Bản án số 119/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 119/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 119/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 119/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 119/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Thuận |
| Số hiệu: | 119/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số:119/2024/DS-PT
Ngày: 28-6-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Hùng
Bà Phạm Phong Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lài- Thư ký Tòa án nhân dân tnh Bnh
Thun
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24, 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh Bnh
Thun xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý 13/2024/TLPT-
DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 15 tháng
11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2024/QĐ-PT ngày 26
tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐ-PT ngày 17
tháng 4 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 28/2024/QĐPT-DS ngày
03/5/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 38/2024/Q 03/6/2024/ QĐPT-DS
ngày 03/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần T8.
Địa ch: Khu V, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quang H – Chức vụ: Giám đốc
Công ty cổ phần T8; (Nay là ông Tài Công T - Chức vụ Giám đốc Công ty cổ
phần T8, theo Giấy chứng nhn đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần Đ1 thay
đổi lần thứ 3 ngày 23/8/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh B cấp);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1979; Nơi cư
trú: Chung cư N, đường N, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh; theo Giấy ủy
quyền lp ngày 17/11/2022 được công chứng tại Văn phòng C2, địa ch A L,

2
phường N, qun T, thành phố Hà Nội và Giấy ủy quyền số 01/2023/GUQ-BA
ngày 29/9/2023 được lp tại Công ty cổ phần T8.
Bị đơn: 1/ Ông Lương Văn T1, sinh năm 1979
2/ Bà Đinh Thị Tuyết H1, sinh năm 1980;
Cùng nơi cư trú: 24_A, Tp thể V, phường V, qun Đ, thành phố Hà Nội;
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Lương Văn T1: Lut sư Trần Hoài
V - Đoàn lut sư thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Căn hộ 1205-GH4-CT17, Khu đô thị V, phường V, qun L, thành phố
Hà Nội;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2: Lut sư Lê
Minh T3 – Công ty L2; Địa ch: P, Tòa nhà S, khu đô thị S, phường P, qun L,
Thành phố Hà Nội.
2/ Ông Đào Văn B, sinh năm 1975;
Địa ch: H KP6, phường T, thành phố B, tnh Đồng Nai;
3/ Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1954;
Địa ch: D đường H, phường X, thành phố L, tnh Đồng Nai;
4/ Ông Đinh Xuân B1, sinh năm 1978;
Địa ch: P số I ngõ B X, phường D, qun C, thành phố Hà Nội;
5/ Văn phòng C3 (Nay là Văn phòng C4); Địa ch tại G Đại lộ H, phường
P, thành phố P, tnh Bnh Thun;
6/ Hộ kinh doanh trang trại G,
Địa ch: Xóm F, thôn G, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun:
Người đại diện hộ kinh doanh: Ông Đào Văn C, sinh năm 1958; Nơi cư trú:
CH 19.3, Lô A, Chung cư C V, phường C, qun A, thành phố Hồ Chí Minh.
7/ Công ty cổ phần C5 – chi nhánh Đ2.
Địa ch: Số A lô S khu phố A, phường A, thành phố B, tnh Đồng Nai.
Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh;
Người kháng cáo: Ông Lương Văn T1 là bị đơn; Bà Nguyễn Thị T2 là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm th nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khi kiện, các lời khai thể hiện tại vụ án do ông Phạm Văn K là
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trnh bày:
Công ty Cổ phần T8 (sau đây gọi là “Công ty T8”) được thành lp ngày
19/6/2020 theo Giấy chứng nhn đăng ký doanh nghiệp số 3401206758 do Sở Kế

3
hoạch và Đầu tư tnh Bnh Thun cấp; Công ty có trụ sở chính tại khu V, xã G,
huyện T, tnh Bnh Thun. Vốn điều lệ 30.000.000.000 đồng. Mệnh giá 10.000
đồng/cổ phần. Tổng số 3.000.000 cổ phần. Do ông Dương Quang H, sinh năm
1978, nơi cư trú E Nhà A, phường H, qun H, thành phố Hà Nội là người đại diện
theo pháp lut. Theo sổ đăng ký cổ đông th tỷ lệ vốn góp như sau: Ông Đào Văn
B có 2.100.000 cổ phần phổ thông; Ông Lương Văn T1 có 150.000 cổ phần phổ
thông; Ông Nguyễn Hữu Đ có 750.000 cổ phần phổ thông; Năm 2020, các cổ
đông đã cùng nhau góp tiền nhn chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện
T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do
UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy
T4. Các cổ đông cùng thống nhất thỏa thun để cho ông Lương Văn T1 đứng tên
trên giấy chứng nhn. Sau đó Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang
tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020.
Ngày 24/6/2021, mặc dù không được sự chấp thun, đồng ý cũng như không
được sự uỷ quyền của các cổ đông và của Công Ty T8, ông Lương Văn T1 (và
nhn uỷ quyền của bà Đinh Thị Tuyết H1) đã tự ý tiến hành ký kết Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ H, phường P, thành phố P,
tnh Bnh Thun) để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn
Thị T2 (sinh năm 1982, CCCD số 027182000336, cấp tại Cục Cảnh sát ĐKQL
Cư trú và DLQD về Dân cư, có địa ch tại Căn hộ A Khu đô thị V, phường V,
qun L, thành phố Hà Nội).
Nhn thấy, việc ký kết và thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nêu trên của ông Lương Văn T1 mà không có sự đồng ý, chấp thun hay
ủy quyền của các cổ đông và Công ty T8, đã xâm phạm và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông và Công ty T8, căn cứ quy định
tại Bộ lut Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ Lut Dân sự 2015, Lut Doanh nghiệp
2020 và các quy định pháp lut có liên quan, v vy Công ty T8 khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
1. Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được xác lp ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với
bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
,
tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun
cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp

4
nht biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020. Được công chứng
tại Văn phòng C3, địa ch: G Đại lộ H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun
theo số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 24/6/2021;
2. Đề nghị Tòa án công nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích đất nêu trên cho Công ty cổ phần T8.
3. Đề nghị Tòa án tuyên bố Văn bản công chứng của Văn phòng C3 (nay là
Văn phòng C4) đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là
vô hiệu.
- Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí
định giá tài sản, nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu g thêm.
- Về án phí: Nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp
lut.
- Về trị giá tài sản đang tranh chấp: Tại Biên bản định giá tài sản ngày
19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản, đã xác định giá trị đất tranh chấp theo
giá thị trường tại thời điểm định giá là 8.109.408.000 đồng (tám tỷ một trăm lẻ
chín triệu bốn trăm lẻ tám nghn đồng). Nguyên đơn thống nhất kết quả định giá
tài sản của Hội đồng định giá, không yêu cầu g thêm.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, bị đơn ông Lương Văn T1 trình
bày:
Công ty T8 được thành lp ngày 19/6/2020 theo Giấy chứng nhn đăng ký
doanh nghiệp số 3401206758 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh Bnh Thun cấp.
Công ty có trụ sở chính tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun. Vốn điều
lệ 30.000.000.000 đồng. Mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần. Tổng số 3.000.000 cổ
phần. Do ông Lương Văn T1 là người đại diện theo pháp lut. Thành viên cổ đông
gồm: Ông Nguyễn Hữu Đ; Ông Lương Văn T1; Công ty cổ phần P; Năm 2020,
ông Lương Văn T1 cùng với ông Dương Huy T4 thỏa thun nhn chuyển nhượng
của ông Dương Huy T4 một lô đất có diện tích 119.256,0m
2
, thửa đất số 8, tờ bản
đồ số 75, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng
nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun
cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4. Chi nhánh văn phòng Đ3 cp
nht biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020. Giá chuyển nhượng
là hơn 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng). Ông Lương Văn T1 là người trực tiếp
thỏa thun, giao dịch và nhiều lần chuyển tiền cho ông Dương Huy T4 qua tài
khoản ngân hàng và tiền mặt.
Thời điểm mua đất nói trên với tư cách là cổ đông công ty, đại diện pháp
lut của Công ty, ông T1 không hề ký phiếu chi, biên bản họp, nghị quyết liên

5
quan đến việc mua đất. Do vy, ông T1 khẳng định nguyên đơn cho rằng diện tích
đất trên là của Công ty T8 là không có căn cứ.
Đến ngày 24/6/2021, ông Lương Văn T1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích
đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị T2; Giá chuyển nhượng là 5.000.000.000 đồng
(năm tỷ đồng). Ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 tiến hành ký kết Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03533, quyển số
04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ H, phường P,
thành phố P, tnh Bnh Thun) để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho
bà Nguyễn Thị T2.
Ông Lương Văn T1 khẳng định toàn bộ diện tích đất nêu trên là tài sản của
cá nhân ông T1 chứ không phải tài sản của Công ty T8. Ông T1 chuyển nhượng
đất cho bà Nguyễn Thị T2 là hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Văn bản công chứng
của Văn phòng C3 là hoàn toàn đúng pháp lut. Do đó ông T1 không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
- Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí
định giá tài sản, nguyên đơn tự nguyện chịu, bị đơn không yêu cầu g thêm.
- Về án phí: Bị đơn đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp lut.
- Về trị giá tài sản đang tranh chấp: Tại Biên bản định giá tài sản ngày
19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản, đã xác định giá trị đất tranh chấp theo
giá thị trường tại thời điểm định giá là 8.109.408.000 đồng (tám tỷ một trăm lẻ
chín triệu bốn trăm lẻ tám nghn đồng). Bị đơn không có ý kiến g thêm.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan ông Đào Văn C trình bày:
Công ty T8 được thành lp ngày 19/6/2020 theo Giấy chứng nhn đăng ký
doanh nghiệp số 3401206758 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh Bnh Thun cấp.
Công ty có trụ sở chính tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun. Vốn điều
lệ 30.000.000.000 đồng. Mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần. Tổng số 3.000.000 cổ
phần. Tại thời điểm thành lp do ông Dương Quang H, sinh năm 1978, nơi cư trú
E Nhà A, phường H, qun H, thành phố Hà Nội là người đại diện theo pháp lut
(Hiện nay do ông Tài Công T là người đại diện theo pháp lut). Theo sổ đăng ký
cổ đông th tỷ lệ vốn góp như sau: Ông Đào Văn B có 2.100.000 cổ phần phổ
thông; Ông Lương Văn T1 có 150.000 cổ phần phổ thông; Ông Nguyễn Hữu Đ
có 750.000 cổ phần phổ thông;
Tại thời điểm năm 2020 các cổ đông trong Công ty Cổ phần T8 bao gồm:
- Công ty cổ phần P (Do ông Đinh Xuân B1 làm Chủ tịch Hội đồng quản
trị) có 2.100.000 cổ phần phổ thông (sau này chuyển giao cổ đông lại cho ông
Đào Văn B);

6
- Ông Nguyễn Hữu Đ có 750.000 cổ phần phổ thông;
- Ông Lương Văn T1 có tên trong danh sách cổ đông nhưng thực chất ông
T1 không góp vốn vào Công ty T8 mà ch đứng tên đại diện theo pháp lut do Hội
đồng quản trị Công ty T8 ch định.
Năm 2020, các cổ đông đã góp tiền và vay tiền để nhn chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
,
tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun
cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4. Các cổ đông cùng thống nhất
thỏa thun để cho ông Lương Văn T1 đứng tên (thống nhất thỏa thun miệng với
nhau đồng thời ngày 29/11/2021 ông T1 có ký tên xác nhn việc được giao đứng
tên trên giấy chứng nhn, đồng thời xác nhn toàn bộ số tiền nhn chuyển nhượng
là tiền của Công ty T8). Sau đó Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang
tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020.
Tại thời điểm này Công ty T8 có vay của Công ty cổ phần P số tiền
8.150.000.000 (tám tỷ một trăm năm mươi triệu đồng) (vay vào ngày 30/7/2020),
tại thời điểm nhn chuyển nhượng th Công ty cổ phần P có số vốn bằng tiền mặt
là 15.250.000.000 đồng.
Ngày 24/6/2021, mặc dù không được sự chấp thun, đồng ý cũng như không
được sự uỷ quyền của các cổ đông và của Công ty T8, ông Lương Văn T1 (và
nhn uỷ quyền của bà Đinh Thị Tuyết H1 là vợ ông T1) đã tự ý tiến hành ký kết
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03533, quyển số
04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ H, phường P,
thành phố P, tnh Bnh Thun) (sau đây gọi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”), để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị
T2.
Tại thời điểm Công ty T8 nhn chuyển nhượng đất của ông Dương Huy T4
thì ông Đào Văn C không có cổ phần trong Công ty T8 nhưng được ông Nguyễn
Hữu Đ giao làm người đại diện cổ đông cho ông Đ. Từ cuối năm 2020, Công ty
T8 do ông C đại diện trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên, tiến hành dọn
dẹp mặt bằng, san lấp mặt bằng, xây dựng tường rào bao quanh đất, xây dựng các
nhà xưởng. Ngày 25/01/2021 Công ty T8 ký hợp đồng cho Công ty cổ phần C5-
Chi nhánh tại Đồng Nai, địa ch 0 Lô S khu phố A, phường A, thành phố B, tnh
Đồng Nai thuê để sản xuất kinh doanh trang trại gà đồng thời giao toàn bộ diện
tích đất và nhà xưởng cho ông Đào Văn C trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động
của Công ty 3F Việt.
Hiện nay Công ty T8 đã giao lại toàn bộ diện tích đất và nhà xưởng cho Hộ

7
kinh doanh trang trại G do ông Đào Văn C làm chủ hộ tiếp tục triển khai dự án và
đã bán một phần tài sản cho H2 kinh doanh trang trại G (được thành lp ngày
01/12/2021 theo Giấy chứng nhn đăng ký hộ kinh doanh do Phòng Tài chính –
Kế hoạch – UBND huyện T cấp ngày 01/12/2021). Tại thời điểm dọn dẹp mặt
bằng, san lấp mặt bằng, xây dựng tường rào bao quanh đất, xây dựng các nhà
xưởng đều có mặt ông Lương Văn T1 là người đại diện của Công ty T8. Bà
Nguyễn Thị T2 cũng có tham gia một số hoạt động khi triển khai dự án.
Hiện nay, Hộ kinh doanh trang trại G do ông Đào Văn C là chủ hộ, ông
Lương Văn T1 là thành viên hộ. Hiện nay Công ty cổ phần C5- Chi nhánh tại
Đồng Nai đã tiếp tục ký hợp đồng thuê tài sản của H2 kinh doanh trang trại G vào
ngày 07/02/2022 và đang sản xuất, kinh doanh trên thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75.
Nhn thấy, việc ký kết và thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nêu trên của ông Lương Văn T1 mà không có sự đồng ý, chấp thun hay
ủy quyền của các cổ đông và Công ty T8, đã xâm phạm và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông và Công ty T8. Do đó ông C
đề nghị Tòa án chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T8.
Ngoài ra, ông C đang thực hiện việc nhn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần
của ông Nguyễn Hữu Đ tại Công ty T8 do đó việc giải quyết vụ án có liên quan
trực tiếp đến quyền lợi của ông C nên ông đề nghị Tòa án sớm buộc bà Nguyễn
Thị T2 phải trả lại Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần T8
để Công ty thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo đúng
quy định của pháp lut về đất đai.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan ông Đào Văn B và ông Nguyễn Hữu Đ thống nhất trnh bày:
Công ty T8 được thành lp ngày 19/6/2020 theo Giấy chứng nhn đăng ký
doanh nghiệp số 3401206758 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh Bnh Thun cấp.
Công ty có trụ sở chính tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun. Ông Đào
Văn B và ông Nguyễn Hữu Đ đều là cổ đông của Công ty T8. Năm 2020, các cổ
đông đã góp tiền và vay tiền để nhn chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G,
huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833
do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương
Huy T4. Các cổ đông cùng thống nhất thỏa thun để cho ông Lương Văn T1 đứng
tên trên giấy chứng nhn. Sau đó Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động
sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020. Ngày 24/6/2021, mặc dù không được
sự chấp thun, đồng ý cũng như không được sự uỷ quyền của các cổ đông và của
Công ty T8, ông Lương Văn T1 (và nhn uỷ quyền của bà Đinh Thị Tuyết H1 là

8
vợ ông T1) đã tự ý tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa
ch tại G Đại lộ H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun) để chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị T2. Nhn thấy, việc ký kết và thực
hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của ông Lương Văn
T1 mà không có sự đồng ý, chấp thun hay ủy quyền của các cổ đông và Công ty
T8, đã xâm phạm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
các cổ đông và Công ty T8 và cá nhân ông Đào Văn B, ông Nguyễn Hữu Đ. Do
đó ông B, ông Đ đều đề nghị Tòa án chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Công ty T8.
Ông Đào Văn B và ông Nguyễn Hữu Đ không có yêu cầu độc lp trong vụ
án, đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan ông Đinh Xuân B1 trình bày:
Công ty T8 được thành lp ngày 19/6/2020 theo Giấy chứng nhn đăng ký
doanh nghiệp số 3401206758 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh Bnh Thun cấp.
Công ty có trụ sở chính tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun. Ông Đinh
Xuân B1 là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty T8 tại thời điểm thành lp.
Tại thời điểm này ông Lương Văn T1 đang làm nhân viên của Công ty P do ông
B1 làm Giám đốc nên ông B1 bổ nhiệm ông Lương Văn T1 làm Giám đốc Công
ty T8 theo Quyết định số 01/2020/QĐ-HĐQT ngày 19/6/2020. Việc đàm phán,
nhn chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75,
diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun đều
do Công ty T8 tiến hành và đến khi thanh toán tiền cũng như ký kết các văn bản
công chứng chuyển nhượng th được giao nhiệm vụ cho ông Lương Văn T1 làm
giám đốc đại diện thực hiện giao dịch. Việc chuyển nhượng đất giữa ông T1 với
và Nguyễn Thị T2 là không đúng. Ông Lương Văn T1 với bà Nguyễn Thị T2 đều
là nhân viên của ông B1 và đều biết rõ toàn bộ diện tích đất tranh chấp là tài sản
thuộc sở hữu của Công ty T8 đầu tư và ông T1 ch là người đại diện đứng tên.
Tại thời điểm chuyển nhượng th giá trị hợp đồng chuyển nhượng đất giữa
Công ty T8 với ông Dương Huy T4 trị giá 8.141.000.000 đồng. Công ty T8 đã
giải ngân (có chứng từ kế toán chứng minh). Cụ thể: Ngày 30/7/2020 trả cho ông
Dương Huy T4 số tiền 6.938.000.000 đồng. Theo ủy nhiệm chi từ Công ty T8 với
nội dung: “Công ty cổ phần T8 thanh toán ht tiền mua đất”. Ngày 30/7/2020
cũng thực hiện việc ủy nhiệm chi trả cho ông Dương Huy T4 số tiền 1.000.000.000
đồng. Theo ủy nhiệm chi từ Công ty T8 với nội dung: “Công ty cổ phần T8 chuyển
một phần tiền mua đất”. Số tiền còn lại 203.000.000 đồng ông T4 không nhn tiền
trực tiếp mà ủy quyền cho Công ty T9 ông T4 nộp tiền thực hiện nghĩa vụ thuế

9
thu nhp cá nhân và thuế trước bạ. Đến ngày 03/8/2020 Công ty đã căn cứ vào đề
xuất chi của ông T1 để chi số tiền này đồng thời ông T1 tiến hành nộp thuế cho
Nhà nước.
Như vy, nguồn tiền nhn chuyền nhượng đất hoàn toàn là tiền của Công
ty T8 không phải là tiền của cá nhân ông Lương Văn T1. Ông Đinh Xuân B1
không ch đạo và cũng không có văn bản nào đồng ý hoặc cho phép ông T1 chuyển
nhượng đất cho bà Nguyễn Thị T2. Ông B1 cũng không nhn bất cứ một khoản
tiền nào của ông T1 liên quan đến việc chuyển nhượng đất giữa ông T1 và bà T2.
Do đó, ông Đinh Xuân B1 khẳng định việc chuyển nhượng đất của Công ty T8
giữa ông T1 và bà T2 mà không được sự đồng ý của ông B1 với tư cách là Chủ
tịch Hội đồng quản trị là không đúng quy định của pháp lut, v vy ông B1 đề
nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp
ngày 24/6/2021 giữa ông B1 và bà T2 được công chứng tại Văn phòng C3 là giao
dịch dân sự vô hiệu.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án người có quyền và nghĩa vụ liên
quan ông Tài Công T trình bày:
Ông Tài Công T được Công ty T8 bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty T8 theo
Nghị quyết Hội đồng quản trị số 15-08/2023/NQ-HĐQT ngày 15/8/2023 và theo
Giấy chứng nhn đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần đăng ký thay đổi lần thứ
3 ngày 23/8/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tnh B cấp. Trước đây ông T là nhân
viên của Công ty T8. Ông T là người trực tiếp liên hệ với ông Dương Huy T4 để
nhn chuyển nhượng đất cho Công ty T8 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75,
diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo
Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh
Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4. Thời điểm nhn
chuyển nhượng là khoảng hơn 8.000.000.000 đồng (hơn tám tỷ đồng). Tại thời
điểm giao dịch, ông T là người trực tiếp giao dịch với ông Dương Huy T4, ngoài
ra còn có ông Kiều Quang T5 và Lương Văn T1 đều là nhân viên của Công ty Cổ
phần T8. Sau khi thỏa thun thống nhất giá cả th Công ty T8 có đặt cọc trước cho
ông T4 số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) bằng hnh thức chuyển khoản.
Sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên th phía
Công ty T8 đã chuyển khoản tất toán toàn bộ số tiền chuyển nhượng cho ông T4.
Do thời điểm chuyển nhượng th ông T1 có chức vụ là Giám đốc công ty nên các
thành viên trong công ty đều thống nhất để cho ông T1 đứng tên trên giấy chứng
nhn.
Tuy nhiên, ngày 24/6/2021, mặc dù không được sự chấp thun, đồng ý cũng
như không được sự ủy quyền của các cổ đông và của Công ty T8, ông Lương Văn

10
T1 (và nhn uỷ quyền của bà Đinh Thị Tuyết H1) đã tự ý tiến hành ký kết Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03533, quyển số
04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ H, phường P,
thành phố P, tnh Bnh Thun), để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho
bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1982, CCCD số 027182000336, cấp tại Cục Cảnh
sát ĐKQL Cư trú và DLQD về Dân cư, có địa ch tại Căn hộ A Khu đô thị V,
phường V, qun L, TP ..
Ông T nhn thấy, việc ký kết và thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nêu trên của ông Lương Văn T1 mà không có sự đồng ý, chấp thun
hay uỷ quyền của các cổ đông và Công ty T8, đã xâm phạm và ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông và Công ty T8. Do đó Công ty
T8 khởi kiện cá nhân ông T1. Yêu cầu ông T1 phải có trách nhiệm trả lại Giấy
chứng nhn cho công ty. V vy ông T đề nghị Tòa án chấp nhn toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Công ty T8.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người có quyền và nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Ngày 24/6/2021, bà Nguyễn Thị T2 có nhn chuyển nhượng của ông Lương
Văn T1 một lô đất có diện tích 119.256,0m
2
đất, thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số
75, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun
cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4. Chi nhánh văn phòng Đ3 cp
nht biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020. Giá chuyển nhượng
là 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Hai bên cùng tiến hành ký kết Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ H, phường P, thành phố P,
tnh Bnh Thun). Trước khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, khoảng năm
2020, bà T2 được ông T1 đưa đến thực địa xem đất th bà T2 nhn thấy toàn bộ
đất được trồng cây cao su và trồng lạc, thời điểm này ông T1 cũng đang có mặt
và tổ chức việc xây dựng. Sau khi nhn chuyển nhượng, bà T2 cũng đến thực địa
và nhn thấy ông T1 có tiến hành chặt cây cao su, đổ đất, san lấp mặt bằng. Tuy
nhiên do bà T2 và ông T1 có mối quan hệ làm ăn nên bà T2 không có ý kiến phản
đối việc ông T1 chặt cây cao su, đổ đất, san lấp mặt bằng, xây dựng. Bà T2 khẳng
định toàn bộ diện tích đất nêu trên là tài sản của cá nhân bà T2, được chuyển
nhượng hợp pháp, đúng quy định của pháp lut, được công chứng đúng theo quy
định. Do đó bà T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công
ty T8 Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người có quyền và nghĩa vụ liên

11
quan Văn phòng C3 (Nay là Văn phòng C4) trình bày:
Ngày 24/6/2021, Công chứng viên Nguyễn D tiếp nhn hồ sơ theo yêu cầu
công chứng và thụ lý Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 03533,
quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Lương Văn T1 cùng vợ là bà Đinh Thị
Tuyết H1 (bà Đinh Thị Tuyết H1 ủy quyền cho ông Lương Văn T1 tham gia giao
dịch) và bà Nguyễn Thị T2, đối tượng giao dịch là thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75,
theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 được UBND huyện T,
tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019, cp nht biến động ngày 25/8/2020. Thành
phần hồ sơ để yêu cầu chứng nhn Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nêu trên đầy đủ, Công chứng viên Nguyễn D thụ lý và giải quyết hồ sơ theo đúng
trnh tự và quy định của pháp lut. Công chứng viên Nguyễn D hiện nay không
còn hành nghề tại Văn phòng C3 nay là Văn phòng C4. Trường hợp Tòa án nhân
dân huyện Tánh Linh xem xét, giải quyết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất có liên quan trong vụ án th ch đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định
của pháp lut và Văn phòng C4 sẽ tôn trọng, thực hiện các quyết định của Tòa án
đồng thời xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
Lời khai trong quá trnh giải quyt vụ án, người làm chứng ông Dương Huy
T4 trình bày:
Trước đây ông Dương Huy T4 có chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần T8
thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G,
huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833
do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương
Huy T4. Giá chuyển nhượng khoảng hơn 8.000.000.000 đồng (hơn tám tỷ đồng)
(do thời gian đã lâu ông T4 không nhớ cụ thể). Tại thời điểm giao dịch, ông T4
có trực tiếp đứng ra giao dịch với ông Tài Công T, anh Kiều Văn T6 và Lương
Văn T1 đều là nhân viên của Công ty cổ phần T8. Việc nhn tiền chuyển nhượng
đất thông qua hnh thức chuyển khoản. Ban đầu phía Công ty cổ phần T8 có đặt
cọc trước cho ông T4 số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) bằng hnh thức
chuyển khoản. Sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu
trên thì phía Công ty cổ phần T8 đã chuyển khoản tất toán toàn bộ số tiền chuyển
nhượng cho ông T4. Theo ông T4 được biết th mọi giao dịch chuyển nhượng đất
được thực hiện giữa các bên đều là giao dịch giữa cá nhân ông T4 với Công ty cổ
phần T8, nguồn tiền ông T4 nhn cũng của Công ty T8 nên toàn bộ tài sản này là
cả Công ty cổ phần T8 chứ không phải của cá nhân ông Lương Văn T1. Mặt khác,
lúc giao dịch chuyển nhượng các cổ đông của Công ty cổ phần T8 cùng thống
nhất thỏa thun để cho ông Lương Văn T1 đứng tên trên giấy chứng nhn. Sau đó

12
Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang tên ông Lương Văn T1. Ông
T4 khẳng định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông T4 với
Công ty cổ phần T8 đã thực hiện xong. Ông T4 không liên quan g đến việc tranh
chấp giữa các đương sự trong vụ án. Ông T4 cam kết lời khai trên là hoàn toàn
đúng sự tht và chịu trách nhiệm trước pháp lut về lời khai của mnh. Đồng thời
hiện nay ông T4 bn rất nhiều công việc, không có thời gian đến Tòa. Do đó ông
T4 đề nghị Tòa án không đưa ông T4 vào tham gia tố tụng, đề nghị Tòa án giải
quyết, xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa:
+ Ý kin của nguyên đơn do ông Phạm Văn K là người đại diện theo ủy
quyền trnh bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể:
1. Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được xác lp ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với
bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
,
tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun
cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp
nht biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020. Được công chứng
tại Văn phòng C3, địa ch: G Đại lộ H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun
theo số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 24/6/2021;
2. Đề nghị Tòa án công nhn và giao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích đất nêu trên cho Công ty cổ
phần T8.
3. Đề nghị Tòa án tuyên bố Văn bản công chứng của Văn phòng C3 (nay là
Văn phòng C4) đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là
vô hiệu.
4. Đề nghị Tòa án tuyên buộc bà Nguyễn Thị T2 và ông Lương Văn T1
phải có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số CQ117264 do
UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 cho Công ty cổ phần T8.
- Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí
định giá tài sản, nguyên đơn tự nguyện chịu, không yêu cầu g thêm.
- Về án phí: Nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp
lut.
- Về trị giá tài sản đang tranh chấp: Tại Biên bản định giá tài sản ngày
19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản, đã xác định giá trị đất tranh chấp theo
giá thị trường tại thời điểm định giá là 8.109.408.000 đồng (tám tỷ một trăm lẻ
chín triệu bốn trăm lẻ tám nghn đồng). Nguyên đơn thống nhất kết quả định giá

13
tài sản của Hội đồng định giá, không yêu cầu g thêm.
+ Ý kin của bị đơn ông Lương Văn T1: Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn với các lý do sau:
Thời điểm mua đất nói trên với tư cách là cổ đông công ty, đại diện pháp
lut của công ty, ông T1 không hề ký phiếu chi, biên bản họp, nghị quyết liên
quan đến việc mua đất. Do vy toàn bộ diện tích đất tranh chấp trong vụ án là tài
sản của cá nhân ông T1 với ông Đinh Xuân B1. Số tiền 1.000.000.000 đồng (một
tỷ đồng) mà Công ty T8 chuyển đặt cọc đất cho ông T4 đã được Công ty thu hồi.
Nguồn tiền mua đất th ông Đinh Xuân B1 giao cho em rể của ông B1 là ông
Quyền L thực hiện các vấn đề thu, chi của Công ty T8. Ông Quyền L không phải
thuộc biên chế của Công ty T8. Ông Đào Văn B, ông Nguyễn Hữu Đ không có tư
cách là cổ đông Công ty T8.
Đến ngày 24/6/2021, ông Lương Văn T1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích
đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị T2 theo ý kiến ch đạo trực tiếp bằng lời nói của
ông Đinh Xuân B1, thời điểm ông B1 ch đạo ông T1 bán đất th ông Đào Văn C
chưa phải là cổ đông của Công ty T8. Ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2
tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng
03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3 (có địa ch tại G Đại lộ
H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun) để chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị T2 là hoàn toàn đúng quy định của pháp lut. Hợp
đồng chuyển nhượng đã được công chứng nên có hiệu lực pháp lut. Việc bà T2
chưa thực hiện thủ tục đăng ký sang tên trên giấy chứng nhn là việc cá nhân của
bà T2.
+ Ý kin của Luật sư Lê Minh T3: Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn với các lý do sau:
Thời điểm mua đất nói trên với tư cách là cổ đông công ty, đại diện pháp
lut của công ty, ông T1 không hề ký phiếu chi, biên bản họp, nghị quyết liên
quan đến việc mua đất. Do vy toàn bộ diện tích đất tranh chấp trong vụ án là tài
sản của cá nhân ông T1. Biên bản xác nhn đề ngày 29/11/2021 giữa ông Đào
Văn C, ông Đinh Xuân B1 và ông Lương Văn T1 (BL số 32) không có giá trị pháp
lý v tại thời điểm này ông T1 đã thực hiện việc chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn
Thị T2.
Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Lut đất đai năm 2013 th ông T1 được
cấp giấy chứng nhn đúng quy định và có quyền chuyển nhượng đất cho bà T2.
Giao dịch chuyển nhượng giữa bà T2 và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp,
đủ điều kiện có hiệu lực; hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng
cứ; những tnh tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không
phải chứng minh theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Lut công chứng năm 2014;

14
Điều 117 Bộ lut dân sự năm 2015; Điều 92 Bộ lut tố tụng dân sự năm 2015;
Mặt khác bà Nguyễn Thị T2 là người thứ ba ngay tnh trong giao dịch dân
sự nhn chuyển nhượng quyền sử dụng đất do đó bà T2 được pháp lut bảo vệ
theo quy định tại Điều 133 Bộ lut dân sự năm 2015.
+ Ý kin của bà Nguyễn Thị T2: Thống nhất theo ý kiến bảo vệ quyền lợi
của Lut sư Lê Minh T3, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
+ Ý kin của ông Đào Văn C: Đề nghị Tòa án chấp nhn toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Bởi các lý do:
Tại thời điểm Công ty T8 nhn chuyển nhượng đất của ông Dương Huy T4
thì Công ty T8 chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư Trang trại
gà G nên không thể đứng tên pháp nhân trên giấy chứng nhn do đó các thành
viên cổ đông công ty mới thỏa thun thống nhất để ông Lương Văn T1 với tư cách
là người đại diện theo pháp lut đứng tên trên giấy chứng nhn. Tuy Công ty
không ban hành Nghị quyết, Biên bản họp cổ đông nhưng sau đó ông T1 và công
ty đều có văn bản xác nhn toàn bộ diện tích đất là tài sản của Công ty T8. Toàn
bộ nguồn tiền chuyển cho ông Dương Huy T4 đều là tiền của Công ty T8, tất cả
những lần chuyển tiền đều có ủy nhiệm chi, chứng từ sổ sách kế toán của công ty
thể hiện, chính ông T4 cũng xác nhn nhn tiền thông quan Công ty T8 chuyển
khoản và đã nhn đủ tiền chuyển nhượng.
Về việc ông T1 cho rằng số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) mà Công
ty T8 chuyển đặt cọc đất cho ông T4 đã được Công ty thu hồi là không đúng. Sau
khi thu hồi tiền th ông Quyền L đã chuyển trả lại đứng tên ông T1 để ông T1
chuyển cho ông T4 (có văn bản giải trnh của ông Quyền L) với danh nghĩa giám
đốc Công ty T8.
Tại thời điểm ông T1 chuyển nhượng đất cho bà T2 vào ngày 24/6/2021 thì
Công ty T8 đang tiến hành xây dựng nhà xưởng, hơn ai hết ông T1 với tư cách là
Giám đốc và đang ch huy việc xây dựng th ông T1 phải biết rõ toàn bộ diện tích
đất là tài sản của Công ty T8 nhưng ông T1 vẫn chuyển nhượng cho bà T2 là
không đúng quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã quyt định:
Áp dụng:
- khoản 2, khoản 3, khoản 9 và khoản 11 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều
229; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ lut tố tụng dân sự;
- khoản 7 Điều 95; khoản 1 Điều 161; khoản 5 Điều 166; khoản 3 Điều
188;Lut đất đai năm 2013

15
- Điểm c khoản 1 Điều 117; Điều 122; Điều 123; Điều 500, 501, 503 của
Bộ lut dân sự năm 2015.
- Điều 71; Điều 72 Lut Doanh nghiệp năm 2020;
- Điều 5 Lut Công chứng năm 2014.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty
cổ phần T8.
1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp
ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn
Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại
khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ
cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019
đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang
tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020, được công chứng tại Văn phòng C3 (nay
là Văn phòng C4, địa ch: G Đại lộ H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun
theo số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 24/6/2021 là
vô hiệu;
2. Công nhn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích
119.256,0m
2
, thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tọa lạc tại khu vực B, xã G,
huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833
do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương
Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang tên ông Lương Văn
T1 ngày 25/8/2020 thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty cổ phần T8.
- Giao cho Công ty cổ phần T8 được quyền quản lý, sử dụng diện tích
119.256,0m
2
, thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tọa lạc tại khu vực B, xã G,
huyện T, tnh Bnh Thun và toàn bộ tài sản gắn khác liền với thửa đất nêu trên.
- Công ty cổ phần T8 có trách nhiệm đăng ký kê khai, đăng ký biến động
theo hiện trạng sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và để cơ quan,
cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp cp nht biến động Giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lut về đất đai.
- Bà Nguyễn Thị T2 và ông Lương Văn T1 có trách nhiệm giao Giấy chứng
nhn quyền sử dụng đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND
huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4, Chi

16
nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày
25/8/2020 cho Công ty cổ phần T8 hoặc khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
3. Tuyên bố Văn bản công chứng của Văn phòng C3 nay là Văn phòng C4
đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp ngày 24/6/2021
giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn Thị T2 được công
chứng tại trang 4 của hợp đồng đối với thửa đất thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tọa
lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun là vô hiệu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và
nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, bị đơn ông Lương Văn T1 kháng cáo, yêu cầu
Tòa án tnh Bnh Thun hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST của Tòa
án nhân dân huyện Tánh Linh, để xét xử lại theo trnh tự sơ thẩm v Hội đồng xét
xử sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc thu thp chứng cứ trong
giai đoạn xét xử sơ thẩn không đảm bảo theo quy định tại Chương VII của Bộ lut
tố tụng dân sự.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị T2 kháng cáo, yêu cầu Tòa án tnh Bnh Thun hủy Bản án dân sự sơ
thẩm số 89/2023/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, để xét xử lại theo
trnh tự sơ thẩm v Hội đồng xét xử sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
và việc thu thp chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không đảm bảo theo quy
định tại Chương VII của Bộ lut tố tụng dân sự.
Ngày 28/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh có
Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS, quyết định kháng nghị phúc thẩm đối
với bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân
dân huyện Tánh Linh đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm v Hội đồng xét xử không xem xét, đánh giá chứng cứ mới và không đề nghị
đại diện Viện kiểm sát có ý kiến đối với việc bị đơn cung cấp chứng cứ mới tại
phiên tòa mà vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun rút toàn bộ Quyết định
kháng số 02/QĐ-VKS-DS, ngày 28/11/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tánh Linh
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trnh tự, thủ tục theo
quy định của pháp lut trong quá trnh giải quyết vụ án.

17
+ Về nội dung: Rút toàn bộ kháng nghị 02/QĐ-VKS-DS, ngày 28/11/2023
của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lut tố tụng dân sự.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ,
ý kiến trnh bày và tranh lun tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhn thấy:
[1] Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Bản án Dân sự sơ thẩm số
89/2023/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh ban hành ngày 15/11/2023.
Ngày 20, 21 tháng 11 năm 2023, bị đơn Lương Văn T1; Người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 nộp đơn kháng cáo. Đến ngày 05/12/2023, bị đơn
và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nộp biên lai thu tạm ứng án phí phúc
thẩm cho cho Tòa án. Ngày 28/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh
ban hành Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS. Xét thấy kháng cáo của bị
đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện kiểm sát là
còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 và Điều 280 của Bộ lut Tố tụng
dân sự và nội dung nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được Hội đồng xét xử
chấp nhn và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhn quyền sử dụng
đất; Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu nên xác định vụ kiện: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”,
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “Tranh chấp liên
quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại Điều
26 Bộ lut Tố tụng Dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại huyện
T, tnh Bnh Thun nên Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh thụ lý và giải quyết là
đúng thẩm quyền. Việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của
Tòa án cấp sơ thẩm là đảm bảo đúng quy định pháp lut.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông
Đào Văn B, ông Nguyễn Hữu Đ, Văn phòng C3; Công ty Cổ phần C5, có đơn xin
xét xử vắng mặt và đã được Tòa án triệu tp hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt,
nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ lut Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến
hành xét xử.
[4] Đối với nội dung kháng nghị: Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện Trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun rút toàn bộ Quyết định kháng số 02/QĐ-

18
VKS-DS, ngày 28/11/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh
Linh. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2,
về nội dung kháng cáo: Ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 đề nghị Tòa án
cấp phúc hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết
lại vụ án theo thủ tục chung. Bởi v: Việc thu thp chứng cứ và chứng minh trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ lut
tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng,
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lương Văn T1; Người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của ông T1 cho rằng cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp không
đúng dẫn đến việc Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh thụ lý là không đúng thẩm
quyền. Ông T1; Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông T1 cho rằng đây là
quan hệ “Tranh chấp giữa các thành viên công ty” theo quy định tại khoản 4 Điều
30 Bộ lut tố tụng dân sự và căn cứ vào Điều 37 Bộ lut tố tụng dân sự vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tnh cụ thể là Tòa án nhân
dân tnh Bnh Thun.
Theo đơn khởi kiện, trong quá trnh tố tụng nguyên đơn Công ty Cổ phần
T8 (gọi tắt là Công ty T8) cho rằng ông Lương Văn T1 với tư cách là Giám đốc
Công ty T8 đã không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, vi phạm
quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm được giao, tự ý chuyển nhượng quyền về tài sản của
Công ty nên Công ty T8 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết tranh chấp
đất đai giữa nguyên đơn và bị đơn, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng công chứng, yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu. Do đó Tòa án xác định các tranh chấp này không phải là
tranh chấp giữa Công ty T8 với các thành viên của công ty hay giữa các thành
viên của công ty có tranh chấp với nhau mà ch đơn thuần là tranh chấp về dân sự
giữa Công ty T8 với cá nhân ông Lương Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 và tranh chấp
này không liên quan đến việc thành lp, hoạt động, giải thể, sáp nhp, hợp nhất,
chia, tách, chuyển đổi hnh thức tổ chức của công ty là phù hợp với Điều 29 Điều
lệ Công ty T8; Điều 71, Điều 72 Lut Doanh nghiệp năm 2020. V vy, Tòa án
cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp lut tranh chấp là “Tranh chấp về quyền sử
dụng đất”, “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và
“Tranh chấp liên quan đn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” được
quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 9 và khoản 11 Điều 26 Bộ lut tố tụng dân
sự; Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại xã G, huyện T, tnh Bnh
Thun nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh
Linh, tnh Bnh Thun theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1

19
Điều 39 Bộ lut tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của bị đơn đối với vấn đề này
không có căn cứ để chấp nhn.
[6] Đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 8, tờ bản
đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh
Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND
huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019.
[6.1] Bị đơn ông Lương Văn T1 cho rằng quyền sử dụng đất đối với thửa
đất nêu trên là của cá nhân ông Lương Văn T1 và ông Đinh Xuân B1 nhn chuyển
nhượng của ông Dương Huy T4, với giá chuyển nhượng là 8.000.000.000 (Tám
tỷ) đồng và do ông Lương Văn T1 là người trực tiếp giao dịch và đứng tên trên
giấy chứng nhn quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lương Văn T1 cho rằng số tiền 8.000.000.000
(Tám tỷ) đồng chuyển trả tiền nhn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông
Dương Huy T4 là tiền do ông T1 và ông B1 vay, tuy nhiên không xác định được
là vay của ai và tỷ lệ góp giữa ông B1 và ông T1 mỗi người vay bao nhiêu. Ông
T1 cho rằng trong quá trnh thực hiện việc chuyển trả tiền cho ông Dương Huy
T4 do ông Quyền L thực hiện, tuy nhiên ông L không hiểu ý kiến truyền đạt của
ông, hơn nữa ông L là người làm công cho ông Đinh Xuân B1 nên trong các phiếu
ủy nhiệm chi chuyển khoản trả tiền đất cho ông Dương Huy T4 ghi nhầm “Công
ty T8 chuyển trả tiền mua đất”. Tuy nhiên, ông Đinh Xuân B1 không thừa nhn
việc mua chung với ông Lương Văn T1. Ông B1 cho rằng toàn bộ số tiền chuyển
cho ông Dương Huy T4 để nhn chuyển nhượng đất nêu trên là tiền của Công ty
Cổ phần T8.
[6.2] Nguyên đơn Công ty T8 cho rằng: Theo Giấy chứng nhn quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số
vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày
09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến
động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020 có nguồn gốc do Công ty nhn
chuyển nhượng của ông Dương Huy T4 vào năm 2020. Giá chuyển nhượng là
8.141.000.000 đồng (tám tỷ một trăm bốn mươi mốt triệu đồng) bao gồm giá trị
đất, thuế trước bạ và đóng thuế thu nhp cá nhân cho ông Dương Huy T4. Toàn
bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
,
tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun mặc dù ông Lương Văn T1
đứng tên trên giấy chứng nhn nhưng là tài sản của Công ty T8. Nguồn tiền trả
cho ông Dương Huy T4 là của Công ty T8 thể hiện qua các tài liệu, chứng cứ của
nguyên đơn cung cấp gồm:
- Ủy nhiệm chi (BL số 322) ngày 30/7/2020, số tiền 1.000.000.000đ (một

20
tỷ đồng), nội dung “Công ty CP T8 chuyển một phần tiền mua đất”, người nhn
tiền là ông Dương Huy T4; Ủy nhiệm chi (BL số 321) ngày 30/7/2020, số tiền
6.938.000.000 đồng với nội dung “Công ty CP T8 thanh toán ht tiền mua đất”,
người nhn tiền là ông Dương Huy T4; Sổ quỹ (BL số 320); Sổ chi tiết tài khoản
(BL số 319); Đề nghị thanh toán (BL số 317); Phiếu chi (BL số 316) cùng ngày
30/7/2020 của Công ty T8.
- Phiếu chi ngày 14/8/2020 (BL số 13) của Công ty T8 số tiền
1.000.000.000đ (một tỷ đồng) với nội dung “Chi anh T1 tạm ứng để trả một phần
tiền mua đất của ông Dương Huy T4”. Có chữ ký xác nhn của người nhn tiền
là ông Lương Văn T1.
- Biên bản xác nhn đề ngày 29/11/2021 giữa ông Đào Văn C, ông Đinh
Xuân B1 và ông Lương Văn T1 (BL số 30, 32).
- Phiếu chi ngày 03/8/2020 (BL số 13) của Công ty T8 số tiền 162.000.000đ
(một trăm sáu mươi hai triệu đồng) với nội dung “Chi tiền mua đất tại T”.
- Đề nghị thanh toán ngày 03/8/2020 (BL số 13) của Công ty T8 số tiền
162.000.000đ (một trăm sáu mươi hai triệu đồng) và 41.000.000đ (bốn mươi mốt
triệu đồng) với nội dung “Nộp số tiền mua đất còn lại tại Tánh L1” và “Phí đóng
thuế trước bạ mua đất”.
- Đề nghị chuyển tiền nội bộ (BL số 403); Giấy nộp tiền (BL số 401) nội
dung “Quyền Lực” (ông Dương Huy T4 trả lại một phần tiền mua đất cho CTCP
trang trại gà B chuyển ngày 30/7/2020.
- Biên bản giải trnh đề ngày 26/8/2023 của ông Quyền L – Chức vụ Thủ
quỹ công ty (BL số 398). Căn cứ Giấy ủy nhiệm chi ngày 30/7/2020 xác định đơn
vị chuyển tiền “Công ty Cổ phần T8” chuyển tiền cho ông Quyền L số
7.100.000.000 đồng do chính ông Lương Văn T1 ký với tư cách là Giám đốc, phù
hợp với lời giải trnh của ông Quyền L.
Qua các tài liệu thể hiện nguyên đơn chuyển tiền cho ông Dương Huy T4
tổng cộng 7.938.000.000 đồng với nội dung chuyển tiền mua đất, đồng thời
nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn 203.000.000 đồng, trong đó 162.000.000
đồng chuyển tiền mua đất và 41.000.000 đồng chuyển tiền trước bạ mua đất.
Nội dung này phù hợp với trnh bày của ông Dương Huy T4 ngày 13/7/2023:
Trước đây ông Dương Huy T4 có chuyển nhượng cho Công ty cổ phần T8
thửa đất số 08, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m2, tọa lạc tại khu vực B,
xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ
cấp GCN: CHO5833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày
09/05/2019 đứng tên ông Dưong Huy T7. Giá chuyển nhượng khoảng hơn
8.000.000.000 đồng (do thời gian đã lâu ông T7 không nhớ cụ thể). Tại thời

21
điểm giao dịch, ông T7 có trực tiếp đứng ra giao dịch với ông Tài Công T, ông
Kiều Văn T6 và Lương Văn T1 đều là nhân viên của Công ty cổ phần T8. Việc
nhn tiền chuyển nhượng đất thông qua hnh thức chuyển khoản. Ban đầu phía
Công ty Cổ phần T8 có đặt cọc trước cho ông T7 số tiền 1.000.000.000 đồng
bằng hnh thức chuyển khoản. Sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên th phía Công ty cổ phần T8 đã chuyển khoản tất
toán toàn bộ số tiền chuyển nhượng cho ông T7.
[6.3] Đối với Biên bản thỏa thun cổ đông về việc cơ cấu góp vốn vào
công ty đề ngày 29/11/2021 là phù hợp với Biên bản xác nhn đề ngày
29/11/2021 giữa ông Đào Văn C, ông Đinh Xuân B1 và ông Lương Văn T1
(BL số 30, 32) về việc ông T1 xác nhn thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75 mà ông
T1 đang đứng tên được mua bằng tiền của các cổ đông Công ty T8.
Phía nguyên đơn đã chứng minh được số tiền nhn chuyển nhượng QSDĐ
là do nguyên đơn chuyển, tiền của nguyên đơn. Do đó, có căn cứ để nhn định
thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m2 là do nguyên đơn nhn
chuyển nhượng và để bị đơn (thời điểm đó đang là đại diện theo pháp lut-
Giám đốc Công ty T8). Nên quyền sử dụng đất tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số
75, diện tích 119.256,0m
2
thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Do đó, Tòa
án cấp sơ thẩm chp nhn đối với yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ,
phù hợp với quy định của pháp lut.
[7] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp
ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn
Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc
tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264,
số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày
09/05/2019 đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht
biến động sang tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020, được công chứng tại
Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4, địa ch: G Đại lộ H, phường P, thành
phố P, tnh Bnh Thun theo số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-
SCC/HĐGD, ngày 24/6/2021.
[7.1] Về hnh thức: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn Thị T2 được thực hiện đúng
theo quy định của pháp lut.
[7.2] Giá chuyển nhượng đối với phần diện tích đất này: Các đương sự đều thống
nhất giá đất nhn chuyển nhượng của ông Dương Huy T4 là 8.141.000.000 đồng
(Tám tỷ một trăm bốn mươi mốt triệu đồng) bao gồm tiền đất, tiền lệ phí trước bạ
và tiền thuế thu nhp cá nhân của ông T4, thời điểm nhn chuyển nhượng của ông

22
T4 là ngày 30/7/2020 theo Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn
phòng C6. Tuy nhiên, đến ngày 24/6/2021 th ông Lương Văn T1 chuyển nhượng
lại thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị T2 với giá 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
Như vy giá chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T2 thấp hơn rất nhiều so với giá
trị đất lúc nhn chuyển nhượng của ông Dương Huy T4 và giá thị trường tại thời
điểm định giá theo Biên bản định giá ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài
sản – Điều này không phù hợp với quy lut mua bán thị trường.
[7.3] Về phương thức thanh toán: Việc thanh toán đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà
Nguyễn Thị T2; tại phiên tòa phúc thẩm bà T2 và ông T1 đều thừa nhn việc thanh
toán số tiền chuyển nhượng một phần là do bà T2 chuyển khoản (thông qua tài
khoản của người khác) và một phần trả bằng tiền mặt nhưng ông T1, bà T2 cũng
không xác định số tiền cụ thể chuyển khoản và trả bằng tiền mặt; đồng thời cũng
không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán
số tiền 5.000.000.000 đồng.
[7.4] Về vấn đề chuyển giao tài sản: Bà Nguyễn Thị T2 khai trong toàn bộ
quá trnh giao dịch chuyển nhượng thửa đất trên th ch có 01 lần bà đến xem đất
lúc trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng với ông T1. Tại thời điểm đó đất có
hiện trạng 01 phần có trồng cao su còn lại là đất trống. Sau khi ký kết hợp đồng
chuyển nhượng th 02 bên cũng chưa tiến hành bàn giao đất trên thực địa v lý do
dịch bệnh C1 và do bà ở xa không có điều kiện đi lại (sau ký kết hợp đồng th bà
ch cầm bản chính Giấy chứng nhn quyền sử dụng); Ngoài ra, bà T2 cho rằng,
giữa bà với ông T1 là chỗ làm ăn thân quen và tin tưởng nhau nên bà giao cho ông
T1 quản lý, khi ký hợp đồng chuyển nhượng ông Đinh Xuân B1 có hứa hẹn sẽ
mua lại thửa đất trên nên bà cũng chưa nhn bàn giao tài sản và vẫn đồng ý để
bên ông B1 quản lý, sử dụng cho đất đến nay.
Mặt khác tại thời điểm này Công ty T8 đang tiến hành xây dựng nhà xưởng,
cơ sở vt chất và chính ông T1 cũng đang có mặt để ch đạo tiến hành việc xây
dựng như vy trên đất đã có công trnh xây dựng kiên cố và tài sản khác gắn liền
với đất nhưng ông T1 vẫn tiến hành chuyển nhượng đất cho bà T2 là không đúng
với chủ trương của Công ty T8.
Do đó, không đủ căn cứ để xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được xác lp ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết
H1 với bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích
119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun, đến thời
điểm tranh chấp các bên đã chuyển giao đầy đủ quyền và nghĩa vụ cho nhau (giao
tiền và nhn tài sản).
[7.5] Căn cứ vào biên bản xác nhn đề ngày 16/9/2022 giữa ông Lương Văn

23
T1 và ông Đinh Xuân B1, cùng nhau đồng ý xác nhn nội dung sau: “Vào tháng
4 năm 2021, ông Đinh Xuân B1 có chỉ đạo ông Lương Văn T1 th chấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 117264, thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tại
Gia An, huyện T cho bà Nguyễn Thị T2 để vay tiền dưới hnh thức sang tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T2”
Như vy, căn cứ vào những phân tích trên có đủ căn cứ để xác định hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp ngày 24/6/2021 giữa ông
Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số
8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T,
tnh Bnh Thun là vô hiệu do giả tạo.
[7.6] Đối với hu quả của Hợp đồng vô hiệu th nguyên đơn không yêu cầu
giải quyết và tại cấp sơ thẩm ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 là những
người có quyền lợi liên quan trực tiếp nhưng cũng không có yêu cầu nên Tòa án
không xem xét giải quyết. Trong trường hợp, các bên không thỏa thun được với
nhau về việc giải quyết hu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu th có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[8] Từ những phân tích và nhn định trên, Hội đồng xét xử thấy cấp sơ thẩm
chấp nhn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tuyên xử như trên là có căn cứ,
phù hợp với các quy định của pháp lut. V vy, không có căn cứ chấp nhn kháng
cáo của ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm nhn định và tuyên bố văn bản công chứng của
Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4) vô hiệu đối với Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được xác lp ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh
Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện
tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh
Thun cấp ngày 09/05/2019 là không cần thiết. Hợp đồng đã vô hiệu do giả tạo
th đương nhiên nội dung công chứng sẽ không có giá trị pháp lý. Việc cấp sơ
thẩm tuyên như trên cũng không gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự nên
cấp phúc thẩm ch cần điều chnh lại cách tuyên cho phù hợp.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm và chi phí tố tụng không có
kháng cáo và không bị kháng nghị, v vy Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Ý kiến và đề nghị của đại diện Kiểm sát viên nhân dân tnh B về đường
lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhn
định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp lut nên được chấp nhn.

24
[11] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Lương Văn T1 và bà
Nguyễn Thị T2 không được chấp nhn nên ông T1, bà T2 phải chịu án phí phúc
thẩm theo quy đinh.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp lut kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lut Tố tụng dân sự; Không chấp
nhn kháng cáo của ông Lương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện
Tánh Linh.
2. Áp dụng: khoản 2, khoản 3, khoản 9 và khoản 11 Điều 26; điểm a khoản
1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều
228; Điều 229; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ lut tố tụng dân sự;
-Khoản 7 Điều 95; khoản 1 Điều 161; khoản 5 Điều 166; khoản 3 Điều
188; Lut đất đai năm 2013;
-Điểm c khoản 1 Điều 117; Điều 122; Điều 123; Điều 500, 501, 503 của Bộ
lut dân sự năm 2015.
- Điều 71; Điều 72 Lut Doanh nghiệp năm 2020;
- Điều 5 Lut Công chứng năm 2014.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
3. Tuyên xử: Chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công
ty cổ phần T8.
3.1 Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lp
ngày 24/6/2021 giữa ông Lương Văn T1, bà Đinh Thị Tuyết H1 với bà Nguyễn
Thị T2 đối với thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, diện tích 119.256,0m
2
, tọa lạc tại
khu vực B, xã G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ
cấp GCN: CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019
đứng tên ông Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang
tên ông Lương Văn T1 ngày 25/8/2020, được công chứng tại Văn phòng C3 (nay
là Văn phòng C4, địa ch: G Đại lộ H, phường P, thành phố P, tnh Bnh Thun
theo số công chứng 03533, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 24/6/2021 là
vô hiệu;
3.2 Công nhn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện

25
tích 119.256,0m
2
, thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tọa lạc tại khu vực B, xã
G, huyện T, tnh Bnh Thun theo Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN:
CH05833 do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông
Dương Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang tên ông Lương
Văn T1 ngày 25/8/2020 cho Công ty cổ phần T8.
Công ty cổ phần T8 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 119.256,0m
2
,
thuộc thửa đất số 8, tờ bản đồ số 75, tọa lạc tại khu vực B, xã G, huyện T, tnh
Bnh Thun và toàn bộ tài sản gắn khác liền với thửa đất nêu trên.
Công ty cổ phần T8 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để
đăng ký, cp nht biến động theo quy định của pháp lut.
Bà Nguyễn Thị T2 và ông Lương Văn T1 có trách nhiệm giao bản chính
Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số CQ117264, số vào sổ cấp GCN: CH05833
do UBND huyện T, tnh Bnh Thun cấp ngày 09/05/2019 đứng tên ông Dương
Huy T4, Chi nhánh văn phòng Đ3 cp nht biến động sang tên ông Lương Văn
T1 ngày 25/8/2020 cho Công ty cổ phần T8 hoặc khi cơ quan có thẩm quyền yêu
cầu.
4. Về án phí:
4.1 Án phí sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Lương Văn T1 và bà Đinh Thị Tuyết
H1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty cổ phần T8 số tiền 56.500.000 đồng (Năm mươi sáu
triệu năm trăm nghn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số
0011578 ngày 01/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tnh
Bnh Thun.
4.2 Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lương Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được
khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0005537, ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Tánh Linh. Ông Lương Văn T1 đã nộp đủ án phí theo quy định.
Bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được
khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0005538, ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Tánh Linh. Bà Nguyễn Thị T2 đã nộp đủ án phí theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut thi hành án
dân sự, th người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thun
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, 9 Lut thi hành án dân
26
sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành
án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án (28/6/2024).
Nơi nhn:
- VKSND tnh Bình Thun;
- TAND huyện Tánh Linh;
- VKSND huyện Tánh Linh;
- Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Thanh Hòa
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN

27
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Đức H3 – P Vũ Thị Thanh H4
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm