Bản án số 647/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 647/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 647/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 647/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 13/6/2025 ông chạy xe máy trên đường thì Nguyễn Hạo N điều khiển máy bay phun thuốc đáp xuống đường rơi trúng người ông gây thương tích 65% và hư hỏng xe máy. Ông yêu cầu Nguyễn Hạo N và cha mẹ cháu N ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T phải có trách nhiệm bồi thường cho ông các khoảng sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 647/2026/DS-PT
Ngày 14 – 9 – 2026
V/v tranh chấp bồi thường thiệt
hại sức khoẻ bị xâm phạm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Bà Tiêu Hồng Phượng
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Thắng – Là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 14 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 416/2026/TLPT-DS,
ngày 27 tháng 7 năm 2026, về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khoẻ bị
xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 333/2026/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2026,
của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 589/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1976; Căn cước công dân số
************, cấp ngày 15/11/2021; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, tỉnh Cà Mau
(có mặt).
- Bị đơn:
1. Cháu Nguyễn Hạo N, sinh năm 2009; Căn cước số ************, cấp
ngày 22/9/2025 (xin vắng mặt);
2. Ông Nguyễn Vũ Đ, sinh năm 1986; Căn cước số ************, cấp
ngày 13/4/2026;
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hạo N: Ông Nguyễn Vũ Đ, sinh
năm 1986, bà Trần Hồng T, sinh năm 1990 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Huỳnh Minh
N1 – Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2026 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
toà ông Trần Văn H trình bày: Vào ngày 13/6/2025 ông chạy xe máy trên đường
thì Nguyễn Hạo N điều khiển máy bay phun thuốc đáp xuống đường rơi trúng
người ông gây thương tích 65% và hư hỏng xe máy. Ông yêu cầu Nguyễn Hạo N
và cha mẹ cháu N ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T phải có trách nhiệm bồi
thường cho ông các khoảng sau:
Tiền mất thu nhập 8 ngày nằm viện, mỗi ngày 350.000 đồng bằng 8 x
350.000 đồng = 2.800.000 đồng; T1 thuốc tự mua: 5.000.000 đồng; Tiền xe đi
khám chữa bệnh 3.000.000 đồng; Giá trị chiếc xe máy bị hư toàn bộ trị giá
15.000.000 đồng; Bồi thường mất thu nhập trong thời gian bị thương tật 12 tháng,
mỗi tháng 10.500.000 đồng bằng 65% x 12 tháng x 10.500.000 đồng/tháng =
81.900.000 đồng; Bồi thường tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở bằng
2.340.000 đồng/tháng x 50 tháng = 117.000.000 đồng. Tổng các khoản yêu cầu
bồi thường 224.700.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng
T trình bày:
Trong thời gian ông H điều trị bệnh, gia đình ông bà đã chi trả tổng số tiền
67.500.000 đồng.
Vợ chồng ông bà đồng ý bồi thường thêm cho ông H các khoảng sau:
Tiền mất thu nhập 8 ngày nằm viện, mỗi ngày 350.000 đồng bằng 8 x
350.000 đồng = 2.800.000 đồng; Tiền xe đi khám chữa bệnh 3.000.000 đồng; Giá
trị chiếc xe máy bị hư sửa chữa lại 4.600.000 đồng; Bồi thường mất thu nhập trong
thời gian bị thương tật 3 tháng, mỗi tháng 7.500.000 đồng bằng 3 tháng x
7.500.000 đồng/tháng = 22.500.000 đồng; Bồi thường tổn thất tinh thần 3 tháng
lương cơ sở bằng 2.340.000 đồng/tháng x 3 tháng = 7.020.000 đồng.
Không đồng ý bồi thường số tiền thuốc ông H tự mua 5.000.000 đồng
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 333/2026/DS-ST ngày 16
tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật
tố tụng dân sự; Điều 590, 601 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H. Buộc cháu
Nguyễn Hạo N và ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T (ông Đ, bà T là người giám
3
hộ cháu N) phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn H số tiền
108.950.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn H về việc yêu cầu
cháu Nguyễn Hạo N, ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T (ông Đ, bà T là người
giám hộ cháu N) bồi thường cho ông Trần Văn H số tiền 115.750.000 đồng (Một
trăm mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền trên thì phải trả thêm
khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng
với số tiền và thời gian chậm trả.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự và quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 01/7/2026 ông Trần Văn H kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông. Tại phiên toà, ông H
thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập mỗi tháng
9.000.000 đồng trong thời gian 12 tháng với số tiền là 108.000.000 đồng, và bồi
thường tiền chiếc xe gắn máy mới với số tiền là 15.000.000 đồng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Yêu cầu
kháng cáo của ông H về tiền mất thu nhập mỗi tháng 9.000.000 đồng trong thời
gian 12 tháng và tiền bồi thường chiếc xe gắn máy 15.000.000 đồng là không có
căn cứ, do ông H không có nghề nghiệp ổn định, thời gian điều trị bệnh và tái
khám chỉ trong khoảng 03 tháng; tiền sửa xe ông H xác định là 4.600.000 đồng,
xe gắn máy đã cũ không phải xe mới; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến: Về việc
chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương
sự thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một
phần kháng cáo của ông H; Sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 333/2026/DS-ST
ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau theo hướng
chấp nhận tiền mất thu nhập thêm 03 tháng và điều chỉnh tiền tổn thất tinh thần
theo mức lương cơ sở hiện nay; không chấp nhận yêu cầu bồi thường giá trị chiếc
xe gắn máy mới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn H thực hiện trong hạn luật định và
hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Ngày 13/6/2025 cháu Nguyễn Hạo N điều khiển máy bay phun thuốc
trừ sâu nông nghiệp (drone nông nghiệp) va chạm vào ông Trần Văn H đang điều
khiển xe gắn máy trên lộ làm cho ông H bị thương tật với tỷ lệ 65%. Khi xảy ra
vụ việc thì cháu Nguyễn Hạo N chưa đủ 16 tuổi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra
4
Công an tỉnh C có văn bản Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự. Tuy
nhiên, về trách nhiệm dân sự Toà án cấp sơ thẩm buộc cha mẹ cháu N là ông
Nguyễn Vũ Đ và bà Trần Hồng T cùng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
ông Trần Văn H là có căn cứ.
[3] Xét về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Tại phiên toà ông H trình bày ở nhà
ông làm ruộng và hết mùa làm ruộng thì đi biển, nên có cơ sở xác định ông H
không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định cụ thể, nên Toà án cấp
sơ thẩm chấp nhận tiền mất thu nhập mỗi tháng 7.500.000 đồng là phù hợp. Đồng
thời, tại hồ sơ vụ án thể hiện ông H ra viện vào ngày 21/6/2025, sau đó có tái
khám nhiều lần và lần tái khám gần nhất theo Giấy hẹn tái khám (bút lục số 58)
là ngày 18/9/2025. Như vậy, tài liệu chứng cứ chỉ thể hiện ông H có điều trị bệnh
trong khoảng thời gian 03 tháng, nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận bồi thường
mất thu nhập trong 03 tháng là phù hợp. Do đó, ông H yêu cầu bồi thường tiền
mất thu nhập thời gian 12 tháng với mỗi tháng 9.000.000 đồng là không có căn
cứ chấp nhận.
[4] Đối với kháng cáo của ông H về việc yêu cầu bồi thường giá trị chiếc
xe gắn máy mới với số tiền 15.000.000 đồng. Xét thấy, ông H xác định chiếc xe
gắn máy của ông là xe cũ, chi phí sửa chữa xe máy với số tiền là 4.600.000 đồng;
nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận buộc bị đơn bồi thường tiền sửa chữa xe máy
là 4.600.000 đồng là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của ông H về
việc yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe gắn máy mới với số tiền là 15.000.000
đồng.
[5] Xét ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận. Có căn
cứ chấp nhận ý kiến trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn H không phải chịu.
[7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét,
giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn H; Giữ nguyên Bản
án sơ thẩm số: 333/2026/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 3 - Cà Mau.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; Điều 590, Điều 601 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
5
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H. Buộc cháu
Nguyễn Hạo N và ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T (ông Đ, bà T là người giám
hộ cháu N) phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn H số tiền
108.950.000 đồng (Một trăm lẽ tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn H về việc yêu cầu
cháu Nguyễn Hạo N, ông Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T (ông Đ, bà T là người
giám hộ cháu N) bồi thường cho ông Trần Văn H số tiền 115.750.000 đồng (Một
trăm mười lăm ngàn bảy trăm năm chục ngàn đồng).
3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền trên thì phải trả thêm
khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng
với số tiền và thời gian chậm trả.
4. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc cháu Nguyễn Hạo N và ông
Nguyễn Vũ Đ, bà Trần Hồng T (người giám hộ cháu N) phải chịu 5.447.000 đồng
(năm triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn H không phải chịu.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Cà Mau; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 3 - Cà Mau;
- THADS Khu vực 3 - Cà Mau;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
Trương Thanh Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 647/2026/DS-PT Bản án số 647/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất