 67H1-069.95, số khung VTTDCH094TT*..?..17433* (là
số đóng mới), số máy VPN152FMH*0000190*.

3
Đối với Dương Văn H không biết việc bị cáo B tàng trữ số ma túy trên trong
người nên cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An không xử lý hình sự là có
căn cứ. Công an phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xác định
H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã ra quyết định xử phạt hành chính về
hành vi theo quy định.
Đối với đối tượng tên T là người bán ma túy cho B, quá trình điều tra bị cáo B có
cung cấp thông tin về đối tượng T nhưng do thông tin lai lịch mà B cung cấp không
đầy đủ nên không có cơ sở để xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để
xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Trần Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện
kiểm sát truy tố, bị cáo đã ăn năn, hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy
tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên
đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An,
tỉnh Bình Dương đã truy tố trước Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài
liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 30/12/2019, tại khu vực đường X, khu dân cư B,
khu phố B, phường G, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn B có hành vi
tàng trữ một túi nilon miệng kéo dính, chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại
Methamphetamine, có khối lượng 0,7489gam.
Bị cáo B khai nhận số ma túy trên bị cáo mua của đối tượng tên T (không rõ lai
lịch, địa chỉ) với giá 900.000 đồng, mục đích cất dấu trong người để sử dụng.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo
Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ
luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật.
Theo Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 909/C09B ngày 15/01/2020 của
Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám
định (tháng 01/2020) Trần Văn B có độ tuổi từ 18 năm 04 tháng đến 18 năm 10 tháng.
Do đó, tại thời điểm phạm tội (tháng 12/2019), bị cáo B là người trên 18 tuổi, bị cáo
nhận thức đầy đủ được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình
sự nhưng bị cáo vẫn cố ý cất giấu ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo
là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước
đối với các chất ma tuý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, gây mất trật tự, trị an
tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ

4
hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian
nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên áp dụng Điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật
nên được chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số 960/MT-PC09
mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương
là vật chứng trong vụ án cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với một ví da màu vàng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa
bị cáo không yêu cầu gì, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với xe mô tô biển số 67H1-069.95 thu giữ của Trần Văn B, qua điều tra xác
định xe có biển số trên là của ông Đặng Xuân C. Qua làm việc, ông Cường khai đã bán
xe trên cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Bị cáo B khai đã mua xe trên
vào tháng 10/2019 của một người thanh niên tên L (không các được lai lịch, địa chỉ),
không làm giấy mua bán xe, chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra
công an đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa ai đến liên hệ làm việc, qua tra
cứu xe máy vật chứng chiếc xe trên không có thông tin trong cơ sở dữ liệu xe máy vậy
chứng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước xe mô tô trên.
Đối với Dương Văn H không biết việc B tàng trữ trái phép số ma túy trên trong
người nên cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An không xử lý hình sự là có
căn cứ. Công an phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xác định H có hành
vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi
theo quy định.
Đối với đối tượng tên T là người bán ma túy cho B hiện chưa xác định được nhân
thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:

5
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính
từ ngày 30/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong, bên ngoài ghi vụ số
960/MT-PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh Bình Dương và một ví da màu vàng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước một xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Wave),
biển kiểm soát 67H1-069.95, số khung VTTDCH094TT*..?..17433* (là số đóng mới),
số máy VPN152FMH*0000190*.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/4/2020 giữa Cơ
quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương và Chi cục thi
hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)
án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thuận An;
- Chi cục THADS thành phố Thuận An;
- Cơ quan CSĐT Công an thành phố
Thuận An;
- Cơ quan THAHS Công an thành phố
Thuận An;
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
- Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
- Lưu: HS, THAHS, AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Ánh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng