Bản án số 123/2025/LĐ-ST ngày 24/04/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 123/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 123/2025/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 123/2025/LĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 123/2025/LĐ-ST ngày 24/04/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
Số hiệu: | 123/2025/LĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 24/04/2025 |
Lĩnh vực: | Lao động |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

Bản án số: 123/2025/LĐ-ST
Ngày: 24 – 4 – 2025
V/v Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Phước;
2. Bà Đinh Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
186/2024/TLST-LĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về bảo
hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2424/2025/QĐXXST-LĐ
ngày 21 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2979/2025/QĐST-
LĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Y; sinh năm: 1985
Địa chỉ thường trú: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm:
1995 và ông Vũ Ngọc H, sinh năm: 1977; Cùng địa chỉ liên hệ: Số A, H,
phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai làm đại diện theo ủy quyền theo Hợp
đồng ủy quyền số 001786, quyển số 04/2024TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày
02/4/2024 tại Văn phòng C, (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH I
Địa chỉ trụ sở: Phòng 5.09, Lầu E, Tòa nhà S, số A P, phường H, thành phố
T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Minh N, sinh năm: 1995; Địa
chỉ liên lạc: Số D N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh làm đại diện
ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 02/01/2025, (vắng mặt).
Tại Đơn khởi kiện ngày 21/3/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y
có bà Dương Thị T, ông Vũ Ngọc H là đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng
mặt tại phiên tòa và có ý kiến trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị Hồng Y làm việc tại Công ty TNHH I (gọi tắt là Công ty)
từ ngày 16 tháng 7 năm 2020. Quá trình làm việc, hai bên ký kết Hợp đồng lao
động số 00880/HĐLĐ – INX, loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn
nhưng Công ty không giao cho bà Y hợp đồng lao động. Công việc của bà Y là
công nhân chuyền gò, mức lương đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc
6.011.000 đồng/tháng. Ngày 14/3/2023, căn cứ vào thỏa thuận chấm dứt hợp
đồng với người lao động, Công ty đã có Quyết định thôi việc số 00880/QĐTV,
về việc cho nhân viên số ID: 00880 là bà Y nghỉ việc từ ngày 14/3/2023. Quá
trình làm việc tại Công ty, hàng tháng Công ty đều trừ lương của bà Y để tham
gia bảo hiểm xã hội theo quy định gồm bảo hiểm xã hội 8%, bảo hiểm thất
nghiệp 1% và bảo hiểm y tế 1,5%. Sau khi bà Y nghỉ việc, Công ty chỉ mới đóng
bảo hiểm xã hội cho bà Y đến tháng 9/2021. Thời gian từ tháng 10/2021 đến
tháng 02/2023, Công ty chỉ đóng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, chưa
đóng bảo hiểm xã hội, chưa xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm xã hội cho bà
Y theo quy định. Nay bà Y yêu cầu Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội từ tháng
10 năm 2021 đến tháng 02 năm 2023 và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã
hội cho bà Y theo quy định của pháp luật.
Bị đơn Công ty TNHH I do ông Lê Minh N làm đại diện theo ủy quyền
vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, đồng thời không có văn bản ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức
không thu thập được ý kiến trình bày và tài liệu, chứng cứ do Công ty TNHH I
giao nộp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký,
Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn
Thị Hồng Y.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và
thời hiệu khởi kiện:
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y khởi kiện
yêu cầu bị đơn Công ty TNHH I phải đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm
3
2021 đến tháng 02 năm 2023 và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà
Y. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh
chấp về bảo hiểm xã hội” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định
tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có mã số doanh nghiệp:
0313272315 do Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố H đăng ký lần đầu ngày
26/5/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 02/7/2024, xác định Công ty
TNHH I có trụ sở đăng ký hoạt động tại địa chỉ: Phòng 5.09 L, Tòa nhà S, số A
đường P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Dương Thị T
và ông Vũ Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người đại diện hợp pháp
của bị đơn là ông Lê Minh N vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, mặc dù đã
được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan,
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân. Căn cứ khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động
năm 2019 và Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp về bảo
hiểm xã hội không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở. Theo Quyết định
thôi việc số 00880/QĐTV ngày 14/3/2023, Công ty cho bà Nguyễn Thị Hồng Y
nghỉ việc từ ngày 14/3/2023. Ngày 19/5/2023, Công ty gửi Phiếu hẹn ngày
09/3/2024 mời bà Nguyễn Thị Hồng Y đến Chi nhánh Công ty để nhận văn bản
xác nhận bảo hiểm xã hội nhưng khi bà Nguyễn Thị Hồng Y đến thì Công ty
không giải quyết. Sau khi liên hệ Bảo hiểm xã hội huyện X tỉnh Đồng Nai, vào
ngày 12/3/2024, Bảo hiểm xã hội huyện X, tỉnh Đồng Nai xác nhận quá trình
đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị Hồng Y. Sau khi nhận được sổ bảo
hiểm, bà Y mới biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Ngày 21/3/2024, bà
Nguyễn Thị Hồng Y nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ
Đức. Căn cứ khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019, đơn khởi kiện của
bà Nguyễn Thị Hồng Y còn trong thời hiệu khởi kiện.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, bà Y không xuất trình được
hợp đồng lao động bằng văn bản nhưng theo trình bày của bà Y thì giữa bà Y và
Công ty TNHH I có ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản nhưng Công ty
không giao cho bà Y giữ 01 bản hợp đồng. Công ty TNHH I có ủy quyền ông Lê
Minh N tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ
Chí Minh nhưng không văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Tại Bản ghi quá trình đóng bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và Công văn số 37/BHXH ngày 25/02/2025 của
Bảo hiểm xã hội huyện X có nội dung: Công ty TNHH I có tham gia đóng Bảo
4
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Y từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 02 năm
2023 và đóng bảo hiểm xã hội cho bà Y từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 9 năm
2021. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định giữa bà Nguyễn Thị Hồng
Y và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng lao động được
các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện. Nội dung của hợp đồng không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ theo quy định tại
Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 20 và Điều 21 của Bộ luật Lao động
năm 2019, hợp đồng lao động giao kết giữa hai bên đã phát sinh hiệu lực ràng
buộc trách nhiệm pháp lý buộc các bên phải thực hiện. Ngày 14/3/2023, Công ty
TNHH I ra Quyết định thôi việc số 00880/QĐTV cho bà Nguyễn Thị Hồng Y
nghỉ việc từ ngày 14/3/2023. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định giữa bà Y
và Công ty đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 3
Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo trình bày của bà Y thì phía Công ty TNHH I đã vi phạm nghĩa vụ
đóng tiền bảo hiểm xã hội theo cam kết trong hợp đồng lao động giữa hai bên.
Trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng vụ án, Công ty TNHH I không có ý
kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không xuất trình tài liệu,
chứng cứ gì để chứng minh đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng lao
động và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Y. Do đó căn cứ
khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các các tài liệu chứng cứ do
bà Y xuất trình thuộc trường hợp không cần phải chứng minh nên Hội đồng xét
xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để giải quyết vụ án.
Theo Công văn số 37/BHXH ngày 25/02/2025 của Bảo hiểm xã hội huyện
X, tỉnh Đồng Nai cho biết: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng
02/2023, Công ty TNHH I không đóng tiền bảo hiểm xã hội và chưa xác nhận
thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Y. Xét thấy, người sử dụng lao động có
nghĩa vụ hàng tháng trích từ quỹ tiền lương và tiền lương của người lao động để
đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và có trách nhiệm lập hồ sơ để người lao
động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại
Điều 21, Điều 85 và Điều 86 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Việc Công ty
TNHH I hàng tháng có trích tiền lương của người lao động bà Nguyễn Thị Hồng
Y để đóng bảo hiểm xã hội, nhưng không thực hiện đóng vào quỹ bảo hiểm xã
hội tại Cơ quan bảo hiểm xã hội là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người sử
dụng lao động, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
sau khi nghỉ việc tại doanh nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử buộc Công ty TNHH
I có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội trên cơ sở mức lương hàng tháng tương ứng
và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Y theo quy định của pháp
luật, cụ thể: Từ tháng 10/2021 đến tháng 01/2022: Mức lương đóng bảo hiểm xã
hội hàng tháng là 4.913.000 đồng; Từ tháng 02/2022 đến tháng 6/2022: Mức
lương đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng là 5.154.000 đồng; Từ tháng 7/2022 đến
tháng 9/2022: Mức lương đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng là 5.742.000 đồng;
Từ tháng 10/2022 đến tháng 02/2023: Mức lương đóng tiền bảo hiểm xã hội
hàng tháng là 6.011.000 đồng.
5
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp
nhận, căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
buộc bị đơn Công ty TNHH I phải chịu án phí lao động sơ thẩm không có giá
ngạch. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228,
Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 21, Điều 85, Điều 86 và Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm
2014;
Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014);
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y:
Buộc bị đơn Công ty TNHH I có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho
bà Nguyễn Thị Hồng Y theo mã số bảo hiểm xã hội 7909335460, thời gian từ
tháng 10/2021 đến tháng 02/2023 trên cơ sở mức lương 4.913.000 (bốn triệu,
chín trăm mười ba nghìn) đồng/tháng trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021
đến tháng 01/2022; mức lương 5.154.000 (năm triệu, một trăm năm mươi bốn
nghìn) đồng/tháng trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 6/2022;
mức lương 5.742.000 (năm triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn) đồng/tháng
trong khoảng thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2022; mức lương 6.011.000
(sáu triệu, không trăm mười một nghìn) đồng/tháng trong khoảng thời gian từ
tháng 10/2022 đến tháng 02/2023.
Công ty TNHH I có trách nhiệm liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có
thẩm quyền để chốt sổ bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Hồng Y theo quy định của
pháp luật.
6
Buộc Công ty TNHH I phải chịu tiền lãi do chậm đóng tiền bảo hiểm xã
hội, theo mức lãi suất được quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội tương ứng
với thời gian và số tiền chậm đóng.
2. Về án phí: Buộc Công ty TNHH I phải nộp án phí lao động sơ thẩm
300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
- Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 07/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 07/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 19/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 17/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 06/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 06/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm