Bản án số 113/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 113/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 113/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 113/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hoang Văn T vi phạm quy định về tham gia giao thôgn đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 113/2026/HS-ST Bản án số 113/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HS-ST Bản án số 113/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- THANH HOÁ
Bản án số:113/2026/HS - ST
Ngày: 27 - 08 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Đình
Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 2- Thanh Hóa.
-Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thanh Hóa tham gia
phiên tòa: Ông Lê Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 08 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2-Thanh
Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2026/HSST ngày
27/7/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1056/2026/QĐXXST - HS
ngày 13/08/2026 đối với
Bị cáo: Hoàng Văn T ; sinh ngày 30 tháng 01 năm 2003 tại Thanh Hoá.
CCCD số: ************, Nơi cư trú: Thôn N, xã TB, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q và bà Trần Thị
T1 , bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Anh Lê Văn Hiểu sinh năm 1989 (đã chết)
Đại diện Hợp pháp của người bị hại: Bà Lê Thị N , sinh năm 1971 mẹ đẻ anh
Lê Văn H (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn N, xã TB, tỉnh Thanh Hóa
2. Anh Lê Văn P sinh năm 2003 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn N, xã TB, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
2
vụ án được tóm tắt như sau;
Khoảng 01h 15 phút ngày 17/3/2026, Hoàng Văn T (có GPLX hạng A1)
điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36AB- 834.23 chở theo Lê Văn H sinh năm
1989 và Lê Văn P , sinh năm 2003 cùng trú tại thôn N, xã TB, tỉnh Thanh Hóa
cùng nhau đi ăn đêm tại xã Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi ăn xong thì T
điểu khiển xe mô tô BKS 36AB – 834.23 chở H ngồi giữa và P ngồi sau đi về
nhà tại thôn N.
Khi đi đến đường Vạn Thiện – Bến En hướng xã Yên Thọ đi xã Nông
Cống thuộc địa phận thôn N, xã TB, tỉnh Thanh Hóa, thấy đường vắng T quay lại
phía sau để nói chuyện với Hiểu và Phúc nên đã không quan sát xe mô tô va chạm
với dải phân cách bên trái đường theo hướng chuyển động. Hậu quả: Lê Văn H
chết trên đường đi cấp cứu; Hoàng Văn T và Lê Văn P bị thương tích; xe mô tô
bị hư hỏng nhẹ. Sau khi tai nạn xảy ra đến 07 giờ 10 phút cùng ngày, Hoàng Văn
Thái đến Công an xã Thăng Bình, tỉnh Thanh Hóa để đầu thú và khai báo toàn bộ
nội dung vụ tai nạn.
Hiện trường vụ tai nạn để lại các vết cụ thể như sau:
Số (1): Hệ thống Vết cà trượt không liên tục kích thước KT (29,9x0,06)m
trên dải phân cách cứng giữa đường, vết có chiều từ xã Yên Thọ đi xã Nông
Cống. vết cà trượt làm bong tróc bề mặt bê tông, bề mặt bê tông có đoạn bám
dính chất bột màu đen (dạng sơn) đầu vết cao cách mặt đất 0,24m, cách (A) là
10,47m và cách (B) là 8,13m. Cuối vết cách (A) là 10,50m.
Số (2) Hệ thống Vết cà trượt không liên tục KT(14,70 x0,22)m trên mặt
đường theo hướng từ xã Yên Thọ đi xã Nông Cống. Đầu vết cách (A) là 10,20m
và cách đầu vết (1) là 19,50m.
Số (3) Dấu vết màu nâu đỏ nghi máu trên mặt làn đường dành cho xe cơ giới
giáp giải phân cách KT(0,56x1,03)m. Tâm vết cách (A) là 9,70m và cách đầu vết
(2) là 6m.
Tại Bản kết luận giám định số: 1573/KL-KTHS ngày 20/3/2026 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của
Hoàng Văn T gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn); không tìm thấy chất
ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số: 1605/KL-KTHS ngày 23/3/2026 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
+ Mẫu máu của Lê Văn P , sinh năm 2003 trú tại thôn Ngư Thôn Đại Bản,
xã Thăng Bình niêm phong gửi giám định không có Ethanol (cồn).
+ Mẫu máu của Lê Văn H , sinh năm 1989 trú tại thôn Ngư Thôn Đại Bản,
3
xã Thăng Bình niêm phong gửi giám định có nồng đồ Ethanol (cồn) là
29,09mg/100ml máu (hai bẩy phẩy không chín miligam trên một trăm mililit
máu).
+ Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy
trong mẫu máu của Lê Văn P và Lê Văn H .
Tại Bản kết luận giám định số: 1689/KL-KTHS ngày 30/3/2026 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:
- Dấu vết ghi nhận tại mặt trước ngoài bên trái phần trước chắn bùn bánh
trước, mặt ngoài cánh yếm bên trái; bên trái ốp nhựa sàn để chân trước, ốp nhựa
thân xe, chân chống nghiêng; giá để chân sau bên trái, bên trái chân chống đứng,
mặt ngoài bên trái tay nâng, mặt trước ngoài bên trái ốp nhựa đầu xe, tay nắm,
tay phanh bên trái xe mô tô BKS 36AB – 834.23 phù hợp do va chạm với dải
phân cách cứng giữa đường và cà trượt trên mặt đường, thuộc bên phải đường
theo chiều từ xã Yên Thọ đi xã Nông Cống, được ghi nhận trong biên bản khám
nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường.
- Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn, xe mô tô BKS 36AB – 834.23 chuyển
động theo hướng từ xã Yên Thọ đi xã Nông Cống.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS 36AB – 834.23 tại
thời điểm xảy ra vụ tai nạn.
Biên bản khám nghiệm tử thi Lê Văn H xác định:
- Vùng ngực bụng tổ chức dưới da cơ vùng ngực bụng tụ máu rãi rác không
liên tục. Hệ thống xương lồng ngực không có tổn thương, tụ máu trung thất
trước. Khoang ngực hai bên có ít dịch máu, hai phổi nhợt nhạt, nhu mô hai phổi
bầm dập, tụ máu. Bao mang ngoài tím không có tổn thương, khoang ngoài tim
có ít dịch, cơ tim không tổn thương. Ổ bụng có khoảng 2000ml dịch máu, gan
to, bề mặt sần sùi, mật độ chắc, cỡ phức tạp nhu mô gan phải, lách không có tổn
thương .
Tại Bản kết luận giám định số: 1838/KLGĐTT-PC09 ngày 08/4/2026 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Nguyên nhân chết
của Lê Văn H và mất máu cấp do vỡ gan.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
197/KLTTCT-PYTN của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa, Sở y tế Thanh
Hóa ngày 16 tháng 4 năm 2026 kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của
Lê Văn P tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm).
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa, xác minh nguồn
gốc phương tiện, kết quả: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS 36AB
4
– 834.23 đăng ký xe số 3600164155 thuộc sở hữu của Hoàng Văn T . Xét thấy
không cần thiết phải tạm giữ, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại tài sản cho
chủ sở hữu Hoàng Văn T , giấy phép lái xe hạng A1 của Hoàng Văn T được
chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Bị cáo Hoàng Văn T và gia đình đã tự nguyện thoả thuận bồi
thường dân sự xong cho đại diện gia đình anh Lê Văn H số tiền 250.000.000đ
(Hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình anh H không yêu cầu bồi
thường gì thêm và đã có đơn xin giảm nhẹ TNHS đối với T .
Đối với anh Lê Văn P tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ do vụ tai nạn giao
thông trên là 13% (mười ba phần trăm). Anh Lê Văn P không yêu cầu Hoàng
Văn T phải bồi thường.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập
được.
Tại Cáo trạng số: 41/CT- VKSKV2 ngày 23/7/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 2-Thanh Hoá truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 260 của BLHS.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ ra
rất ăn năn hối hận đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
bị cáo được tự cải tạo tại địa phương và cho bị cáo xin lại giấy phép lái xe.
Người bị hại anh Lê Văn P và bà Lê Thị N , sinh năm 1971 mẹ đẻ anh Lê
Văn H ( đã chết) xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T .
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 - Thanh Hoá giữ
nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a
khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS xử
phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 27 (Hai
mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 (Bốn mươi hai)
tháng đến 48 (Bốn mươi tám) tháng. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Đề nghị ghi nhận bị cáo và đã bồi
thường cho gia đình người bị hại Lê Văn Hiểu là 250.000.000đ (Hai trăm năm
mươi triệu đồng). Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe hạng
A1 khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị
HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng: Hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều
tra viên, Cơ quan truy tố, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp
luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về nội dung vụ án: Khoảng 01 giờ 25 phút ngày 17/3/2026, tại đoạn
đường Vạn Thiện – Bến En hướng xã Yên Thọ đi xã Nông Cống, tỉnh Thanh
Hóa thuộc địa phận thôn Ngư Thôn Đại Bản, xã Thăng Long, tỉnh Thanh Hóa,
Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát BKS: 36AB-834.23, chở Lê
Văn H và Lê Văn P ngồi phía sau, thấy đường vắng người bị cáo vừa điều
khiển xe máy vừa quay lại phía sau để nói chuyện với H và P nên đã không quan
sát xe mô tô đã va chạm với dải phân cách bên trái đường theo hướng chuyển
động. Hậu quả: Lê Văn H chết trên đường đi cấp cứu; Hoàng Văn T và Lê Văn
P bị thương tích tổn hại 13% sức khoẻ; xe mô tô của bị cáo bị hư xỏng.
Hành vi không chú ý quan sát của Hoàng Văn T , đã vi phạm vào khoản
28, Điều 9 Luật Trật tự, An toàn giao thông đường bộ, là nguy hiểm cho xã hội,
gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Đủ cơ sở kết luận bị cáo
Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
Vì vậy Cáo trạng số: 41/CT- VKSKV2 ngày 23/07/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 2-Thanh Hoá truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 260 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Hoàng Văn T đủ năng lực hành vi, đủ điều kiện điều kiện phương
tiện tham gia giao thông đường bộ. Nguyên nhân tai nạn do bị cáo quay lại phía
sau để nói chuyện với H và P nên đã không quan sát xe mô tô va chạm với dải
phân cách bên trái đường theo hướng chuyển động. Hậu quả: Lê Văn H chết trên
đường đi cấp cứu; Hoàng Văn T và Lê Văn P bị tổn hạiu 13% sức khoẻ; xe mô
tô bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của Hoàng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không
những gây thiệt hại về tính mạng, cho sức khoẻ, của người khác mà còn ảnh
hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông nên phải xử lý theo pháp luật hình sự.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
6
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo
thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối hận. Bị cáo và gai đình đã tự nguyện bồi
thường toàn bộ một lần là 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) cho đại
diện hợp pháp của người bị hại. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có
đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Hoàng Văn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự “người phạm tội thành khẩn khai báo”; “ người phạm tội đã tự nguyện bồi
thường khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Và bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự gồm: “Người đại diện hợp pháp của người
bị hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại Lê Văn P tại
phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” và “bị cáo ra đầu thú”;
Hình phạt: Bị cáo Hoàng Văn T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có
nhiều tình tiết giảm trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS).
HĐXX xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội chỉ cần xử
phạt bị cáo mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội và cho bị cáo miễn
chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo thành người
tốt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường toàn
bộ một lần giữa bị cáo Hoàng Văn T và đại diện hợp pháp của người bị hại là
250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) bị cáo đã bồi thường xong.
Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện cùng giấy tờ liên quan cho chủ
sở hữu là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 GPLX ô tô hạng A1 số 380248003369 mang tên Hoàng Văn T
cấp ngày 11/03/2024 đang lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án HĐXX trả lại cho bị
cáo khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điểm b khoản 3 Điều 106 của
BLTTHS.
* Đối với Lê Văn P là người người ngồi sau xe bị cáo bị tổn hại 13%
không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố
tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Các khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106;
7
Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ
phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
3. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho
hưởng án treo thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên
án sơ thẩm (27/08/2026).
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho UBND xã TB, tỉnh Thanh Hoá quản lý,
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình ông Hoàng Văn Q và bà
Trần Thị T1 có trách nhiệm phối hợp với xã TB, tỉnh Thanh Hoá trong việc
quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực
hiện theo đúng quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng làm việc, học tập
ngoài nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 88 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có
thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới thì Toà án buộc người
đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản
án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
-Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4.Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường
toàn bộ một lần giữa bị cáo Hoàng Văn T và đại diện hợp pháp của người bị hại
là 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) bị cáo đã bồi thường xong.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 GPLX ô tô hạng A1 số
380248003369 mang tên Hoàng Văn Thái cấp ngày 11/03/2024 đang lưu giữ
kèm theo hồ sơ vụ án.
5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm có mặt bị cáo Hoàng Văn T , có mặt người đại diện hợp pháp
của người bị hại và người bị hại. Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp
của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thanh Hóa; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 2- Thanh Hoá;
- THADS tỉnh Thanh Hoá;
- Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá;
8
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thanh Hoá
- Bị cáo;
- Người bị hại
- Đại diện hợp pháp của người bị hại ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Quyên
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN - THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Nguyễn Thị Hà Thu Nguyễn Công Huân Trần Thị Quyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 113/2026/HS-ST Bản án số 113/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HS-ST Bản án số 113/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất