Bản án số 115/2026/DS-ST ngày 17/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 115/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 115/2026/DS-ST ngày 17/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 115/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng Thương mại cổ phần Q kiện Nguyễn Hữu Thành P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản; Hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 115/2026/DS-ST Bản án số 115/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 115/2026/DS-ST Bản án số 115/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
Bản án số: 115/2026/DS-ST
Ngày: 17 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp tài sản; Hợp đồng
mua bán căn hộ hình thành trong
tương lai.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hải.
2. Bà Đặng Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 –
Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 250/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 12
năm 2025; thụ lý yêu cầu của bị đơn số 02/2026/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản; Hợp đồng mua bán
căn hộ hình thành trong tương lai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
176/2026/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
129/2026/QĐST-DS, ngày 10 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân Hàng Thương mại cổ phần Q (V: M).
Địa chỉ trụ sở chính: Số nhà A L, phường Y, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hữu Đ – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn P - Chức vụ: Tổng Giám đốc Công
ty TNHH Q1 và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Hợp đồng ủy
quyền số 154/UQ-MBAMC ngày 18/3/2021 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn P: Ông Lê Thanh H - Giám
đốc chi nhánh M1 (Giấy ủy quyền số 1720/UQ-MBAMC ngày 02/6/2023).
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thanh H: Ông Nguyễn Lê Anh K -
Chuyên viên tố tụng Công ty TNHH Q1 nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Q (Giấy ủy quyền số 530/UQ-MBAMC ngày 02/6/2023).
Địa chỉ: Tầng C, A L, phường H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Thành P1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số A T, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Trần Thảo N, sinh năm
2000.
Địa chỉ: Lô T, đường H, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần S2.
Địa chỉ trụ sở: Tòa C, Sunbay Park H1 & R, đường Y, phường Đ, tỉnh Khánh
Hòa.
Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Đức C – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Ông Nguyễn Trường S – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu T - Nhân viên kinh doanh (Văn
bản ủy quyền ngày 20/7/2026) (có mặt).
Địa chỉ: Văn phòng Công ty Cổ phần S2 tại Tòa C, Sunbay Park H1 & R đường
Y, tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/6/2023, trong quá trình tham gia tố tụng đại diện
hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 22/10/2020, ông Nguyễn Hữu Thành P1 phát sinh quan hệ tín dụng với Ngân
hàng Thương mại cổ phần Q (viết tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng cho vay số
124846.20.803.7786.194.TD, cụ thể như sau:
+ Số tiền cho vay: 1.756.000.000 đồng. Ngân hàng đã giải ngân cho ông P1 số tiền
1.748.000.000 đồng.
+ Mục đích sử dụng: Thanh toán một phần mua căn hộ số B.27-11, tầng 27, tòa
nhà B thuộc Dự án S & R.
+ Thời hạn cho vay: 180 tháng. Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%
lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán
căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày
24/02/2020 giữa Công ty cổ phần S2 (viết tắt là Công ty S3) và ông P1 theo Hợp đồng
thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số
124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020.
Cùng ngày 22/10/2020, giữa Ngân hàng, ông P1 và Công ty S3 ký kết bản Cam
3
kết hợp tác quản lý tài sản ba bên số 124856.20.803.7786194.CK.
Ngày 29/10/2020, giữa Ngân hàng và ông P1 đã ký kết Giấy đề nghị giải ngân
kiêm khế ước nhận nợ số LTI20240000143.ST04/10203038116.
Cùng ngày 29/10/2020, giữa Ngân hàng, ông P1 và Công ty S3 ký kết Thỏa thuận
ba bên về hỗ trợ thanh toán lãi vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P1 đã thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi là
273.486.668đ, sau đó ông P1 không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng nữa nên đã vi
phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu ông P1 trả
nợ nhưng ông P1 vẫn không chịu trả. Tính đến ngày 17/9/2026, ông P1 còn nợ Ngân
hàng tổng số tiền 2.877.193.268 đồng. Trong đó: nợ gốc 1.747.999.996 đồng; lãi trong
hạn: 9.920.199 đồng và lãi quá hạn: 1.119.273.073 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông P1 phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ
tạm tính đến ngày xét xử, ngày 17/9/2026 tổng số tiền là 2.877.193.268 đồng. Trong
đó: nợ gốc là 1.747.999.996 đồng; lãi trong hạn: 9.920.199 đồng và lãi quá hạn:
1.119.273.073 đồng và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chậm trả theo
mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số: 124846.20.803.7786194.TD
ngày 22/10/2020 và các khế ước nhận nợ đính kèm kể từ ngày 18/9/2026 cho đến khi
thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ
Hợp đồng mua bán nhà ở số: 124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 giữa ông
P1 và Ngân hàng TMCP Q - CN Cam Ranh và Cam kết hợp tác Quản lý tài sản ba bên
được ký ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3 với Công ty S3 và
ông P1 để bảo đảm cho việc thi hành án.
Đề nghị tòa án tuyên toàn bộ số tiền mà ông P1 nhận được từ Công ty S3 phát sinh
từ: “Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 giữa Công ty CP S2 và ông Nguyễn Hữu
Thành P1” phải chuyển về tài khoản thanh toán của ông P1 mở tại Ngân hàng TMCP
Q.
Trường hợp ông P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh
toán cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án tiến hành kê
biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân
hàng, tài sản bảo đảm gồm có: Toàn bộ quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán
Căn hộ, cụ thể : Căn hộ số B.27-11, tầng 27, tòa nhà B thuộc Dự án Sunbay Park H1 &
R tại phường M, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch
hình thành trong tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020
giữa Công ty S3 và ông P1.
Đối với yêu cầu độc lập của bị đơn với Công ty S3, Ngân hàng có ý kiến như sau:
Đây là nội dung tranh chấp của các bên liên quan đến nội dung của hợp đồng mua bán
căn hộ, Ngân hàng không phải là bên tham gia trực tiếp việc mua bán này nên đề nghị
tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
4
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu Thành P1, người đại diện theo ủy quyền của ông P1
trình bày:
Ngày 24/02/2020, ông P1 ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành
trong tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY với Công ty cổ phần S2 để mua căn
hộ số B.27-11 toà nhà B (tổng diện tích sàn là 53,3m
2
), giá bán căn hộ 2.554.988.800
đồng. Ông P1 đã thanh toán cho Công ty S3 tổng số tiền là 2.508.809.200 đồng, trong
đó vốn tự có là 760.809.200 đồng, vốn vay theo Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng M2
là 1.748.000.000 đồng.
Ngày 22/10/2020, ông P1 và Ngân hàng TMCP Q ký kết Hợp đồng cho vay số
124846.20.803.7786194.TD để vay số tiền 1.756.000.000 đồng. Ngày 29/10/2020, giữa
Ngân hàng và ông P1 ký kết Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
LTI20240000143.ST04/10203038116. Ngân hàng đã giải ngân cho ông P1
1.748.000.000 đồng. Cùng ngày 29/10/2020, giữa Ngân hàng, ông P1 và Công ty S3
ký kết Thỏa thuận ba bên về hỗ trợ thanh toán lãi vay.
Ngày 22/10/2020, ông P1 và Ngân hàng TMCP Q ký kết Hợp đồng thế chấp tài
sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở số 124847.20.803.7786194.BĐ để đảm bảo
cho khoản vay và cùng ngày giữa ông P1, Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3 và
Công ty S3 ký kết Cam kết hợp tác quản lý tài sản ba bên số
124856.20.803.7786194.CK ngày 22/10/2020.
Trong quá trình vay vốn, ông P1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi
273.486.668 đồng, sau đó ông P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi cho Ngân hàng do
Công ty S3 đến nay chưa bàn giao căn hộ cho ông.
Nay, Ngân hàng khởi kiện thì ông P1 đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Đồng
ý trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2026 tổng số tiền là
2.877.193.268 đồng. Đồng ý kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày
18/9/2026), còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh
toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Đồng ý tiếp
tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số
124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 giữa ông P1 và Ngân hàng TMCP Q; Và
Cam kết hợp tác quản lý tài sản ba bên số 124856.20.803.7786194.CK ngày 22/10/2020
giữa ông P1, Ngân hàng TMCP Q và Công ty S3 để đảm bảo cho việc thi hành án. Đồng
ý trong trường hợp ông P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh
toán các khoản tiền nêu cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi
hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi
toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Theo Điều 4 của Hợp đồng mua bán, Công ty S3 có nghĩa vụ bàn giao căn hộ cho
ông P1 vào quý 1 năm 2022 tuy nhiên đến nay Công ty S3 vẫn chưa bàn giao căn hộ
cho ông P1 đã vi phạm thời hạn bàn giao căn hộ. Do đó, ông P1 yêu cầu Công ty S3
phải trả cho ông tiền lãi trên số tiền đã thanh toán theo mức lãi suất quá hạn là
5
0,03%/ngày.
Căn cứ theo Điều 3.1 của Hợp đồng mua bán căn hộ và theo quy định Luật Kinh
doanh bất động sản năm 2014, khách hàng thanh toán theo tiến độ đầu tư dự án bất
động sản hình thành trong tương lai chỉ được thu tổng số toán không quá 70% giá trị
hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách hàng. Theo đó giá trị
Hợp đồng mua bán căn hộ B.27-11 là 2.554.989.000 đồng. Mức trần 70% giá trị hợp
đồng theo quy định pháp luật là 1.788.492.300 đồng. Tuy nhiên, Công S1 đã thu của
ông P1 tổng số tiền 2.508.809.200 đồng, tương đương 98,19% đã thu vượt mức trần
pháp luật cho phép, tương đương 28,19% giá trị hợp đồng. Do đó ông P1 yêu cầu Công
ty S3 hoàn trả số tiền 720.316.900 đồng mà Công ty đã thu vượt tiến độ thi công trên
thực tế và vượt mức trần pháp luật cho phép.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
ngày 18/8/2026, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà N đã thay đổi yêu cầu độc lập
với Công ty S3 như sau:
- Buộc Công ty S3 hoàn trả cho ông P1 số tiền đã thu vượt tiến độ thi công trên
thực tế và vượt mức trần pháp luật cho phép, tạm tính 720.316.900 đồng.
- Buộc Công ty S3 thanh toán tiền phạt chậm bàn giao căn hộ theo mức
0,03%/ngày, như sau: Thời gian chậm bàn giao từ ngày 01/01/2023 đến ngày
13/8/2026, số tiền phạt là: 2.508.809.200 đồng x 0,03%/ngày x 1.321 ngày =
994.241.086 đồng.
- Kể từ ngày 14/8/2026 buộc Công ty S3 tiếp tục trả tiền phạt chậm bàn giao tính
theo công thức: 1.788.492.300 x 0,03% cho đến ngày Công ty S3 bàn giao căn hộ cho
ông P1.
Ông P1 rút một phần yêu cầu, cụ thể:
- Tuyên Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai
số: B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa ông P1 với Công ty S3.
- Buộc Công ty S3 thanh toán toàn bộ phần lãi cho Ngân hàng với số tiền là
1.340.991 đồng lãi trong trong hạn và 543.007.309 đồng lãi quá hạn.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà N tiếp tục thay đổi yêu cầu
độc lập với Công ty S3 như sau:
Buộc Công ty cổ phần S2 thanh toán tiền phạt chậm bàn giao căn hộ theo mức
0,03%/ngày, như sau: Thời gian chậm bàn giao từ ngày 01/01/2023 đến ngày
17/9/2026, số tiền phạt là: 2.508.809.200 đồng x 0,03%/ngày x 1.356 ngày =
1.020.583.583 đồng.
Kể từ ngày 18/9/2026 buộc Công ty cổ phần S2 tiếp tục trả tiền phạt chậm bàn
giao tính theo công thức: 2.508.809.200 đồng x 0,03% cho đến ngày Công ty cổ phần
S2 bàn giao căn hộ cho ông P1.
6
Công ty S3 có nghĩa vụ thanh toán vào tài khoản của ông P1 mở tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Q để cấn trừ vào nghĩa vụ trả nợ của ông P1 tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần Q, số tiền chênh lệch còn lại được hoàn trả trực tiếp cho ông P1.
Ông P1 rút một phần yêu cầu, cụ thể: Buộc Công ty S3 phải trả cho ông P1 số tiền
720.316.900 đồng đã thu vượt tiến độ thi công thực tế và vượt mức trần pháp luật cho
phép.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S2, người đại diện theo
ủy quyền bà T trình bày:
Ngày 24/02/2020, Công ty S3 và ông P1 có lập Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch
hình thành trong tương lai số: B.27-11/2020/HĐMB/Sunbay, ngày 24/02/2020 mua bán
căn hộ số: B.27-11, tầng 27, tòa nhà B; diện tích sử dụng căn hộ 48,5m² đất; diện tích
sàn xây dựng căn hộ là 53,3m² thuộc Dự án Sunbay Park H1 & Resort, tọa lạc tại
phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Giá chuyển nhượng 2.554.989.000 đồng,
đã nhận 2.508.809.200 đồng.
Ngày 22/10/2020, Ngân hàng, Công ty S3 và ông P1 ký kết thỏa thuận ba bên.
Ngày 29/10/2020, Ngân hàng đã giải ngân trực tiếp cho Công ty S3 số tiền
1.748.000.000 đồng theo “Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” của ông P1 để
thanh toán tiền Căn hộ số: B.27-11, tầng 27, tòa nhà B thuộc Dự án Sunbay Park H1 &
R theo Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số: B.27-
11/2020/HĐMB/Sunbay, ngày 24/02/2020 giữa Công ty S3 và ông P1.
Hiện nay Công ty S3 chưa bàn giao Căn hộ số: B.27-11, tầng 27, tòa nhà B thuộc
Dự án Sunbay Park H1 & R, cho ông P1 do dịch bệnh C1 ảnh hưởng đến tiến độ hoàn
thành dự án.
Nay Ngân hàng khởi kiện ông P1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế
chấp tài sản thì Công ty không có ý kiến gì về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Đối với
yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát
sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số: 124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 giữa
ông P1 và Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) - Chi nhánh C3 và Cam kết hợp tác
Quản lý tài sản ba bên được ký ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh
C3 với Công ty S3 và ông P1 thì Công ty S3 đồng ý.
* Đối với yêu cầu của ông P1 buộc Công ty S3 hoàn trả 720.316.900 đồng (phần
vượt trần 70%) thì Công ty không đồng ý. Lý do: Ông P1 cho rằng Công ty S3 vi phạm
pháp luật khi thu đến 98,19% giá trị Hợp đồng mua bán là không phản ánh đúng bản
chất giao dịch thực tế. Việc thanh toán này bao gồm phần vốn tự có của khách hàng và
1.748.000.000 đồng do Ngân hàng giải ngân. Việc giải ngân dựa trên ý chí tự nguyện
của ông P1 thông qua việc ký kết đề nghị giải ngân và Ủy nhiệm chi gửi Ngân hàng.
Công ty S3 không có bất kỳ văn bản hay hành vi nào ép buộc khách hàng phải nộp vượt
tiến độ. Việc đóng tiền đạt tỷ lệ 98,19% là điều kiện bắt buộc để ông P1 được hưởng
Chính sách Hỗ trợ lãi suất do Công ty S3 tài trợ và đủ điều kiện kích hoạt chương trình
cho thuê/khai thác căn hộ nhằm thu lợi nhuận.
7
* Đối với yêu cầu của ông P1 về tính phạt chậm bàn giao và thực hiện hợp đồng
thì Công ty S3 chấp nhận một phần các yêu cầu do ông P1 đưa ra, cụ thể:
Chấp nhận về khoản tiền hoàn trả tiền phạt chậm bàn giao: Công ty S3 đồng ý
hoàn trả cho ông P1 toàn bộ số tiền gốc đã đóng là 2.508.809.200 đồng (tương ứng
98,19% giá trị hợp đồng). Công ty S3 đồng ý với mức phạt chậm bàn giao tạm tính đến
ngày 17/9/2026 là 1.020.583.583 đồng, được tính trên tiền gốc 98,19% giá trị hợp đồng
mua bán đã nhận cho giai đoạn tính đến ngày xét xử.
Ngoài ra, Công ty không đồng ý tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán căn hộ theo
Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 đề nghị Tòa án tuyên hủy bỏ Hợp đồng
mua bán nêu trên để giải quyết dứt điểm toàn bộ công nợ và nghĩa vụ giữa các bên.
Công ty đồng ý hoàn trả toàn bộ số tiền ông P1 đã nộp là 2.508.809.200 đồng.
Công ty S3 không đồng ý với yêu cầu của ông P1 về tính phạt chậm bàn giao cho
giai đoạn từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật đến ngày Công ty S3 thực
tế bàn giao căn hộ theo công thức ông P1 đưa ra (Số tiền đã nhận thực tế x 0,03% x số
ngày thực tế kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực). Do Công ty S3 đã đề nghị hủy
Hợp đồng mua bán và đồng ý hoàn trả toàn bộ tiền gốc cùng tiền phạt chốt đến ngày
xét xử, quan hệ Hợp đồng mua bán căn hộ sẽ chấm dứt. Mọi nghĩa vụ tài chính sẽ được
thực hiện theo phán quyết của Bản án/Quyết định, không còn căn cứ để áp dụng phạt
chậm bàn giao căn hộ cho giai đoạn sau đó.
Tại phiên tòa, bà T là người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần S2 đề
nghị Tòa án giải quyết:
Hủy Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa Công ty S3 và ông P1;
Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty S3 trong việc hoàn trả cho ông P1 toàn bộ số
tiền gốc đã nhận là 2.508.809.200 đồng và khoản tiền phạt chậm bàn giao tạm tính đến
ngày 17/9/2026 là 1.020.583.583 đồng.
Không đồng ý với yêu cầu tính phạt chậm bàn giao cho giai đoạn từ ngày Bản
án/Quyết định có hiệu lực pháp luật đến ngày bàn giao căn hộ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá
trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của
pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự, cụ
thể:
8
Ông P1 đồng ý trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2026
là 2.877.193.268 đồng.
Ông P1 đồng ý tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá
hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số: 124846.20.803.7786194.TD ngày 22/10/2020
và các khế ước nhận nợ đính kèm kể từ ngày 18/9/2026 cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ.
Ông P1 đồng ý tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp
đồng mua bán nhà ở số 124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 giữa ông P1 và
Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3; Và Cam kết hợp tác quản lý tài sản ba bên số
124856.20.803.7786194.CK ngày 22/10/2020 giữa ông P1, Ngân hàng TMCP Q – Chi
nhánh C3 và Công ty S3 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Công ty và
ông P1 về việc Công ty S3 đồng ý thanh toán tiền phạt chậm bàn giao căn hộ tính đến
ngày 17/9/2026 là 1.020.583.583 đồng. Kể từ ngày 18/9/2026 buộc Công ty S3 tiếp tục
trả tiền phạt chậm bàn giao (cách tính như sau 2.508.809.200 đồng x 0,03%/ngày) cho
đến ngày Công ty S3 bàn giao căn hộ cho ông P1.
Đình chỉ xét xử phần yêu cầu của bị đơn về việc: Buộc Công ty S3 hoàn trả cho
ông P1 số tiền đã thu vượt tiến độ thi công trên thực tế và vượt mức trần pháp luật cho
phép là 720.316.900 đồng; Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành
trong tương lai số: B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa ông P1 với
Công ty S3; Buộc Công Sunbay thanh toán toàn bộ phần lãi cho Ngân hàng M2 với số
tiền là 1.340.991 đồng lãi trong trong hạn và 543.007.309 đồng lãi quá hạn.
Ngoài ra, đương sự chịu chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông P1 phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng
tín dụng đã ký kết và tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản; Bị đơn có yêu cầu độc
lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S2 buộc phải trả
cho ông P1 số tiền lãi chậm bàn giao căn hộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản; Hợp đồng
mua bán căn hộ hình thành trong tương lai” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng
dân sự (viết tắt BLTTDS).
Bị đơn có nơi cư trú tại phường P, tỉnh Khánh Hòa, căn cứ vào Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 5 – Khánh Hòa.
[2]. Về nội dung:
9
[2.1]. Đối với hợp đồng cho vay số 124846.20.803.7786194.TD ngày
22/10/2020:
Ngày 22/10/2020, ông P1 có ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay số
124846.20.803.7786.194.TD số tiền vay 1.756.000.000 đồng, thời hạn vay: 180 tháng.
Mục đích vay: Thanh toán một phần mua căn hộ số B.27-11, tầng 27, tòa nhà B thuộc
Dự án S & R. Lãi suất cho vay: Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi
suất trong hạn. Ngày 29/10/2020, giữa Ngân hàng và ông P1 đã ký Giấy đề nghị giải
ngân kiêm khế ước nhận nợ số LTI20240000143.ST04/10203038116, Ngân hàng đã
giải ngân cho ông P1 số tiền 1.748.000.000 đồng.
Xét hợp đồng tín dụng thấy rằng: Chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật
dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, các bên đã thỏa thuận và được ký kết hoàn
toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Do đó, Hợp đồng tín dụng số
124846.20.803.7786.194.TD ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng và ông P1 là hợp pháp,
có hiệu lực.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông P1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với
Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông P1 phải trả cho Ngân hàng số tiền
còn nợ tính đến ngày 17/9/2026, ông P1 còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB)
tổng số tiền 2.877.193.268 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.747.999.996 đồng; lãi trong
hạn: 9.920.199 đồng và lãi quá hạn: 1.119.273.073 đồng.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,
cũng như tại phiên tòa bà N là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn xác nhận còn nợ và đồng ý trả cho Ngân hàng
số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2026 là 2.877.193.268 đồng. Bị đơn đồng ý kể từ
ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/9/2026), còn phải tiếp tục chịu khoản
tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng.
[2.2] Đối với hợp đồng thế chấp tài sản:
Tài sản thế chấp là toàn bộ quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ,
cụ thể : Căn hộ số B.27-11, tầng 27, tòa nhà B; Diện tích sử dụng căn hộ 48,5 m
2
; Diện
tích sàn xây dựng căn hộ là 53,3 m
2
thuộc Dự án Sunbay Park Hotel & R tại phường
M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành
trong tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 giữa Công ty
S3 và ông P1.
Ngày 22/10/2020 giữa ông P1 và Ngân hàng ký kết Hợp đồng thế chấp quyền tài
sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số 124847.20.803.7786194.BĐ, Số công
chứng: 5914, quyển số: 01/2020 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng
Nguyễn Thị Thanh H2. Các chủ thể ký kết hợp đồng không vi phạm điều cấm, không
trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như
vậy, hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định pháp luật về cả hình thức và nội dung.
Do đó, Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp trên, yêu cầu phát mãi tài
10
sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là phù hợp với quy định tại
Hợp đồng thế chấp và các Điều 317, 319 và 320, 466 của Bộ luật Dân sự.
Cùng ngày 22/10/2020, giữa Ngân hàng, ông P1 và Công ty S3 ký kết bản Cam
kết hợp tác quản lý tài sản ba bên số 124856.20.803.7786194.CK. Việc thỏa thuận các
bên đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật. Do đó, việc
nguyên đơn, bị đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện các nội dung đã cam kết để đảm bảo cho
việc thi hành nghĩa vụ thanh toán của bị đơn là phù hợp với quy định, có căn cứ để chấp
nhận.
Tại phiên tòa bà T là người đại diện theo ủy quyền của Công ty S2 cũng đồng ý
đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản
phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số: 124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020
giữa ông P1 và Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) - Chi nhánh C3 và Cam kết
hợp tác Quản lý tài sản ba bên được ký ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q –
Chi nhánh C3 với Công ty S3 và ông P1.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,
cũng như tại phiên tòa bà N là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng ý tiếp tục
duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số:
124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 và Cam kết hợp tác Quản lý tài sản ba
bên được ký ngày 22/10/2020.
[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn đề nghị tòa án xác định toàn bộ số
tiền mà ông P1 nhận được từ công ty cổ phần S2 phát sinh từ: “Hợp đồng mua bán Căn
hộ du lịch hình thành trong tương lai số số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày
24/02/2020 giữa Công ty CP S2 và ông Nguyễn Hữu Thành P1” phải chuyển về tài
khoản thanh toán của ông P1 mở tại Ngân hàng M2. Xét thấy, tại Cam kết hợp tác Quản
lý tài sản ba bên được ký ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3
với Công ty CP S2 và ông P1 các bên đã tự nguyện thỏa thuận, nội dung thỏa thuận là
phù hợp, không trái quy định nên được chấp nhận. Tại phiên tòa bà T là người đại diện
theo ủy quyền của Công ty S2 cũng đồng ý đối với yêu cầu trên của các đương sự.
[2.4] Do nguyên đơn, bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
bộ vụ án liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Xét đề nghị của nguyên đơn, bị đơn cũng
như ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy rằng: Sự thỏa thuận của các
đương sự là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều
cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty cổ phần S2:
Đối với yêu cầu buộc Công ty S3 thanh toán tiền phạt chậm bàn giao căn hộ theo
mức 0,03%/ngày quy định trong Hợp đồng mua bán, yêu cầu tính thời gian chậm bàn
giao từ ngày 01/01/2023 đến ngày 17/9/2026 (1.356 ngày), số tiền phạt là:
2.508.809.200 đồng x 0,03%/ngày x 1.356 ngày = 1.020.583.583 đồng. Và kể từ ngày
11
18/9/2026 buộc Công ty S3 tiếp tục trả tiền phạt chậm bàn giao (cách tính
2.508.809.200 đồng x 0,03%/ngày) cho đến khi Công ty S3 bàn giao căn hộ, thấy rằng:
Theo khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong
tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 giữa Công ty S3 và
ông P1 quy định “Bên bán dự kiến bàn giao căn hộ cho Bên Mua vào quý 1 năm 2022
cho Tòa nhà B”.
Theo khoản 4.2.1 Điều 4 của Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong
tương lai số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 quy định: “Nếu Bên
Bán bàn giao Căn Hộ cho Bên Mua chậm hơn 120 (một trăm hai mươi) ngày kể từ
Ngày Bàn Giao Dự Kiến mà không có thông báo gửi đến Bên Mua thì Bên Bán phải trả
cho Bên Mua tiền lãi trên số tiền G bán Căn Hộ mà Bên Mua đã thực tế thanh toán cho
Bên Bán theo mức lãi suất quá hạn là 0,03%/ngày (không phẩy không ba phần trăm
một ngày).”
Tại phiên tòa, bà T là người đại diện theo ủy quyền của Công ty S3 trình bày: Đề
nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của Công ty S3 trong việc hoàn trả cho
ông P1 tiền phạt chậm bàn giao tạm tính đến ngày 17/9/2026 là 1.020.583.583 đồng.
Đối với yêu cầu tính phạt chậm bàn giao kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử buộc
Công ty phải tiếp tục trả tiền phạt chậm bàn giao cho đến khi bàn giao căn hộ thì Công
ty không đồng ý.
Như đã phân tích, tính đến nay Công ty S3 chưa bàn giao căn hộ cho ông P1 là vi
phạm hợp đồng, phát sinh nghĩa vụ phải trả cho ông P1 tiền lãi trên số tiền giá bán căn
hộ mà ông P1 đã thực tế thanh toán cho Công ty. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, có
căn cứ để chấp nhận yêu cầu trên của ông P1. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty S3
đồng ý hoàn trả cho ông P1 tiền phạt chậm bàn giao tạm tính đến ngày 17/9/2026 là
1.020.583.583 đồng.
Và kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì Công ty cổ phần S2 còn phải
tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền 2.508.809.200 đồng mà ông P1 đã thực tế thanh toán
cho Công ty S3 theo mức lãi suất quá hạn là 0,03%/ngày mà các bên thỏa thuận trong
Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 cho đến khi Công ty S3 bàn giao căn hộ
cho ông P1.
[4] Đối với yêu cầu độc lập: Buộc Công ty S3 hoàn trả cho ông P1 số tiền đã thu
vượt tiến độ thi công trên thực tế và vượt mức trần pháp luật cho phép là 720.316.900
đồng; Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số: B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa ông P1 với Công ty S3; Buộc Công
ty S3 thanh toán toàn bộ phần lãi cho Ngân hàng M2 với số tiền là 1.340.991 đồng lãi
trong trong hạn và 543.007.309 đồng lãi quá hạn, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa bị đơn rút yêu cầu độc lập nêu trên, việc rút yêu cầu độc lập của
bị đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập
này là phù hợp với quy định tại Điều 244 của BLTTDS.
12
[5] Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty S3
không có yêu cầu độc lập, tuy nhiên tại phiên tòa bà T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên
hủy Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa Công ty S3 và ông P1, ghi nhận về
việc Công ty sẽ hoàn trả cho ông P1 toàn bộ số tiền gốc đã nhận là 2.508.809.200 đồng.
Xét đề nghị của Công ty S3, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu trên vượt quá phạm vi
khởi kiện, do đó không có căn cứ để xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp các
đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
trong vụ án khác.
[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông P1 phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q
2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng
đã nộp tạm ứng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S2 phải chịu và có nghĩa
vụ hoàn trả cho bị đơn ông P1 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ mà bị đơn ông P1 đã nộp tạm ứng.
[7] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa phù
hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157,
161, điểm b khoản 2 Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Căn cứ các Điều 280, 317, 319, 320, 327, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật
dân sự;
Căn cứ khoản 16 Điều 4 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q với
bị đơn ông Nguyễn Hữu Thành P1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên Công
ty cổ phần S2 cụ thể như sau:
13
Ông Nguyễn Hữu Thành P1 xác nhận có vay, còn nợ và đồng ý trả cho Ngân hàng
TMCP Q số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2026 là 2.877.193.268 đồng (Bằng chữ: Hai
tỷ, tám trăm bảy mươi bảy triệu, một trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm sáu mươi tám
đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.747.999.996 đồng, nợ lãi: 1.129.193.272 đồng (trong đó:
Nợ lãi trong hạn: 9.920.199 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.119.273.073 đồng).
Ông P1 đồng ý tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá
hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số: 124846.20.803.7786194.TD ngày 22/10/2020
và khế ước nhận nợ đính kèm kể từ ngày 18/9/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản
nợ. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng mà các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh
lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông P1 phải tiếp tục
thanh toán cho Ngân Hàng Thương mại cổ phần Q theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ
được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân Hàng Thương mại cổ
phần Q.
Ông P1 đồng ý tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp
đồng mua bán nhà ở số 124847.20.803.7786194.BĐ ngày 22/10/2020 giữa ông Nguyễn
Hữu Thành P1 và Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3; Và Cam kết hợp tác quản lý
tài sản ba bên số 124856.20.803.7786194.CK ngày 22/10/2020 giữa ông Nguyễn Hữu
Thành P1, Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh C3 và Công ty cổ phần S2 để đảm bảo cho
việc thi hành án.
Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hữu Thành
P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu
trên cho Ngân hàng TMCP Q, thì Ngân hàng TMCP Q có quyền đề nghị Cơ quan thi
hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi
toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, tài sản bảo đảm gồm có: Toàn bộ quyền tài sản phát
sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ, cụ thể : Căn hộ số B.27-11, tầng 27, tòa nhà B; Diện
tích sử dụng căn hộ 48,5m
2
; Diện tích sàn xây dựng căn hộ là 53,3m
2
thuộc Dự án
Sunbay Park Hotel & R tại phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường
Đ, tỉnh Khánh Hòa) theo Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai
số B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 giữa Công ty CP S2 và ông
Nguyễn Hữu Thành P1.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông P1 đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Công ty cổ phần S2:
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Công ty cổ phần S2 và ông Nguyễn Hữu Thành P1
về việc Công ty cổ phần S2 đồng ý trả cho ông P1 tiền lãi trên số tiền 2.508.809.200
đồng mà ông P1 đã thực tế thanh toán cho Công ty cổ phần S2 theo mức lãi suất quá
hạn là 0,03%/ngày tính đến ngày 17/9/2026 là 1.020.583.583 đồng (một tỷ không trăm
hai mươi triệu năm trăm tám mươi ba nghìn năm trăm tám mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/9/2026) Công ty cổ phần
S2 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền 2.508.809.200 đồng mà ông P1 đã thực tế
thanh toán cho Công ty cổ phần S2 theo mức lãi suất quá hạn là 0,03%/ngày mà các
bên thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số
14
B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 cho đến khi Công ty cổ phần S2 bàn
giao căn hộ cho ông P1.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên còn phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Toàn bộ số tiền mà ông Nguyễn Hữu Thành P1 nhận được từ Công ty cổ phần S2
phát sinh từ: “Hợp đồng mua bán Căn hộ du lịch hình thành trong tương lai số số B.27-
11/2020/HĐMB/SUNBAY ký ngày 24/02/2020 giữa Công ty CP S2 và ông Nguyễn Hữu
Thành P1” phải chuyển vào tài khoản thanh toán của ông P1 mở tại Ngân hàng TMCP
Q để cấn trừ vào nghĩa vụ trả nợ của ông P1 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, số
tiền chênh lệch còn lại được hoàn trả trực tiếp cho ông P1.
3. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu cầu độc lập của bị đơn ông Nguyễn Hữu Thành
P1 đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S2 về việc:
- Tuyên Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ du lịch hình thành trong tương lai
số: B.27-11/2020/HĐMB/SUNBAY ngày 24/02/2020 giữa ông Nguyễn Hữu Thành P1
với Công ty cổ phần S2.
- Buộc C2 cổ phần Sunbay Ninh T1 thanh toán toàn bộ phần lãi cho Ngân hàng
M2 với số tiền là 1.340.991 đồng lãi trong trong hạn và 543.007.309 đồng lãi quá hạn.
- Buộc Công ty cổ phần S2 hoàn trả cho ông P1 số tiền đã thu vượt tiến độ thi công
trên thực tế và vượt mức trần pháp luật cho phép là 720.316.900 đồng.
Ông P1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu bị đình
chỉ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu Thành P1 phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân
hàng TMCP Q 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
mà Ngân hàng đã nộp tạm ứng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S2 phải chịu và có nghĩa
vụ hoàn trả cho bị đơn ông P1 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ mà bị đơn ông P1 đã nộp tạm ứng.
5. Về án phí:
- Ông Nguyễn Hữu Thành P1 phải chịu án phí sơ thẩm là 44.771.993 đồng (bốn
mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi ba đồng) nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.088.427 đồng (năm mươi sáu triệu không
trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0004967 ngày 10/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
Hoàn trả lại cho ông P1 11.316.434 đồng (mười một triệu ba trăm mười sáu nghìn bốn
15
trăm ba mươi bốn đồng) đã đóng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí tòa án nêu trên.
- Công ty cổ phần S2 phải chịu án phí sơ thẩm là 42.617.507 đồng (bốn mươi hai
triệu sáu trăm mười bảy nghìn năm trăm linh bảy đồng).
- H3 lại cho Ngân hàng TMCP Q 35.168.000 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm
sáu mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0005491 ngày 27/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang -
T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Thi hành án dân sự tỉnh K).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34, 36 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 115/2026/DS-ST Bản án số 115/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 115/2026/DS-ST Bản án số 115/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất