Bản án số 125/2018/DS-PT ngày 13/08/2018 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 125/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 125/2018/DS-PT ngày 13/08/2018 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 125/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Võ Hữu T tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn Võ Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán: Ông: Nguyễn Hữu Tuấn
: Nguyễn Thị Ngọc Dung
- Thư phiên tòa: Bà: Đức Hoài Mi Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long Trần Ngọc Bích-
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 13 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 60/2018/TLPT- DS ngày 18
tháng 4 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do quyết định giám đốc thẩm s210/2017/DS-GĐT ngày 25/9/2017 của
Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh hủy một
phần bản án dân sự phúc thẩm số 08/2015/DS-PT ngày 13/01/2015 của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 197/2018/QĐ-PT
ngày 25 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ông Võ Hu T, sinh năm 1961, có mt.
Địa chỉ: Số 217/7A, khu 4 thị trấn A, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH
VĨNH LONG
——————————
Bản án số: 125/2018/DS-PT
Ngày 13- 8 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hạnh pc
——————————————————
2
2. B đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1927, vng mt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Văn T là ông Hữu D, sinh
năm 1965 (Theo văn bản ủy quyền ngày 05/7/2018), có mặt
Cùng địa chỉ: S 217/7, khu 4 thị trấn A, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Hu L, sinh năm 1980 ,vắng mt
2. Ông Võ Hu L, sinh năm 1983 , vắng mt
3. Nguyn Th Bé N, sinh năm 1957 , vng mt
Người đại diện theo ủy quyền của ông L; anh L; N là ông Hữu T,
sinh năm 1961 (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/7/2018 và 09/7/2018), có mặt
Cùng địa chỉ: Số 217/7A, khu 4 thị trấn A, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khi kin ngày 18/02/2013 (đưc bổ sung ngày 28/5/2014) và các
li khai tiếp theo, nguyên đơn ông Võ Hu T đồng thi đại din cho bà Nguyễn Th
Bé N, Võ Hu L, Võ Hữu L trình bày:
Vào m 1980 ông được bà ngoi và cha mông cho ông mt phần đất thng ti
sông thuộc chiết tha 297, tờ bn đ số 11 diện tích 121 m
2
, toạ lc khu 4, thị trn A,
huyn B, tỉnh Vĩnh Long, ông đã y dựng 02 n n, phần nhà dưới sông để buôn
bán, nhà tn đ ở.m 1998 cha ông là cụ T m tờ ủy quyền để ông làm thủ tc kê
khai đăng ký quyền s dụng đất, ông đã khai đăng ký xong. Theo đo đạc thực hin
Chỉ thị 299/TTg, ngày 10/11/1980 thuộc thửa 641, din tích 9.500 m
2
, loại đt thổ cư
có 32 hộ sử dng. Theo cơng trình đt năm 1991 là tha 281, tờ bản đồ số 11, din
tích 109 m
2
, loại đất ao; tha 297 din tích 688 m
2
, loại đất thổ vưn; thửa 354, din
tích 15 m
2
, loi đất n ( trong đó chiết tha 297 (thửa 297/1) diện ch 121 m
2
và
chiết tha 354 din tích 12,2 m
2
). Theo tư liu đa cnh thực hin Nghđnh 60/CP
ngày 05/7/1994 gồm c thửa số 72, tbn đsố 32, din tích 72,2 m
2
, loi đt ao;
thửa số 73, din tích 678,9 m
2
, loi đt thổ vườn; thửa 75, din tích 116,1 m
2
, loi đt
th và thửa s 125, tbn đ s28, diện tích 44,6 m
2
, loi đất n. Hiện phần đt
ông đang sử dng thuộc thửa 75 din tích theo đo đạc 118,6 m
2
gắn liền căn n cp 4
và chiết thửa 125 diện ch 12,2 m
2
gắn liền căn n bán tạp hóa. Đến nay ông ca
3
được cp giấy chứng nhn quyền sử dụng đất. Ông yêu cu T án gii quyết công
nhn quyền s dụng đt thửa 75, tbn đsố 32 din tích 118,6 m
2
, chiết tha 125 tờ
bn đs28, din ch 12,2 m
2
thuộc quyn sdụng của ông shu 02 căn nhà.
* Trong đơn yêu cầu phản tố ngày 28/7/2013 (được bổ sung ngày
20/8/2014) và các lời khai tiếp theo, bị đơn cụ Võ Văn T trình bày:
Phần diện tích đất tranh chấp 121 m
2
là đất của cụ và do cụ đứng tên quyền
sử dụng đất. Vào khoảng năm 1980 cụ có cho Võ Hữu T xây một căn nhà ở trên
đất diện tích 121 m
2
. Đến năm 1998 cụ y quyền cho T được quyền sử
dụng quyền sdụng đất diện tích 121 m
2
này. Đến ngày 22/5/2006 cụ làm t
huỷ bgiấy ủy quyền đối với T, cụ lập tờ di chúc ngày 27/12/1996 chia cho
04 con cụ, trong đó có T 10 chỉ vàng 24k và nữ trang khác.
Nay cụ u cầu Toà án buộc vợ chồng T phải di dời n trlại hai thửa đất
thửa 75 diện ch 118,6 m
2
chiết 125 diện ch 12,2 m
2
cho cụ, cụ đồng ý bồi
thường trị gnhà cho Võ Hữu T theo giá quy định.
Tại bản án n sự thẩm số: 41/2014/DS-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án
nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xử, quyết định:
Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hữu T một
phần yêu cầu phản t của bị đơn Võ Văn T.
Công nhận thửa số 75, tờ bản đồ số 32, diện tích 118,6m
2
, loại đất LNQ
chiết thửa 125, tờ bản đồ số 28, diện tích 12,2m
2
, loại đất LNQ khu 4, thị
trấn B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sdụng của Hữu T, Nguyễn
Thị N, ông T, N được sở hữu 02 căn nhà, vật kiến trúc cây trồng trên
đất.
Ông T, bà N nghĩa vụ đến quan nhà nước thẩm quyền khai,
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Buộc ông T, N nghĩa vụ hoàn trả trị giá 12,2m
2
đất thuộc chiết thửa
125 cho ông T bằng số tiền 6.710.000 đồng.
Ngày 02/10/2014 ông Văn T kháng cáo yêu cầu: Buộc ông Hữu T
trả giá trị quyền sử dụng đất 550.000đ/m
2
.
Ngày 07/10/2014 Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn ra
quyết định số 365/BC kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 41/2014/DSST ngày
23/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
4
Vĩnh Long xét xử phúc thẩm sửa án thẩm: Buộc ông T trả giá trị quyền sử
dụng đất cho ông T diện tích 118,6m
2
theo giá thỏa thuận của hai bên đương sự
550.000đ/m
2
.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 08/2015/DS-PT ngày 13/01/2015 của Tòa
án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử, quyết định: Sửa bản án dân sự thẩm số
41/2014/DS-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh nh
Long.
Công nhận thửa đất số 75, tờ bản đồ số 32, diện tích 118,6m
2
thửa số
125 diện tích 12,2m
2
, cùng loại đất LNQ, cùng ở khu 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh
Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng của ông Hữu T Nguyễn Thị N.
Ông T, N được sở hữu 02 căn nhà, vật kiến trúc cây trồng trên diện tích
đất nêu trên.
Ông Hữu T Nguyễn Thị N nghĩa vụ trả giá trị quyền sử
dụng đất cho cụ Võ Văn T 65.230.000 đồng trên diện tích 118,6m
2
và 6.710.000
đồng trên 12,2m
2
cộng 2 khoản 71.940.000 đồng.
Ông Hữu T Nguyễn Thị N nghĩa vụ đến quan thẩm
quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Tại quyết định giám đốc thẩm số 210/2017/DS-GĐT ngày 25/9/2017 của
Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh hủy một
phần bản án dân sự phúc thẩm số 08/2015/DS-PT ngày 13/01/2015 của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với phần diện tích đất 118,6m
2
. Chuyển hồ vụ
án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Võ Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc nguyên đơn nếu ở lại thửa đất 75 thì
nguyên đơn phải trả lại giá trị đất tính là 550.000 đồng/m
2
.
Phía nguyên đơn không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của bị đơn
kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm sau khi
phân tích các tình tiết của vụ án và lý do kháng cáo của bị đơn Võ Văn T về việc
tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng những người tham gia
tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm. Xét thấy tại
phiên tòa bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng o, nhưng phía bị đơn không cung cấp
5
chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, cũng không được
nguyên đơn T thừa nhận đồng ý trả giá trị đất, nên đề nghị bác kháng cáo của cụ
T. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử sửa án thẩm vphần án phí dân sự
thẩm do cụ T người cao tuổi theo Điều 2 Luật người cao tuổi thuộc trường
hợp được miễn án phí. Căn cứ Quyết định giám đốc thẩm số 210/2017 ngày
25/9/2017 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí
Minh, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/8/2018 kháng nghị số 365/BC ngày
07/10/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn là không còn
cần thiết nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long rút kháng nghị s365/BC
ngày 07/10/2014 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn đề nghị Hội đồng
xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị. Bác kháng cáo của bị đơn
Võ Văn T có ông Võ Hữu D làm đại diện theo ủy quyền.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày
của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn Võ Hữu T và bị đơn Võ Văn T có người
đại diện theo pháp luật là ông Võ Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ.
[2] Nguồn gốc thửa đất số 75, tờ bản đồ số 32, diện tích 118,6 m
2
, loại đất
LNQ , toạ lạc khu 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long là của cụ Văn T
cụ Lâm Thị Đ (chết 1983). Hiện nay ông Hữu T đã xây dựng nhà ổn định
nhưng do cụ Võ Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
Năm 1980 cụ T thừa nhận có cho ông T phần đất diện tích 118,6m
2
tại thửa
đất số 75, để ông T xây nhà ở. Theo Giấy y quyền sử dụng đấtdo cụ T lập
ngày 18/6/1996 thì cụ T đề nghị Ủy ban nhân dân thị trấn Trà Ôn chứng nhận
cho ông T được phép sử dụng phần đất diện tích 118,6m
2
thuộc thửa 297 (nay là
thửa 75) và tách phần đất này để ông T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông T sử dụng đến năm 1998, ông đã khai đăng cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng phần đất này nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nhưng hiện nay ông vẫn đang sử dụng ổn định và nộp thuế cho nhà
nước đầy đủ.
6
[3] Năm 2006, giữa ông T cụ T xảy ra tranh chấp, tại biên bản hòa giải
ngày 20/4/2006 của Ủy ban nhân dân thị trấn Trà Ôn, cụ T đồng ý tách cho
ông T thửa đất diện tích 118,6m
2
, n phần đất sông diện ch 12,2m
2
tại
thửa 125, tbản đồ số 28 cụ yêu cầu ông T trả lại cho cụ. Đến ngày 22/5/2006,
cụ T lập Tờ hủy bỏ giấy ủy quyền” nội dung hủy bỏ giấy ủy quyền sử dụng
đất do cụ ký trước đây.
[4] Xét quá trình sử dụng đất của ông T đối với thửa đất số 75, tờ bản đồ số
32 diện tích 118,6m
2
loại đất LNQ tông T đã nhận đất xây nhà, vật kiến trúc
ổn định đến khi xảy ra tranh chấp 26 năm. Quá trình ông T nhận đất làm
nhà thì cụ T không ngăn cản nên ông T đã đăng kê khai xin cấp giấy chứng
nhận nộp thuế. Hiện nay ông T đang quản sử dụng phần đất trên ổn định,
liên tục, công khai. Cho nên, tnhững căn cứ trên đủ sở để công nhận thửa
đất số 75, tờ bản đồ s32, diện tích 118,6m
2
thuộc quyền sử dụng của ông
Hữu T và bà Nguyễn Thị N. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử
dụng đất cho vợ chồng ông T là có căn cứ.
[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên Hội đồng
xét xử chấp nhận. Đối với phần kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân
dân huyện Trà Ôn thì tại phiên tòa vị đại diện viện kiểm sát đã rút quyết định
kháng nghị đối với phần: Buộc ông T trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông T
diện tích 118,6m
2
theo giá thỏa thuận của hai bên đương sự 550.000đ/m
2
. Do đó
Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng nghị này.
[6] V án phí dân s: Do c T người cao tuổi nên căn c vào điểm đ
khoản 1 Điều 12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y
ban thường v Quc Hội nước Cng Hòa Hi Ch Nghĩa Việt Nam v án
phí và l phí Tòa án, min án phí dân s thẩm đối vi c T. Đồng thi do sa
án sơ thẩm v phn án phí nên c T cũng không phải chu án phí phúc thm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 289; khoản
2 Điều 308; Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân
sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
7
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam về án phí và lệ phí Tòa án
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị của Viện trưởng viện
kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Văn T. Sửa bản án dân sự
thẩm s41/2014/DS-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn,
tỉnh Vĩnh Long.
Căn cứ vào Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự 2015 Điều 688
Bộ luật dân sự 2015.
1/ Về nội dung:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hữu T.
ng nhận thửa số 75, tbản đồ số 32, diện ch 118,6 m
2
, loại đất LNQ,
toạ lạc khu 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng của Võ
Hữu T, Nguyễn Thị N (theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất thể hiện các
mốc 1-2; 2-3; 3-4; 4-9; 9-10; 10-1 kèm theo.
Ông T, N nghĩa vụ đến quan nhà nước thẩm quyền khai,
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2/ Về án phí: Căn c Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thưng v Quc Hội nước Cng Hòa Xã Hi Ch Nghĩa
Vit Nam v án phí và l phí Tòa án.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn tn b án phí đối với c Văn T, hoàn tr số tiền tạmng án p cụ T
đã nộp 592.000 đồng theo các bn lai thu số 011845 ny 09/10/2013 số tiền
392.00 và lai thu số 017697 ngày 21/8/2014 số tiền 200.000 đồng tại Chi cục thi
hành án huyện T Ôn.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án thẩm nên cụ T không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm hoàn
trả cụ n T số tiền 200.000 đng tạm ng án p phúc thẩm ngày
16/10/2014 theo lai thu số 017811 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
8
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND CC: 01b;
- CA: 01b;
- VKSND T: 02b;
- TAND H:01b;
- CC THADS H: 01b;
- Các đs: 05b;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Vương Minh Tâm
Tải về
Bản án số 125/2018/DS-PT Bản án số 125/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất