Bản án số 118/2023/HC-PT ngày 21/04/2023 của TAND cấp cao về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 118/2023/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 118/2023/HC-PT ngày 21/04/2023 của TAND cấp cao về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Quan hệ pháp luật: QĐ hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư…
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao
Số hiệu: 118/2023/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/04/2023
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bà Phan Thị T khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hạnh phúc
Bản án số: 118/2023/HC-PT
Ngày: 21/4/2023
V/v “Khiếu kin quyết đnh hành chính
trong lĩnh vc qun đt đai.
NHÂN DANH
C CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Phước Thanh
Các Thẩm phán: ông Đặng Kim Nhân và ông Vũ Thanh Liêm
- Thư phiên tòa: bà Đinh Thị Trang - Thư Tòa án nhân dân cp cao
tại Đà Nẵng.
- Đại din Vin kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, ti đim cầu trung tâm tr s Tòa án nhân dân
cp cao tại Đà Nẵng điểm cầu thành phần tr s Tòa án nhân dân tnh Qung
Ngãi, Tòa án nhân dân cp cao tại Đà Nẵng xét x trc tuyến phúc thẩm công
khai v án hành chính thụ số 219/2022/TLPT-HC ngày 17 tháng 10 năm
2022 về việc Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai.
Do Bản án hành chính thm s 26/2022/HC-ST ngày 11 tháng 8 năm
2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
- Người khởi kiện: bà Phan Thị T, sinh năm 1938.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị T: ông Đỗ Văn M, sinh năm
1969.
Cùng địa chỉ: khu dân cư số 12, thôn L, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Bà Phan Thị T, vắng mặt; ông Đỗ Văn M, có mặt
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Ung Đình H - Phó Chủ tịch, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: bà Bùi Thị H -
Trưởng phòng Phòng Tài nguyên Môi trường huyện B, tỉnh Quảng Ngãi,
vắng mặt.
Cùng địa chỉ: huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan:
1. Ủy ban nhân dân L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Địa chỉ: xã L, huyện
2
B, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Phan Tấn H, sinh năm 1960. Địa chỉ: khu dân số 12, thôn L,
L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Tấn H: bà Trần Thị H, sinh
năm 1989. Địa chỉ: tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
3. Nguyễn Thị T, sinh năm 1968. Địa chỉ: khu dân số 12, thôn L,
L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
4. Nguyễn Thị S, sinh năm 1975. Địa chỉ: huyện B, tỉnh Quảng Ngãi,
vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964. Địa chỉ: tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1970. Địa chỉ: tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
7. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973. Địa chỉ: tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
8. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979. Địa chỉ: tỉnh Lâm Đồng, vng mặt.
9. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
10. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1989. Địa chỉ: tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà H, V, Q, M T, T: Ông Đỗ Văn
M, sinh năm 1969, có mặt.
11. Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1969. Địa chỉ: khu dân số 12, thôn L,
L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
Người kháng cáo: bà Phan Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 24/6/2021 đơn khởi kiện sửa đổi, bsung
ghi ngày 15/10/2021 của Phan Thị T, trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Phan Thị T ông Đỗ Văn M
trình bày:
Về nguồn gốc đất, việc sử dụng, đăng ký, kê khai: nguyên thửa đất 1791, tờ
bản đồ số 12, diện tích 441m
2
(bản đồ năm 2002) L, huyện B, tỉnh Quảng
Ngãi nguồn gốc trước đây do ông lưu hạ lại cho vợ chồng T sử dụng.
Từ năm 1975 đến trước khi xảy ra việc tranh chấp đất đai với ông Phan Tấn
H (năm 2019), vchồng bà T (Nguyễn Văn B, Phan Thị T) quản lý, sdụng
liên tục, không ai tranh chấp; trên thửa đất này mồ mã của ông bà, họ tộc tồn
tại từ lâu, đã được con nhân dân, xóm âm linh chính quyền L xác định
thừa nhận. Vào năm 2015 năm 2016, vợ chồng tiến hành đăng ký,
khai làm thủ tục đề nghị quan nhà nước thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên đã được UBND L lấy ý
kiến khu dân cư, thống nhất đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
lập danh sách các hộ gia đình, cá nhân đề nghị cấp giấy. Tuy nhiên, sau khi lấy ý
kiến khu dân cư, lập danh sách các trường hợp đề nghị cấp giấy chứng nhận thì
3
UBND L không thực hiện các thủ tục tiếp theo để trình quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét cấp giấy, vợ chồng đã nhiều lần khiếu nại, yêu cầu các
cấp thẩm quyền giải quyết. Sau nhiều lần yêu cầu nhưng chưa được giải
quyết, đến ngày 13/02/2020 thì bà được biết là ông Phan Tấn H ở liền kề có đơn
tranh chấp đất đai với vợ chồng bà, yêu cầu UBND huyện B giải quyết tranh
chấp đất đai với ông Nguyễn Văn B, tranh chấp một phần thửa đất 1791, tờ bản
đồ số 12 (bản đồ năm 2002) L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Diện tích ông H
tranh chấp 94m
2
, thuộc một phần thửa đất số 1791 (UBND huyện B xác định
thuộc số thửa 2241 - số thửa thêm được chỉnh từ thửa 1791 để phục vụ việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019).
Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai:
Sau khi thẩm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng, tiến
hành làm việc với hai bên thì vào ngày 20/11/2020, Chủ tịch UBND huyện B
ban hành Quyết định số 2772/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp quyền s
dụng đất giữa ông Phan Tấn H ông Nguyễn Văn B, cùng thường ttại: khu
dân số 12, thôn L, Long, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Theo quyết định này
thì: Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Tấn H, công dân thường trú tại
Khu dân cư số 12, thôn L, xã L, huyện B đối với diện tích 94m
2
, thuộc một phần
thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002), loại đất trồng
cây lâu năm khác; Không công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B,
công dân thường trú tại khu dân số 12, thôn L, L, huyện B đối với diện
tích 94m
2
, thuộc một phần thửa đất s2241, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính
năm 2002), loại đất trồng cây lâu năm khác.
Phan Thị T thấy rằng Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai nêu trên
của Chủ tịch UBND huyện B không khách quan, không phản ánh đúng thực
tế sử dụng đất, xâm phạm đến quyền lợi của vợ chồng bà. Cụ thể:
- Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp: diện tích đất tranh chấp thuộc
thửa đất 1791, tờ bản đồ số 12 (bản đồ năm 2002) L, huyện B, tỉnh Quảng
Ngãi do vợ chồng quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Trong quá trình sử
dụng, vợ chồng bà nhiều lần đăng ký, kê khai đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều lần đơn thư khiếu nại
nhưng khi UBND L, Chủ tịch UBND huyện B giải quyết tranh chấp, không
mời (Phan Thị T) tham gia không đảm bảo quyền lợi cho tôi, thủ tục giải
quyết không đảm bảo.
- Về thẩm quyền giải quyết: trên diện tích đất các bên đang tranh chấp
tài sản cây trồng lâu năm của vợ chồng T; năm 2018, vợ chồng tiến
hành đổ đất để cải tạo đất. Như vậy, trên diện tích đất đang tranh chấp có tài sản
gắn liền với đất, giữa các bên tranh chấp đất đai thì thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, Chủ tịch UBND huyện B giải quyết tranh chấp
4
giữa các bên không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai
năm 2013.
- Về căn cứ pháp để công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Tấn H:
thửa đất đang tranh chấp do vợ chồng bà quản lý, sử dụng, đã đổ đất, cải tạo đất
nhưng Quyết định giải quyết tranh chấp xác định ông Phan Tấn H đang sử dụng,
căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị
định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014, công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan
Tấn H là không phù hợp với thực tế sử dụng đất.
- Về nguồn gốc đất: quyết định giải quyết tranh chấp đất đai nêu trên nhận
định thửa đất s2241, tờ bản đồ số 12, diện tích 197m
2
(bản đồ địa chính năm
2002) ttrước năm 1975 đất nghĩa địa, do UBND L quản lý. Đến năm
1975 - 1980 do Hội người cao tuổi trồng lang, mì ven nghĩa địa gây quỹ cho
Hội: nhận định này không chính xác không căn cứ, bởi lẽ giai đoạn từ
năm 1975-1980, đất nước mới giải phóng, phải lo khắc phục hậu quả chiến
tranh, nhà nước bắt đầu thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất, thành lập các
hợp tác nông nghiệp để làm ăn tập thể; giai đoạn này chưa thành lập và chưa
hoạt động của Hội người cao tuổi. Do đó, nhận định về nguồn gốc đất như
nêu trên là không có căn cứ.
- Về việc sử dụng đất: Thửa đất nêu trên do ông của T lưu hạ lại, t
năm 1975 đến trước năm 2019, gia đình quản , sdụng liên tục, không
ai tranh chấp; trên thửa đất m ông bà, họ tộc tồn tại từ lâu, đã được
những người sdụng đất liền kề, nhân dân tại thôn L, L, xóm âm linh xác
nhận đã được UBND L xác định tại biên bản họp xác định nguồn gốc 03
ngôi mtrên thửa đất 1791, tờ bản đồ 12 L. Tuy nhiên, quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai như trên xác định cha ông Phan Tấn H khai hoang, sử dụng từ
năm 1986, sau đó giao lại cho ông Phan Tấn H sử dụng là không phợp với
thực tế sử dụng đất.
- Về việc đăng ký, khai: vchồng sử dụng thửa đất nêu trên từ năm
1975, không có ai tranh chấp, đã làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận và đã
được UBND L lấy ý kiến khu dân cư, xác nhận nguồn gốc đất do ông bà lưu
hạ lại và lập danh sách các trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận từ năm
2015, 2016. Tuy nhiên, quyết định giải quyết tranh chấp không xem xét nội
dung này là không khách quan.
- Về căn cứ thực tế: quyết định giải quyết tranh chấp xác định ông Phan
Tấn H sử dụng thửa đất từ năm 1986 nhưng bản thân ông H không một trong
các loại giấy tchứng minh thửa đất thuộc quyền sử dụng của mình theo quy
định của Luật đất đai. Trong khi đó, hồ địa chính qua các thời kỳ thể hiện
UBND L quản lý, thuộc đất nhà nước quản nhưng Quyết định giải quyết
tranh chấp công nhận cho ông Phan Tấn H được quyền sử dụng diện tích 94m
2
,
5
thuộc một phần thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002),
loại đất trồng cây lâu năm khác không phù hợp (công nhận đất do nhà nước
quản lý cho cá nhân).
- Về xác định số thửa đất tranh chấp: quyết định giải quyết tranh chấp đất
đai xác định thửa đất tranh chấp giữa các bên thửa 2241, tờ bản đồ 12, diện
tích 197m
2
tại L. Tuy nhiên, thửa đất này hình thành từ số thửa thêm được
chỉnh từ thửa đất 1791 đphục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
đất năm 2019. Như vậy, thửa đất 2241 hình thành từ chỉnh vào năm 2019,
không phải do cha ông Phan Tấn H để lại cho con vào năm 1986 như Quyết định
giải quyết tranh chấp của Chủ tịch UBND huyện B đã nêu.
Từ những nội dung trên, bà Phan Thị T thấy rằng Quyết định số 2772/QĐ-
UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất giữa các bên không căn cứ pháp luật, không phù
hợp với Điều 101 Điểu 203 Luật đất đai năm 2013; không đúng với nguồn
gốc, quá trình quản lý, thực tế sử dụng đất, xâm phạm đến quyền lợi của ông
Nguyễn Văn B, bà Phan Thị T. vậy, bà Phan Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết: Hủy Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch
UBND huyện B về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan
Tấn H ông Nguyễn Văn B, cùng thường trú tại: khu dân số 12, thôn L,
L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Tại Văn bản ý kiến số 1151/UBND ngày 09/5/2022 của Chủ tịch UBND
huyện B tại phiên tòa, ông Ung Đình Hiền Phó Chủ tịch UBND huyện B
trình bày:
Vị trí tranh chấp: Thuộc một phần thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản
đồ địa chính năm 2002), xã L, diện tích 94m
2
, loại đất: đất trồng cây lâu năm
khác (CLN). Các thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Hiện trạng vị trí đang tranh chấp: trên diện tích tranh chấp 94m
2
, thuộc một
phần thửa đất s2241 (số thửa thêm được chỉnh từ thửa đất s1791 để phục
vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019), tờ bản đồ số 12 (bản đồ
địa chính năm 2002), L ông Nguyễn Văn B đổ đất khoảng 80m
3
đất vào
tháng 3, tháng 4 năm 2018.
Về ranh giới thửa đất: vtrí tranh chấp quyền sử dụng đất giới cận như
sau: phía Đông giáp: đất ông Nguyễn Văn B (thửa đất s2242); phía Tây giáp:
đất còn lại của ông Phan Tấn H (thửa đất số 2241); phía Nam giáp: đất của ông
Đặng L; phía Bắc giáp: đường Quốc lộ 24C.
- Khôi phục lại 05 mốc giới tại vị trí ranh giới 02 thửa đất số 2241 thửa
đất số 2242, tờ bản đồ số 12, L theo hồ đo đạc phục vụ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thể hiện: 02 mốc nằm sát vách tường ông Đỗ Văn M
6
(con rễ của ông Nguyễn Văn B) đã xây dựng quán; 03 mốc nằm ngoài vị trí xây
dựng, đỗ đất của ông Đỗ Văn M (hiện còn 02 mốc bê tông).
Quá trình sử dụng: nguyên thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (Bản đồ địa
chính năm 2002), L, diện tích 197m
2
trước năm 1975 đất nghĩa địa do
UBND L quản lý. Đến năm 1975-1980, Hội Bảo thọ trồng lang, ven rìa
phần đất nghĩa địa để gây qucho Hội. Do sản xuất không hiệu quả, Hội Bảo
thọ không làm nữa nên đất bỏ hoang. Năm 1983-1985, ông Phan Viên (cha ruột
ông Phan Tấn H) khai hoang sử dụng để trồng lang mì trên phần đất trước kia Hội
Bảo thọ bỏ hoang. m 1986, ông Phan Viên để lại cho ông Phan Tấn H tiếp tục
sử dụng trồng lang mì, trồng cỏ. Năm 2015, ông H chuyển sang trồng keo i
cho đến nay. Tha đấty đã được UBND huync định loại đất là đất trng cây
lâu năm tại ng văn s 1228/UBND-TNMT ngày 27/5/2019 (thửa đt s
2241/197m
2
và tha đất s2242/432m
2
).
Về hđịa chính: theo tờ bản đồ 299 đo vẽ năm 1985, thuộc một phần
thửa đất số 344, tờ bản đồ đội 11, diện tích 22.480m
2
, loại đất: đất nghĩa trang
(NĐ); theo tờ bản đồ 299 chỉnh năm 1996, thuộc một phần thửa đất nghĩa địa
có diện tích 2.800m
2
, tờ bản đồ số 5, loại đất: đất nghĩa trang. Theo sổ mục kê đất
lập năm 1996, trang số 137, thuộc thửa đất số 344, tờ bản đồ số 5, tên sử dụng đất
nghĩa trang liệt sĩ, loại đất: Đất nghĩa địa (NĐ); theo tờ bản đồ địa chính đo vẽ
năm 2002, thuộc một phần thửa đất số 1791, tờ bản đồ số 12, diện tích 7.425m
2
.
Theo sổ thống diện tích, chủ sử dụng theo hiện trạng, trang số 13, số thứ tự
thửa 1791,n sử dụng đất là UBND L, loại đất: đất nghĩa địa ().
Trên bản đồ qua các thời kỳ thể hiện đất nghĩa địa là do ông Phan Viên (cha
ông Phan Tấn H) trồng cây xen kẽ ở các phần đất trống ven rìa nghĩa địa vẫn n
mn khi đo vẽ, chỉnh bản đồ, các đơn vị đo đạc đo bao vẫn thể hiện
đất nghĩa địa nhưng thực tế do ông Phan Viên sử dụng trồng hoà màu cây
lâu năm. Năm 1986, ông Phan Viên để lại cho ông Phan Tấn H sử dụng.
Kết quả đo đạt theo thoả thuận vào năm 2018 thì số liệu đo đạc theo hiện
trạng để phục vụ công c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chỉnh lý
trên nền bản đồ 2002 thành thửa đất số 2241 (số thửa thêm), tờ bản đồ số 12, diện
tích 197m
2
(thửa đất nêu trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai
2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ).
Kết quả đo đạc lại, xác định loại đất: Năm 2016, ông Nguyễn Văn B có lập
hồ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1791, tờ
bản đồ số 12, L được UBND L xác nhận nguồn gốc đất lấy ý kiến khu
dân thống nhất đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên
qua kiểm tra hồ địa chính thì thửa đất nêu trên đo bao nhiều chủ sử dụng, do
đó, hộ ông Nguyễn Văn B đã thỏa thuận thuê đơn vị đo đạc lại theo hiện trạng
7
sử dụng đất tại Biên bản ngày 09/10/2017, theo đó kết quả đo đạc lại của Văn
phòng đăng đất đai tỉnh Quảng Ngãi, chi nhánh huyện B được chỉnh lý thành
02 thửa đất có số thửa thêm là 2241/197m
2
của ông Phan Tấn H sử dụng và thửa
đất 2242/432m
2
của ông Nguyễn Văn B sử dụng được UBND huyện thống nhất
xác định loại đất tại Công văn số 1228/UBND-TNMT ngày 27/5/2019, thửa đất
2241/197m
2
và thửa đất 2242/432m
2
, loại đất: đất trồng cây lâu năm (CLN).
Quá trình giải quyết tranh chấp: ngày 24/9/2019, ông Phan Tấn H đơn
đề nghị giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn B,
Phan Thị T, theo đó UBND L đã tổ chức hòa giải vào ngày 15/11/2019 kết
quả hòa giải bất thành, sau hoà giải UBND L Báo cáo số 210/BC-UBND
ngày 15/11/2019 về việc kết quả giải quyết đơn tranh chấp quyền sdụng đất
giữa ông Phan Tấn H và ông Nguyễn Văn B. Ông Phan Tấn H tiếp tục có đơn đề
ngày 13/02/2020 gửi UBND huyện B. UBND huyện đã thụ giao cho Phòng
Tài nguyên Môi trường thẩm tra, xác minh, theo đó, ngày 12/6/2020, Phòng
i nguyên Môi trường phối hợp với UBND L mời ông Phan Tấn H với
Luật Nguyễn Phúc T (người được ông Nguyễn Văn B ủy quyền) để hoà giải
giải thích chế chính sách pháp luật về đất đai. Qua trao đổi, vận động 02
bên tự thỏa thuận về ranh giới để sở giải quyết tranh cấp, tại buổi làm việc
ông Phan Tấn H u cầu ông B khôi phục lại hiện trạng trước khi đổ đất giữ
nguyên mốc giới theo kết quả đo đạc m 2017 ông Nguyễn Phúc T đề nghị
sẽ ý kiến của mình đại diện cho phía bị đơn sau khi làm việc lại với ông
Nguyễn Văn B liên quan đến nội dung hoà giải và có văn bản gửi cho Phòng Tài
nguyên Môi trường; theo đó, ngày 04/7/2020 ông Nguyễn Phúc T (người
được ông Nguyễn Văn B ủy quyền) có Thông báo về việc chấm dứt đại diện theo
uỷ quyền đối với ông Nguyễn n B, đề nghị làm việc trực tiếp với ông Nguyễn
n B.
Ngày 17/8/2020, Phòng Tài nguyên Môi trường tiếp tục mời ông Phan
Tấn H ông Nguyễn Văn B để hoà giải, vận động các bên tranh chấp tự thỏa
thuận, thương lượng với nhau để giải quyết cho hợp tình, hợp lý. Đồng thời đưa
ra định hướng hòa giải cho các bên. Tuy nhiên, sau khi trao đổi, hai bên tranh
chấp không thống nhất ý kiến của nhau nên buổi hòa giải không thành.
Từ kết quả thẩm tra xác minh, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định
số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa
ông Phan Tấn H ông Nguyễn Văn B với nội dung: công nhận quyền sử dụng
đất cho ông Phan Tấn H, công dân thường trú ở KDC số 12, thôn L, xã L, huyện
B đối với diện tích 94m
2
, thuộc một phần
thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản
đồ địa chính năm 2002), loại đất: đất trồng cây lâu năm khác (CLN).
Ý kiến của UBND huyện đối với khởi kiện của Phan Thị T: tnhững
nhận định cho thấy thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm
8
2002), L, diện tích 197m
2
do ông Phan Tấn H sử dụng liên tục từ năm 1986
đến nay, đúng theo ranh giới, mốc giới hông Nguyễn Văn B trồng cột
tông, rào lưới kẽm gai vào m 2010 được ông Đặng T, ông Q Ngư xác
nhận; đồng thời hiện trạng ranh giới làm quán (trái phép) của ông Đỗ Văn M
đúng ngay mốc giới trước kia ông Nguyễn Văn B thoả thuận thuê đơn vị đo đạc
vào năm 2017 đã được Phòng Tài nguyên Môi trường kiểm tra mốc giới tại
Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 04/6/2020. Mặt khác, diện tích đất trồng cây
lâu năm (CLN) hiện nay gia đình ông Phan Tấn H đang quản lý, sử dụng (kể cả
thửa đất đang tranh chấp) không vượt hạn mức giao đất theo Điều 129 Luật đất
đai 2013.
Ông Phan Tấn H người trực tiếp sử dụng đất ổn định, liên tục từ ngày
01/7/2004 mãi cho đến nay, nên ông Phan Tấn H đủ điều kiện được xem xét
công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai
năm 2013 và điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ đối với phần diện tích 94m
2
thuộc một phần thửa đất
số 2441, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002), xã L.
Như vậy, việc Phan Thị T yêu cầu huỷ Quyết định số 2772/QĐ-UBND
ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết tranh chấp đất
đai giữa ông Phan Tấn H và ông Nguyễn Văn B là không sở; Chủ tịch
UBND huyện B ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông
Phan Tấn H và ông Nguyễn Văn B là đảm bảo quy định của pháp luật.
Tại Văn bản số 53/UBND ngày 14/3/2022 của UBND xã L và tại phiên tòa,
ông Nguyễn Văn Quân – Chủ tịch UBND xã L trình bày:
Về h địa cnh qua c thời kỳ:
Theo bản đồ 299/TTg m 1985 thuộc một phần tha đất số 344, tờ bản
đồ đội 12, loại đất Nga trang, diệnch 22.480m
2
, xã L. Theo bản đồ
299/TTg chỉnh lý năm 1996 thuộc t bản đ đội 5, loại đất Nghĩa trang, diện
ch 19.160m
2
, xã L. Theo bản đ địa cnh được đo vnăm 2002 thuộc một
phần thửa đất 1791, t bản đsố 12, diện ch 7.425m
2
, loại đất NĐ, xã L.
m 2019 được chỉnh cho sthửa tm tnh thửa 2241, tờ bản đ s12
để ng tác xác định loại đt phục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất được UBND huyện thống nhất c định loại đất là đất trồng cây lâu
m (CLN) tại Công n s 228/UBND-TNMT ngày 27/5/2019. Ngày
15/11/2019, UBND L tiến hành mời hòa giải 2 bên đương sự, tuy nhn
buổi hòa giải không thành.
Về ý kiến của UBND xã L: thống nhất theo Quyết định số 2772/QĐ-
UBND ny 20/11/2020 của UBND huyện B v việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất giữa ông Phan Tấn H và ông Nguyễn Văn B.
9
Tại n bản trình bày ý kiến ghi ny 23/11/2021 của ông Phan Tấn H
tại phiên tòa, nời đại diện theo y quyền của ông Phan Tấn H
Trần Thị Hoa tnh bày:
Nguyên thửa đất số 2241, tbản đồ số 12 (bản đđịa chính năm 2002),
diện tích 197m
2
tại L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi do cha ông Phan Tấn H
ông Phan Viên khai hoang sử dụng để trồng mì. Đến năm 1986, cha mẹ ông H
để lại cho ông H tiếp tục sử dụng để trồng mì, kiệu; đến năm 2010, ông H trồng
cỏ voi cho bò; năm 2015, ông H chuyển sang trồng keo mãi cho đến nay. Hiện
thửa đất này đã được UBND huyện B xác định loại đất trồng cây lâu năm.
Trong quá trình quản lý sử dụng ổn định, liên tục, công khai thửa đất này từ năm
1986 đến năm 2020, ông H không khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nên thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ai. Giới cận thửa đất số 2241 cụ thể như sau: Đông giáp thửa đất số 2242
của ông Nguyễn Văn B, Tây giáp đất của ông Đặng L, Nam giáp đất ông Đặng
Đ, Bắc giáp đường Quốc lộ 24C. Ranh giới sử dụng đất giữa vợ chồng ông
Nguyễn Văn B, bà Phan Thị T gia đình ông H đã được xác định bằng cọc
tông, rào kẽm gai từ năm 2010.
Ngày 26/3/2018, Phan Thị T tự ý đổ đất lấn chiếm sang phần đất ông H
đang sử dụng với diện tích 94m
2
, ông H ra ngăn cản báo chính quyền địa
phương. Đến ngày 24/4/2018, bà Phan Thị T tiếp tục đổ đất lần thứ 2 nên ông H
tiếp tục ra ngăn cản yêu cầu T giữ lại mốc ranh giới hai bên đã xác
định trước đây nhưng T cố chấp không nghe. Tranh chấp đã được hòa giải
nhiều lần tại UBND xã L cũng như tại UBND huyện B.
Đến ngày 20/11/2020, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số
2772/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan
Tấn H ông Nguyễn Văn B với nội dung quyết định tại Điều 1 cụ thể như sau:
“1. Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Tấn H, công dân thường trú
KDC số 12, thôn L, L, huyện B đối với diện tích 94m
2
, thuộc một phần thửa
đất số 2241, tbản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002), loại đất: Đất trồng
cây lâu năm khác (CLN).
2. Không công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B, công dân
thường trú ở KDC số 12, thôn L, xã L, huyện B đối với diện tích 94m
2
, thuộc một
phần thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002), loại đất:
Đất trồng cây lâu năm khác (CLN)”.
Ngoài nội dung này, Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của
UBND huyện B còn các nội dung khác. Xét thấy, nguyên diện tích thửa đất
số 2241, tờ bản đồ số 12, diện tích 197m
2
, L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi do
gia đình ông H quản lý, sử dụng ổn định liên tục từ năm 1986 đến nay, ranh
giới sử dụng đất riêng biệt với thửa đất số 2242 của ông Nguyễn Văn B bằng
10
cọc tông, rào kẽm gai; phần diện tích đất 94m
2
thuộc thửa đất số 2241 của
gia đình ông H thực tế gia đình ông Nguyễn Văn B không quản lý, cũng
không phải là người trực tiếp sdụng phần diện tích 94m
2
đất nêu trên; đồng
thời, ông Nguyễn Văn B cũng không cung cấp được các loại giấy tờ về quyền sử
dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 Điều 18 Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, cũng như các loại giấy
tờ khác để chứng minh việc sử dụng đất của ông trên phần diện tích đất 94m
2
nêu trên nên vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Phan Thị T không đủ điều kiện để
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn ông H người trực tiếp sử
dụng đất ổn định, liên tục từ năm 1986 đến nay, nên ông H đủ điều kiện để
được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2
Điều 101 Luật đất đai năm 2013 điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ đối với phần diện tích 94m
2
thuộc một phần thửa đất s2241, tờ bản đsố 12, diện tích 197m
2
, L, huyện
B, tỉnh Quảng Ngãi.
Nhận thấy trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai đối với phần diện
tích thuộc một phần thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12, diện tích 197m
2
, L,
huyện B, tỉnh Quảng Ngãi tuân thủ đúng quy định pháp luật nội dung Quyết
định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B là đúng
quy định pháp luật nên ông H đnghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của người khởi kiện Phan Thị T về việc yêu cầu hủy Quyết định số
2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B vviệc giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan Tấn H ông Nguyễn Văn
B.
Tại bản tự khai ngày 08/4/2022, bà Nguyễn Thị T Nguyễn Thị S trình
bày:
Chúng tôi con của ông Nguyễn Văn B Phan Thị T. Về nguồn gốc
đất, quá trình quản lý, sdụng đất và giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch
UBND huyện B, người khởi kiện là bà Phan Thị T đã trình bày đầy đủ trong đơn
khởi kiện, chúng tôi thống nhất nên không khai thêm. Đề nghị Tòa án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của Phan Thị T: hủy Quyết định số 2772/QĐ-UBND
ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B v việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất giữa ông Phan Tấn H và ông Nguyễn Văn B.
Ý kiến của i Th Hảo - nời bảo vệ quyền lợi ích hợp pp cho
người bị kiện:
Ông Phan Tấn H là nời trực tiếp sử dụng đấtn định, liên tục diện tích
94m
2
thuộc một phần thửa đất s 2241, tờ bản đồ số 12 (bản đ địa chính năm
2002) L từ ngày 01/7/2004 đến nay nên đủ điều kiện được xem xét,
ng nhận quyền s dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai
11
m 2013 và điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ny
15/5/2014 của Chính phủ. Do đó, Phan Thị T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết
định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND huyện B
không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị
T.
Với nội dung trên tại Bản án hành chính sơ thẩm s 26/2022/HC-ST
ngày 11 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết
định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; khoản 1,
điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 204; Điều
206; khoản 1 Điều 348, khoản 1 Điều 358 Luật ttụng hành chính; Điều 101,
Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 20, khoản 3 Điều 61,
Điều 88, Điều 89, Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Quyết định s
01/2016/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tỉnh Quảng Ngãi quy định v
trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của quan
hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết
hủy Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND
huyện B về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Phan Tấn H ông
Nguyễn Văn B, cùng thường trú tại: khun cư số 12, thôn L, xã L, huyện B.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định v án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của đương sự.
Ngày 22/8/2022, bà Phan Thị T kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: bà Phan Thị T không rút, thay đổi hoặc bổ sung
kháng cáo và không rút đơn khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử của những người
tham gia ttụng đã chấp hành đúng quy định của Luật tố tụng hành chính về
nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo giữ
nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa;
kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định
của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
12
[1] Ngày 02/7/2021 ngày 22/10/2021, Phan Thị T khởi kiện yêu cầu
Tòa án hủy Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch
UBND huyện B về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phan
Tấn H và ông Nguyễn Văn B; với lý do:
[1.1] Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai số 2772/QĐ-UBND ngày
20/11/2020, nhận định thửa đất số 2241, tờ bản đồ số 12, diện ch 197m
2
(bản
đồ địa chính năm 2002) từ trước năm 1975 đất nghĩa địa, do UBND L
quản lý. Đến năm 1975 - 1980 do Hội người cao tuổi trồng lang, ven nghĩa
địa gây quỹ cho Hội không đúng thực tế không căn cứ; bởi lẽ, diện tích
đất tranh chấp thuộc thửa đất 1791, tờ bản đồ số 12 (bản đồ năm 2002) xã L,
huyện B, tỉnh Quảng Ngãi nguồn gốc do ông của T tạo lập; để lại cho
vợ chồng T từ năm 1975 vợ chồng đổ đất, cải tạo đất quản lý, sử
dụng cho đến 2019, không tranh chấp đã được UBND L lấy ý kiến khu
dân cư, xác nhận nguồn gốc đất do ông bà lưu hạ lại và lập danh sách các trường
hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận từ năm 2015, 2016. Đồng thời, trên thửa
đất 1791, tờ bản đồ số 12 (bản đồ năm 2002) L đang tồn tại mồ ông bà,
họ tộc tlâu đã được những người sử dụng đất liền kề, nhân dân tại thôn
L, xã L, được UBND xã L xác định tại biên bản họp xác định nguồn gốc 03 ngôi
mộ là của gia đình Bà.
[1.2] Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai xác định thửa đất tranh chấp
giữa các bên là thửa 2241, tờ bản đồ 12, diện tích 197m
2
tại L. Tuy nhiên,
thửa đất này hình thành từ số thửa thêm được chỉnh từ thửa đất 1791 để
phục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019. Như vậy, thửa
đất 2241 hình thành từ chỉnh lý vào năm 2019, không phải do cha ông Phan Tấn
H để lại cho con vào năm 1986 như Quyết định giải quyết tranh chấp của Chủ
tịch UBND huyện B đã nêu.
[1.3] Trên diện tích đất các bên đang tranh chấp tài sản y trồng lâu
năm của vợ chồng T; năm 2018, vợ chồng bà tiến hành đổ đất để cải tạo
đất. Như vậy, trên diện tích đất đang tranh chấp tài sản gắn liền với đất, giữa
các bên tranh chấp đất đai thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.
Tuy nhiên, Chủ tịch UBND huyện B giải quyết tranh chấp giữa các bên là không
đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của bà Phan Thị T:
[2.1] Ngày 24/9/2019, ông Phan Tấn H nộp đơn đề nghị giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất với vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Phan Thị T đối với
diện tích đất 94m
2
, thuộc một phần thửa đất số 2241 (số thửa thêm được chỉnh lý
từ thửa đất s1791 để phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
2019), tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính năm 2002); Tranh chấp giữa ông H với
ông B đã được hòa giải sở không thành và đương sự không Giấy chứng
13
nhận quyền sử dụng đất, không một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều
100 Luật đất đai không tranh chấp về tài sản gắn liền với đất nên Chủ tịch
UBND huyện B giải quyết tranh chấp đất đai đúng trình tự, thủ tục, thẩm
quyền theo quy định tại điểm a khoản 2, điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 203 Luật
đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 61, Điều 89 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai
Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tỉnh Quảng
Ngãi.
[2.2] Hồ sơ quản lý đất đai xã L thể hiện nguồn gốc đất tranh chấp như sau:
Theo tờ bản đồ 299/TTg đo vẽ năm 1985, thuộc một phần thửa đất s344, tờ
bản đồ đội 11, diện ch 22.480m
2
; Loại đất: đất nghĩa trang (NĐ).
Theo tờ bản đồ 299/TTg chỉnh năm 1996, thuộc một phần thửa đất nghĩa
địa diện ch 2.800m
2
, tờ bản đồ số 5; Loại đất: đất nghĩa trang. Theo sổ mục
đất lập m 1996, trang s137, thuộc thửa đất số 344, tờ bản đồ số 5, tên sử
dụng đất là nghĩa trang liệt sĩ, loại đất: đất nghĩa địa (NĐ).
Theo tờ bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002, thuộc một phần thửa đất số 1791,
tờ bản đồ số 12, diện tích 7.425m
2
. Theo sthống diện ch, chủ sử dụng theo
hiện trạng, trang số 13, số thứ tự thửa 1791, tên sử dụng đất UBND L, loại
đất: đất nghĩa địa (NĐ). Năm 2016, ông Nguyễn Văn B lập hồ đề nghị cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1791, tờ bản đồ số 12, L
được UBND L xác nhận nguồn gốc đất lấy ý kiến khu dân thống nhất
đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên qua kiểm tra hồ
địa chính thì thửa đất số 1791, tờ bản đồ số 12 đo bao nhiều chủ sử dụng (Biên
bản hòa giải ngày 03/5/2018 tại UBND L cũng xác định nhiều hộ sử dụng
thực hiện dự án tuyến đường sông Trà Bồng đã ảnh hưởng một phần nhưng
không bồi thường đất cho ai) nên hộ ông Nguyễn Văn B đã thỏa thuận thuê đơn
vị đo đạc lại theo hiện trạng sử dụng đất tại Biên bản ngày 09/10/2017 và theo
đó kết quả đo đạc lại của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi, chi nhánh
huyện B được chỉnh thành 02 thửa đất số thửa thêm 2241/197m
2
của
ông Phan Tấn H sử dụng thửa đất 2242/432m
2
của ông Nguyễn Văn B sử
dụng.
Như vậy, theo hđịa chính; Diện tích thửa đất s1791, tờ bản đồ số 12
(bao gồm cả diện tích đất tranh chấp 94m
2
) đất nghĩa trang, nghĩa địa do
UBND xã L quản lý nhưng trên thực tế được nhiều chủ sử dụng và trong đó, việc
sử dụng của vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Phan Thị T chỉ là thửa đất 2242, tờ
bản đồ số 12, diện tích 432m
2
; Bà T không tài liệu, chứng cứ chứng minh
nguồn gốc đất do khai hoang. Cho nên, T khởi kiện cho rằng thửa đất
1791, tbản đồ số 12 (bản đồ năm 2002) L, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi
nguồn gốc do ông của T tạo lập; Để lại cho vợ chồng T quản lý, sử
14
dụng được UBND L lấy ý kiến khu dân cư, xác nhận nguồn gốc đất và lập
danh sách đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận tnăm 2015, 2016 cho thửa đất
1791, tờ bản đồ số 12 (bản đồ năm 2002) là không đúng và không có căn cứ.
[2.3] Quá trình làm việc với UBND xã L, các nhân chứng ông Lê Văn Ngư,
Đặng T, Đặng Thân xác nhận diện tích đất tranh chấp do cha ông Phan Tấn H
ông Phan Viên khai hoang sdụng để trồng lang, tnăm 1983 -1985. Đến
năm 1986, ông Phan Viên già yếu nên để lại cho ông Phan Tấn H tiếp tục sử
dụng cho đến nay; phù hợp với hiện trạng ranh giới làm quán (trái phép) của
ông Đỗ Văn M đúng ngay mốc giới trước kia ông Nguyễn Văn B thoả thuận
thuê đơn vị đo đạc vào năm 2017 đã được Phòng Tài nguyên và Môi trường
kiểm tra mốc giới tại Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 04/6/2020 và đúng theo
ranh giới, mốc giới hộ ông Nguyễn Văn B trồng cột tông, rào lưới kẽm
gai vào năm 2010 được ông Đặng T, ông Q Ngư xác nhận. Bên cạnh đó, tại
đơn xin đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/02/2017, ông
B xin cấp 441m
2
tại thửa đất số 1936, tờ bản đsố 12, L được xác định là vị
trí thửa đất số 2242 tờ bản đồ số 12, xã L; không bao gồm diện tích đất tranh
chấp 94m
2
. Do đó, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
bà Phan Thị T đúng quy định của pháp luật.
[3] Tcác nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác kháng
cáo của bà Phan ThT.
Do bác kháng cáo nên Phan Thị T phải chịu án phí hành chính phúc
thẩm. Tuy nhiên, bà Phan Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên
bà Nguyễn Th Muôn không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
[4] Các quyết định còn lại của bản án thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật ttụng hành chính: bác kháng cáo của bà
Phan Thị T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
Căn cứ Điều 101, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 5 Điều
20, khoản 3 Điều 61, Điều 88, Điều 89, Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
đất đai; Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tnh
Quảng Ngãi quy định vtrình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc
thẩm quyền của quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án; xử:
15
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết
hủy Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của Chủ tịch UBND
huyện B về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Phan Tấn H ông
Nguyễn Văn B, cùng thường trú tại: khun cư số 12, thôn L, xã L, huyện B.
2/ Phan Thị T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
3/ Quyết định còn lại của bản án thẩm về chi phí tố tụng án phí
thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn, lưu trữ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phước Thanh
Tải về
Bản án 118/2023/HC-PT Bản án 118/2023/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 118/2023/HC-PT Bản án 118/2023/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất