Bản án số 1135/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1135/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1135/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1135/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Nguyễn Văn K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1135/2026/DS-PT Bản án số 1135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1135/2026/DS-PT Bản án số 1135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1135/2026/DS-PT
Ngày: 08-9-2026
V/v tranh chấp thừa kế tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Nga
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Ôn Tú Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn
Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2026/TLPT - DS ngày 10 tháng 4 năm 2026 về
“Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 331/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959.
Địa chỉ: F Ấp F, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Thanh P, sinh năm 1988, địa
chỉ: số B đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 06/9/2022)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị
Kim T, Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Cao Thị Kim C, sinh năm 1967, địa chỉ:
Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Bà Nguyễn Thị X, chết ngày 23/01/2022
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị X:
- Ông Trương Văn T1, sinh năm 1975.
- Bà Trương Thị Hồng Y, sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ: Số H Rạch C, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Số H, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông T1, bà Y, ông K1: ông Trần Thanh P, sinh năm
1988, địa chỉ: số B T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo các Văn bản ủy quyền ngày 06/9/2022 và ngày 14/9/2022.)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trương Văn T1, bà Trương Thị
Hồng Y, ông Nguyễn Văn K1: Luật sư Nguyễn Thị Kim T, Công ty L1, thuộc Đoàn
Luật sư Thành phố H.
3.2. Ông Nguyễn Trần Hoàng T2, sinh năm 1999.
Địa chỉ: E ấp E, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông T2: bà Cao Thị Kim C, sinh năm 1967, địa chỉ:
Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 10/7/2024.)
3.3. Bà Cao Thị Kim C, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
3.4. Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
3.5. Ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã P, tỉnh Tây Ninh.
3.6. Bà Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1975.
3.7. Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: D ấp D, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.8. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1967.
3.9. Bà Lê Thị T4, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: E ấp E, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.10. Ông Cao Hùng V1, sinh năm 1980.
3.11. Bà Trịnh Thị Thu T5, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã M, tỉnh Tây Ninh.
3.12. Văn phòng C2.
3
Địa chỉ: Số D K, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.13. Văn phòng C3.
Địa chỉ: E N, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị Mỹ L - Trưởng Văn phòng.
Người đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Văn T6, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số A N, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 24/9/2025)
4. Người kháng cáo:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn
T1, bà Trương Thị Hồng Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2021 và các văn bản trong quá trình
tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn, ông Trần Thanh P đại diện, ông P đồng thời đại diện cho những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, anh Trương Văn T1, bà
Trương Thị Hồng Y cùng yêu cầu đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K:
Yêu cầu Tòa án hủy Văn bản khai nhận di sản số 009598 ngày 05/10/2017 và hủy
Văn bản khai nhận di sản số 010641 ngày 08/09/2018 do Công chứng viên Văn phòng
Công chứng Nguyễn Quốc C1 chứng nhận.
Yêu cầu Tòa án tuyên:
1. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở giữa
ông Nguyễn Văn K, bà Cao Thị Kim C, ông Nguyễn Tấn Đ, ông Nguyễn Tấn P1 với
bà Nguyễn Thị Ngọc T3 ngày 18/10/2018, được công chứng tại Văn phòng C2, số C,
quyển số 10.TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 740, tờ bản đồ số 28, diện tích
390,7m
2
, loại đất: 300m
2
đất ở nông thôn; 90,7m
2
đất trồng cây lâu năm; nhà ở riêng
lẻ; diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà và đất tại xã H, huyện B, Thành
phố Hồ Chí Minh;
2. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Hoàng V, bà Nguyễn Thị Ngọc T3 với ông Phạm Văn H và ông Cao Hùng
V1 ngày 02/12/2019, được công chứng tại Văn phòng C3 ngày 02/12/2019, số công
chứng 010520, quyển số 12/2019/HĐGD - CCAL đối với thửa đất số 740, tờ bản đồ số
28, diện tích 390,7m
2
, loại đất 300m
2
đất ở nông thôn, 90,7m
2
đất trồng cây lâu năm;
nhà ở riêng lẻ: diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà và đất tại xã H, huyện
B, Thành phố Hồ Chí Minh;
3. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Phạm Văn H, bà Lê Thị T4 với ông Cao Hùng V1 và bà Trịnh Thị Thu T5 ngày
15/10/2020, được công chứng tại Văn phòng C3 cùng ngày 15/10/2020, số công chứng
006453, quyển số 10/2020/HĐGD - CCAL đối với thửa đất số 740, tờ bản đồ số 28,
4
diện tích 390,7m
2
, loại đất: 300m
2
đất ở nông thôn, 90,7m
2
đất trồng cây lâu năm; nhà
ở riêng lẻ: diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà và đất tại xã H, huyện B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Công nhận quyền sử dụng 390,7 m
2
đất thuộc thửa đất số 740, tờ bản đồ số 28, đất
tại xã H, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N.
Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N để lại cho các đồng thừa kế của cụ
N, gồm ông D, ông K1 mỗi người nhận 1/5 di sản của cụ N và anh T1, chị Y con bà X
được nhận 1/5 di sản của cụ N.
Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí bổ túc hồ sơ giải quyết tranh chấp, hiện trạng tỷ lệ
1/500 của Trung tâm K2 thuộc sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố H ngày
20/8/2025.
Hội đồng định giá theo quyết định định giá tài sản số 85/2024/QĐ-ĐG ngày
23/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và Biên
bản định giá tài sản ngày 18/11/2024 tại phần đất thuộc thửa 740, tờ bản đồ số 28, xã
H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đất ONT
có giá 3.700.000 đồng/m
2
. Theo bản đồ hiện trạng diện tích đất ONT nguyên đơn, người
liên quan đứng về phía nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế diện tích 285m
2
; đất trồng cây
lâu năm giá 750.000 đồng/m
2
diện tích 85,6m
2
. Với diện tích đất thổ và đất trồng cây
lâu năm chia đều cho 05 người thừa kế của cụ N mỗi người 57m
2
đất thổ và 17,2m
2
đất
trồng cây lâu năm. Tài sản là nhà trên đất gồm cột gỗ, vách tôn, nền xi măng đã mục
nát, không còn giá trị sử dụng nên hội đồng không định giá, nguyên đơn, người liên
quan không yêu cầu.
Đại diện nguyên đơn, người liên quan là ông P cũng như Luật sư Tiếng bảo vệ cho
nguyên đơn trình bày căn cứ yêu cầu chia đều di sản của cụ N làm 05 phần: thứ nhất
căn cứ vào quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995 là cấp đất nông nghiệp cho hộ của cụ N
và năm 2003 đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng xác định thửa đất 280 cấp
cho hộ của cụ N. Theo xác nhận của cơ quan công an huyện B vào năm 2020 thì hộ cụ
N có các người con là bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn
K1, Nguyễn Văn K và cụ N là chủ hộ đại diện cho các người con đứng tên vì vậy khi
cụ N chết thửa đất 740 là di sản được chia đều cho 05 người con của cụ N.
Cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1924, chết ngày 15/3/2014, chồng cụ Nguyễn Văn
T7, sinh năm 1915, chết ngày 16/7/1987, cụ N đứng tên thửa đất 740 năm 1995, đến
năm 2003 đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều là đại diện cho hộ, hộ của cụ N
có 05 người con cùng sống chung là bà X, ông D, ông H1, ông K1, ông K. Năm 2014
cụ N chết, sau khi cụ N chết, các người con là hàng thừa kế thứ nhất của cụ N không
có thỏa thuận về việc phân chia thửa đất và tài sản trong thửa đất 740. Cụ N không lập
di chúc trước khi chết. Cụ N chết năm 2014, năm 2017, năm 2018, ông K là người con
út sống chung cụ N từ nhỏ đi khai di sản. Ông K không cung cấp đầy đủ thông tin người
thừa kế của cụ N, cũng như người đại diện cho hộ của cụ N. Ủy ban nhân dân huyện B
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có ghi là ông K đại diện cho các người thừa kế của cụ N và cũng là người đại
diện cho hộ của cụ N. Sau đó ông K cùng vợ và 02 người con chuyển nhượng thửa đất
5
740 để lấy tiền do đó nguyên đơn, người liên quan khởi kiện yêu cầu chia thừa kế như
đã yêu cầu.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K do bà Cao Thị Kim C đại diện và người có quyền lợi
liên quan bà Cao Thị Kim C trình bày:
Bà Cao Thị Kim C đại diện cho ông K đồng ý về vị trí, diện tích đất, giá đất mà
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người liên quan yêu cầu chia thừa kế
thuộc thửa đất 740; cụ thể là đất thổ diện tích 285m
2
, đơn giá là 3.700.000 đồng/m
2
; đất
trồng cây lâu năm, diện tích 85,6m
2
giá 750.000 đồng/m
2
.
Đối với yêu cầu chia đều làm 05 phần di sản của cụ N, bà C đại diện cho ông K
không đồng ý với các lý do: Bà là vợ ông K sống chung cụ N với ông K tại địa chỉ E,
Ấp E, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1989 đến khi cụ N chết. Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 280 (740) cấp đổi năm 2003 là cấp cho hộ của cụ
N, hộ của cụ N có 03 người gồm cụ N, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn K.
Đối với ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn K1, bà Nguyễn Thị X lúc nhỏ có sống
cùng cụ N khi lớn đi làm ăn, có gia đình nên không còn ở chung và cũng không có tên
trong sổ hộ khẩu gia đình lập vào năm 1996. Bà C không đồng ý yêu cầu của ông D,
ông K1 và con bà X xác định toàn bộ thửa đất 740 là di sản của cụ N, di sản của cụ N
chỉ có một phần là 1/3 thửa đất 740; còn lại 2/3 là của ông H1 và ông K. Hơn nữa, bà
C và ông K là những người ở tại thửa đất trên, có công sức bồi đắp, san lấp ao để tạo
lập phần đất ở nông thôn (ONT) như hiện nay. Bà X, ông D, ông K1 đều có gia đình
riêng ở địa chỉ khác, vợ chồng bà còn nuôi dưỡng chăm sóc cụ N bệnh trước khi chết.
Năm 2017, 2018 đi khai di sản của cụ N, cơ quan cấp giấy chỉ yêu cầu cung cấp thông
tin của các thành viên trong hộ của cụ N, do ông H1 chết năm 2007, cụ N chết năm
2014 chỉ còn mình ông K, do đó ông K đại diện cho hộ cụ N đứng tên thửa đất 740.
Năm 2020 khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã H do ông D khởi kiện, ông K thừa nhận
là đã đứng tên và chuyển nhượng thửa đất, ông K đồng ý gửi lại cho các anh chị em
mỗi người 10.000.000 đồng làm kỷ niệm của cụ N.
Đối với ông Nguyễn Trần Hoàng T2, là con của ông Nguyễn Văn H1, bà Cao Thị
Kim C là người đại diện theo ủy quyền, có nhận giấy triệu tập tham gia phiên tòa và
báo cho ông T2 biết. Tại đơn tường trình và cam kết ngày 11/7/2024 của ông Nguyễn
Trần Hoàng T2, ông T2 không tham gia tranh chấp vào vụ án dân sự giữa bên khởi kiện
là ông D với bên bị kiện là ông K, không thắc mắc khiếu nại về sau đối với phán quyết
của Tòa án. Ngày 25/01/2026 ông T2 có về nhà và làm giấy tay nội dung là nhường
phần di sản của cụ N mà ông T2 được thừa kế cho ông K, giấy tay bà C đã nộp cho Tòa
án, bà C yêu cầu Tòa xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1 trình bày:
Ông T1 đồng ý với yêu cầu của người đại diện do ông P yêu cầu Tòa án buộc ông
K chia thừa kế di sản của cụ N cho ông T1 và bà Y là 1/5 thửa đất 740. Bà Nguyễn Thị
X là mẹ của ông; ông D, ông K1 đều là cậu nhưng bà X, ông D, ông K1 đều sống ở địa
chỉ khác không có ở chung cụ N tại địa chỉ: E, Ấp E, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H trình bày:
6
Ông là chồng bà Lê Thị T4, ngày 02/12/2019 ông H có nhận chuyển nhượng thửa
đất 740 từ bà Nguyễn Thị Ngọc T3 và ông Nguyễn Hoàng V giá ghi trong hợp đồng là
500.000.000 đồng, ông H không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn là vô hiệu hợp đồng
chuyển nhượng ngày 02/12/2019.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Hùng V1, bà Trịnh Thị Thu T5
trình bày:
Ông V1 và bà T5 là người nhận chuyển nhượng thửa đất 740 từ ông H, bà T4 diện
tích 390,7m
2
đất thổ, vườn trong đó 300m
2
đất ONT và phần còn lại là đất vườn. Ông
V1, bà T5 không đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất
740 mà ông V1 và bà T5 nhận chuyển nhượng của ông H và bà T3.
Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận
công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh đã căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 616,
617, 618 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 117, 123, 133, 612, 649, 650, 651, 652
của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1 và người thừa kế của bà X
anh Trương Văn T1, chị Trương Thị Hồng Y yêu cầu ông Nguyễn Văn K chia thừa kế
tài sản là di sản của cụ Nguyễn Thị N chết để lại.
Xác định thửa đất 740, tờ bản đồ số 28 địa chỉ đất tại E, ấp E, xã H, huyện B,
Thành phố Hồ Chí Minh là sở hữu chung của hộ cụ Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn
H1, ông Nguyễn Văn K gồm 285m
2
đất thổ và 85,6m
2
đất
vườn (cây lâu năm); Phần di
sản của cụ Nguyễn Thị N được xác định là 1/3 thửa đất 740. Không chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn xác
định 2/3 thửa đất 740 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, anh Trương Văn T1, chị Trương
Thị Hồng Y yêu cầu:
2.1. Hủy Văn bản khai nhận di sản số 009598 ngày 05/10/2017 và Văn bản khai
nhận di sản số 010641 ngày 08/09/2018 do Công chứng viên Văn phòng Công chứng
Nguyễn Quốc C1 chứng nhận.
2.2. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Văn K, bà Cao Thị Kim C, ông Nguyễn Tấn Đ, ông Nguyễn Tấn P1 với
bà Nguyễn Thị Ngọc T3 ngày 18/10/2018, được công chứng tại Văn phòng C2 cùng
ngày 18/10/2018, số công chứng 012346, quyển số 10.TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa
đất số 740, tờ bản đồ số 28, diện tích 390,7m
2
, loại đất: 300m
2
đất ở nông thôn; 90,7m
2
7
đất trồng cây lâu năm; nhà ở riêng lẻ; diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà
và đất tại xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;
2.3. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Hoàng V, bà Nguyễn Thị Ngọc T3 với ông Phạm Văn H và ông Cao Hùng
V1 ngày 02/12/2019, được công chứng tại Văn phòng C3 cùng ngày 02/12/2019, số
công chứng 010520, quyển số 12/2019/HĐGD - CCAL đối với thửa đất số 740, tờ bản
đồ số 28, diện tích 390,7m
2
, loại đất: 300m
2
đất ở nông thôn, 90,7m
2
đất trồng cây lâu
năm; nhà ở riêng lẻ: diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà và đất tại xã H,
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;
2.4. Vô hiệu hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Phạm Văn H, bà Lê Thị T4 với ông Cao Hùng V1 và bà Trịnh Thị Thu T5 ngày
15/10/2020, được công chứng tại Văn phòng C3 cùng ngày 15/10/2020, số công chứng
006453, quyển số 10/2020/HĐGD - CCAL đối với thửa đất số 740, tờ bản đồ số 28,
diện tích 390,7m
2
, loại đất: 300m
2
đất ở nông thôn, 90,7m
2
đất trồng cây lâu năm; nhà
ở riêng lẻ: diện tích xây dựng 98m
2
, diện tích sàn 98m
2
, nhà và đất tại xã H, huyện B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Buộc ông Nguyễn Văn K có nghĩa vụ chia cho ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn
Văn K1 mỗi người kỷ phần thừa kế số tiền là 73.088.400 đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn K chia cho ông Trương Văn T1, bà Trương Thị Hồng Y
kỷ phần thừa kế là 73.088.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, điều 468
Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Ông Nguyễn Văn K được hưởng 01 kỷ phần thừa kế di sản, công sức quản lý,
gìn giữ di sản là 80.546.400 đồng và phần tài sản chung tổng giá trị là 453.446.400
đồng.
5. Tạm giao 01 kỷ phần thừa kế thế vị của ông Nguyễn Trần Hoàng T2 con ông
Nguyễn Văn H1 cho ông Nguyễn Văn K quản lý có tổng giá trị 445.988.400 đồng.
6. Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn K, anh Nguyễn
Trần Hoàng T2 mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho anh Trương Văn T1, ông Nguyễn Văn
D số tiền 5.040.567 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, điều 468
Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
7. Án phí:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn K1, ông
Nguyễn Văn K.
Anh Trương Văn T1, chị Trương Thị Hồng Y liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm
là 5.154.420 đồng. Anh Trương Văn T1, chị Trương Thị Hồng Y đã nộp tiền tạm ứng
8
án phí 16.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001319 ngày 22/7/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001321 ngày 22/7/2025,
300.000 đồng theo biên lai thu số 0001322 ngày 22/7/2025, 300.000 đồng theo biên lai
thu số 0001325 ngày 22/7/2025, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001328 ngày
22/7/2025, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001331 ngày 22/7/2025, 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0001334 ngày 22/7/2025 đều của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh
tổng cộng là 17.200.000 đồng chuyển sang án phí, trả lại cho ông Trương Văn T1, bà
Trương Thị Hồng Y số tiền là 12.045.580 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa
vụ thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/02/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D làm
đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Ngày 06/02/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1, bà
Trương Thị Hồng Y làm đơn kháng cáo. Ngày 09/02/2026, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1 làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26/5/2026 và phiên tòa phúc thẩm ngày 08/9/2026,
các đương sự không thỏa thuận được với nhau, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D do ông
Trần Thanh P đại diện không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn, hủy Văn bản
khai nhận di sản số 009598 ngày 05/10/2017 và Văn bản khai nhận di sản số 010641
ngày 08/09/2018 do Công chứng viên Văn phòng Công chứng C2 chứng nhận; đồng
thời hủy các giao dịch phát sinh từ các văn bản khai nhận di sản này. Phía nguyên đơn
xác định yêu cầu chia toàn bộ diện tích 370,6m² bằng hiện vật, mỗi người được hưởng
1/5, tương đương khoảng 74m². Trường hợp không thể tách thửa thì nguyên đơn, ông
Nguyễn Văn K1 và bà Nguyễn Thị X đồng ý nhận chung quyền sử dụng đất. Ông P xác
định yêu cầu này là yêu cầu chia di sản của bà Nguyễn Thị N trong khối tài sản của hộ
gia đình.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K do bà Cao Thị Kim C đại diện không đồng ý
với kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà C trình bày, từ năm 1989 khi về
làm dâu thì gia đình bà sinh sống trên thửa đất. Bà xác định ông D, ông K1, bà X là
những người thừa kế của bà N, nhưng họ chỉ được hưởng phần di sản của bà N, không
phải toàn bộ quyền sử dụng đất. Bà C thừa nhận khi thực hiện thủ tục khai nhận di sản,
bà biết ông D, Không, bà X là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N. Tuy
nhiên, bà thực hiện việc khai nhận theo hướng dẫn của cơ quan Nhà nước và gia đình
chỉ khai những người có trong hồ sơ hộ khẩu. Mặc dù khi khai nhận di sản thừa kế,
Công chứng viên có yêu cầu cung cấp, xác định toàn bộ những người thuộc hàng thừa
kế thứ nhất của bà N, nhưng bà cho rằng không cần thiết phải khai đầy đủ nên không
khai những người này. Bà xác định số tiền dự kiến trả cho mỗi người là khoảng
10.000.000 đồng. Đối với việc chuyển nhượng đất, bà C cho rằng hồ sơ có thể hiện việc
chuyển nhượng. Bà không trình bày cụ thể số tiền chuyển nhượng và cho rằng tiền
9
chuyển nhượng do gia đình bà quản lý. Bà C có công sức đối với thửa đất và việc chăm
sóc bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1 trình bày không đồng
ý với ý kiến của bà Cao Thị Kim C về công sức đóng góp và chăm sóc bà N, bà C chỉ
chăm sóc bà N trong thời gian sau khi bà N bị té, gãy chân và nằm một chỗ; trước đó
bà N vẫn còn khỏe, đi bán hàng. Ông cho rằng việc bà C trình bày đã bỏ tiền chăm sóc
bà N là không đúng. Bà N còn được Hội Người cao tuổi hỗ trợ một khoản tiền để phục
vụ sinh hoạt và chăm sóc. Bà Nguyễn Thị X là người thường xuyên xuống thăm và
chăm sóc bà N. Đối với việc tạo lập, cải tạo đất và xây dựng nhà, ông Nguyễn Văn P2
có hỗ trợ tiền để cất nhà, sửa chữa căn nhà cho vợ chồng bà C.
Luật sư Nguyễn Thị Kim T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn
Văn D, ông Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn T1 và bà Trương Thị Hồng Y trình bày,
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với các căn cứ sau:
Nguồn gốc thửa đất số 280 có số thửa mới là 740 tờ bản đồ số 28 là tài sản chung
của cụ ông Nguyễn Văn T7 và cụ bà Nguyễn Thị N, là cha mẹ của bà Nguyễn Thị X,
ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn K;
đất được tạo lập từ trước năm 1934. Đến năm 1995, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ bà Nguyễn Thị N; đến năm 2003 tiếp tục cấp
Giấy chứng nhận đối với diện tích khoảng 370m². Phần tài sản của cụ bà Nguyễn Thị
N trong khối tài sản chung là di sản của cụ N. Cụ N chết không để lại di chúc nên di
sản phải được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Hai
văn bản khai nhận di sản được lập vào năm 2017 và năm 2018 có nội dung không đúng
sự thật về nhân thân, thời điểm chết của ông T8, số lượng người con của cụ N và người
thừa kế của ông H1; đồng thời không thể hiện đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất. Việc lập các văn bản này không thông báo cho các đồng thừa kế khác biết.
Sau khi hoàn tất thủ tục sang tên, phía bị đơn đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng
đất cho người khác mà không thông báo cho các đồng thừa kế. Các đồng thừa kế đến
đầu năm 2020 mới biết việc này và yêu cầu hòa giải nhưng không đạt được thỏa thuận.
Việc bị đơn tự định đoạt toàn bộ tài sản khi không có sự đồng ý của các đồng thừa kế
là vi phạm pháp luật về thừa kế và công chứng. Hai văn bản khai nhận di sản được lập
trên cơ sở thông tin không đúng sự thật, không bảo đảm điều kiện pháp lý nên không
có giá trị. Do bị đơn không có quyền đối với toàn bộ tài sản nên không có quyền định
đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất cho người khác; các giao dịch phát sinh vi phạm điều
kiện về chủ thể và phải được tuyên vô hiệu.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc chấp hành pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cho rằng: Toà
án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn T1, bà Trương Thị Hồng Y trong thời
hạn luật định, đúng hình thức và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ nên đủ điều
kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
10
Kiểm sát viên phân tích các căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của ông D, ông K1, ông
T1 và bà Hồng Y, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn T1, bà Trương
Thị Hồng Y trong thời hạn luật định, đúng quy định tại Điều 272, 273, 276 Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan gồm bà Nguyễn Thị Ngọc T3, ông Nguyễn Hoàng V, ông Phạm Văn H, bà Lê Thị
T4, ông Cao Hùng V1, bà Trịnh Thị Thu T5, Văn phòng C2, Văn phòng C3 vắng mặt,
có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử
vắng mặt các đương sự này.
[3] Về nội dung: nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, những người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn T1, bà Trương Thị Hồng Y khởi
kiện và yêu cầu độc lập, yêu cầu xác định quyền sử dụng thửa đất số 740 tờ bản đồ số
28 là di sản của cụ Nguyễn Thị N để lại; yêu cầu hủy các văn bản khai nhận di sản thừa
kế và vô hiệu các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có liên quan đến thửa
đất số 740 để chia thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện,
xác định 1/3 thửa đất số 740 là di sản thừa kế của cụ N, chia phần di sản bằng tiền cho
các thừa kế của cụ N, buộc ông K chia cho ông D, ông K1, bà X do anh T1 và chị Hồng
Y là thừa kế chuyển tiếp mỗi phần với số tiền 73.088.400 đồng, tạm giao kỷ phần thừa
kế thế vị của anh Nguyễn Trần Hoàng T2 là con của ông Nguyễn Văn H1 cho ông K
quản lý, đồng thời không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D những người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn xác định 2/3 thửa đất số 740 là di sản
thừa kế của cụ N, đồng thời không chấp nhận yêu cầu hủy các văn bản khai nhận di sản
thừa kế và các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Không đồng ý với bản án
sơ thẩm, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[4.1] Về nguồn gốc quyền sử dụng thửa đất số 740 tờ bản đồ số 28:
Căn cứ vào hồ sơ cấp quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện B, Thành
phố Hồ Chí Minh, vào Văn bản số 3384/KT ngày 12/8/2026 của Phòng Kinh tế Ủy ban
nhân dân xã H là đơn vị kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện B thì
quyền sử dụng thửa đất số 280 có nguồn gốc từ ấp chiến lược. Ngày 02/8/1994 cụ N
làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất. Ngày 01/7/1995, Ủy ban nhân dân huyện
B cấp quyền sử dụng đất cho hộ của cụ Nguyễn Thị N. Đến khi cấp đổi quyền sử dụng
đất vẫn là cấp cho hộ gia đình. Vào thời điểm cấp quyền sử dụng đất, hồ sơ không thể
11
hiện trong hộ của cụ N có bao nhiêu người. Tuy nhiên theo Sổ hộ khẩu của cụ N vào
thời điểm cấp quyền sử dụng đất thì hộ cụ N có 03 người, gồm cụ N, 02 người con của
cụ N là ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Văn K. Nguyên đơn cho rằng, quyền sử
dụng đất là tài sản chung của hộ cụ N gồm có 05 thành viên hoặc là 06 thành viên nhưng
không có chứng cứ chứng minh. Quá trình sử dụng đất không có tài liệu thể hiện quyền
sử dụng đất có các thành viên khác gồm bà X, ông D, ông K1 cùng sử dụng đất, những
người này cũng không chứng minh quá trình sử dụng đất cùng với cụ N, vì vậy Tòa án
cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ cụ N trong đó có các
thành viên của hộ gồm cụ N, ông H1, ông K là có căn cứ.
Cụ Nguyễn Thị N chết ngày 15/3/2014, không để lại di chúc. Vì vậy, phần quyền
sử dụng đất thuộc quyền của bà N được xác định là di sản để lại cho những người thừa
kế theo pháp luật. Tại thời điểm cụ N chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất
gồm các con là bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn K1, ông
Nguyễn Văn K và phần thừa kế của ông Nguyễn Văn H1 được hưởng thông qua người
thừa kế thế vị là anh Nguyễn Trần Hoàng T2, do ông H1 đã chết trước bà N. Như vậy,
phần di sản của bà N được chia cho 05 suất thừa kế theo pháp luật. Bà Nguyễn Thị X
chết năm 2022 nên phần di sản mà bà X được hưởng từ bà N được chuyển cho những
người thừa kế của bà X là anh Trương Văn T1 và chị Trương Thị Hồng Y. Do đó, việc
Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần quyền sử dụng đất của cụ N là 1/3 diện tích đất và
chia phần di sản này cho những người thừa kế theo pháp luật là có căn cứ. Đối với ý
kiến của ông P cho rằng toàn bộ diện tích khoảng 370m² là di sản của bà N và phải chia
thành 05 phần bằng nhau, Hội đồng xét xử xét thấy lập luận này chưa phân biệt giữa
quyền sử dụng đất của hộ gia đình với phần quyền của người chết trong khối tài sản
chung. Trước khi xác định di sản thừa kế phải xác định phần quyền tài sản thuộc về
người chết. Chỉ phần quyền của bà N trong khối tài sản chung mới là di sản để chia
thừa kế, không thể mặc nhiên xác định toàn bộ diện tích đất là di sản của bà N.
[4.2] Về các văn bản khai nhận di sản thừa kế:
Hồ sơ thể hiện sau khi bà N chết, ông Nguyễn Văn K thực hiện thủ tục khai nhận
di sản và lập Văn bản khai nhận di sản số 009598 ngày 05/10/2017 và Văn bản khai
nhận di sản số 010641 ngày 08/9/2018. Nội dung các văn bản này có việc kê khai người
thừa kế không đầy đủ, trong đó không thể hiện đầy đủ ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn
Văn K1, bà Nguyễn Thị X và thể hiện ông Nguyễn Văn H1 không có con, trong khi
thực tế ông H1 có con là anh Nguyễn Trần Hoàng T2. Những thiếu sót này là có cơ sở
về mặt thực tế và Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét. Tuy nhiên, cần phân biệt việc
kê khai chưa đầy đủ người thừa kế với hậu quả pháp lý đối với những giao dịch đã được
xác lập, đăng ký sau đó với người thứ ba. Việc các văn bản khai nhận di sản có nội dung
kê khai chưa đầy đủ không đồng nghĩa với việc đương nhiên có căn cứ vô hiệu toàn bộ
các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất phát sinh sau đó, nhất là khi quyền sử dụng đất
đã được đăng ký, cấp giấy chứng nhận và tài sản tiếp tục được chuyển giao cho người
khác.
[4.3] Về quá trình cấp giấy chứng nhận và các giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất:
Sau khi thực hiện thủ tục khai nhận di sản, ông Nguyễn Văn K được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/7/2018; ngày 13/9/2018 việc đăng ký biến động
12
được thực hiện. Ngày 18/10/2018, ông Nguyễn Văn K cùng bà Cao Thị Kim C và các
con thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ngọc
T3. Sau đó, bà T3 đăng ký sang tên ngày 19/11/2018. Tài sản tiếp tục được chuyển
nhượng qua các giao dịch ngày 02/12/2019 và ngày 15/10/2020; những người nhận
chuyển nhượng sau cùng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và trực
tiếp quản lý, sử dụng đất.
Đối với các giao dịch này, hồ sơ vụ án không có căn cứ xác định những người
nhận chuyển nhượng sau cùng biết hoặc buộc phải biết quyền của nguyên đơn và những
người thừa kế khác của bà N đang có tranh chấp, hoặc biết các văn bản khai nhận di
sản trước đó có nội dung kê khai không đầy đủ.
Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp giao dịch
dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì quyền
lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ theo điều kiện luật định.
Trong vụ án này, các giao dịch chuyển nhượng được thực hiện qua nhiều thời
điểm, các bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động và được cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Không có tài liệu, chứng cứ đủ để xác định
người nhận chuyển nhượng sau cùng là người không ngay tình. Vì vậy, không có cơ sở
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy các giao dịch chuyển nhượng nêu trên
để thu hồi quyền sử dụng đất đã chuyển giao cho người thứ ba.
[5] Về yêu cầu chia di sản bằng hiện vật:
Nguyên đơn ông D cùng những người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông K1,
ông T1, bà Hồng Y do ông P đại diện yêu cầu xác định khoảng 370,6m² đất là di sản
của cụ N để chia cho các đồng thừa kế. Tuy nhiên do không có căn cứ xác định toàn bộ
diện tích đất là di sản của cụ N. Phần di sản của bà N chỉ là phần quyền sử dụng đất
thuộc về cụ N trong khối tài sản chung, được xác định là 1/3. Mặt khác, tại thời điểm
giải quyết vụ án, quyền sử dụng đất đã được chuyển giao qua nhiều giao dịch và người
nhận chuyển nhượng sau cùng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên
không có cơ sở pháp lý để buộc những người này phải giao trả đất hoặc hủy các giao
dịch đã xác lập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị phần di sản của cụ N để giải
quyết bằng tiền là phù hợp với tình trạng pháp lý thực tế của tài sản.
[6] Về giá trị di sản và phần được hưởng của những người thừa kế:
Theo kết quả đo đạc, diện tích thực tế được xác định là 376,9m²; tuy nhiên nguyên
đơn chỉ yêu cầu giải quyết đối với diện tích 370,6m², gồm 285m² đất ở và 85,6m² đất
trồng cây lâu năm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị phần diện tích này là
1.118.700.000 đồng; phần quyền của bà N tương ứng 1/3 là 372.900.000 đồng. Sau khi
xem xét công sức quản lý, chăm sóc, giữ gìn và cải tạo tài sản của ông Nguyễn Văn K,
Tòa án cấp sơ thẩm khấu trừ 2% giá trị phần di sản, tương ứng 7.458.000 đồng; phần
di sản còn lại là 365.442.000 đồng và được chia thành 05 suất thừa kế, mỗi suất
73.088.400 đồng. Việc xác định giá trị di sản và chia cho những người thừa kế như trên
phù hợp với phần quyền của bà N đã được xác định, phù hợp với chứng cứ về diện tích,
giá đất và quá trình quản lý tài sản trong hồ sơ vụ án.
13
Đối với phần của ông Nguyễn Trần Hoàng T2, do ông T2 không có yêu cầu độc
lập về việc nhận phần di sản bằng hiện vật hoặc bằng tiền tại thời điểm giải quyết vụ
án, Tòa án cấp sơ thẩm có cơ sở xem xét, giao phần này theo phạm vi yêu cầu và tình
trạng thực tế của vụ án.
[7] Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông D và
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mà cần phải bác toàn bộ kháng cáo, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[8] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo
là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[9] Về án phí phúc thẩm: ông D, ông K1, ông T1, bà Hồng Y kháng cáo không
được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông D, ông K1 là người
cao tuổi, có yêu cầu miễn án phí nên xem xét cho ông D, ông K1 miễn án phí phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Văn D.
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn K1, ông Trương Văn T1, bà Trương Thị Hồng Y.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn T1, bà Trương Thị Hồng Y mỗi
người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000 đồng theo các Biên lai số 0003386, 0003387
cùng ngày 24/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông T1 và bà Y đã nộp
đủ án phí.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn K1.
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên
án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Kim Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1135/2026/DS-PT Bản án số 1135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1135/2026/DS-PT Bản án số 1135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất