Bản án số 112/2024/DS-PT ngày 04/06/2024 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 112/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 112/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 112/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 112/2024/DS-PT ngày 04/06/2024 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Phước |
| Số hiệu: | 112/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa Cao Thanh H và Công ty T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 112/2024/DS-PT
Ngày: 04-6-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thanh Thảo
Ông Nguyễn Văn Thư
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Bà Nguyễn Thị
Nga - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 3 năm
2024 về việc:“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Do Bản án số
05/2024/DS–ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 89/2024/QĐPT-DS ngày
13/5/2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Cao Thanh H, sinh năm 1954 (có mặt); bà Lê Thị N,
sinh năm 1957 (vắng mặt); cùng địa chỉ: Ấp 1B, xã L, huyện L, tỉnh Bình
Phước.
*Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T;
địa chỉ: Quốc lộ 13, khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1976; địa
chỉ: Khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước. (có đơn xin xét xử vắng
mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH MTV T.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 13/9/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, nguyên đơn ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N trình bày:
Vợ chồng ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N cùng Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Một thành viên Thương mại T (gọi tắt Công ty T) do bà Nguyễn Thị
Thanh H1 là người đại diện thực hiện giao dịch mua bán mủ cao su. Do quen
biết làm ăn thường xuyên nên khi công ty bà H1 gặp khó khăn trong việc huy
động vốn nên vợ chồng ông H bà N thống nhất cho Công ty chậm thanh toán
tiền mua mủ cao su của vợ chồng ông H.
Sau nhiều lần Công ty T chậm thanh toán tiền mua mủ cao su thì đến ngày
20/01/2023 để xác nhận việc Công ty T còn nợ tiền mua mủ cao su của vợ
chồng ông H bà N thì Công ty tự nguyện lập giấy nợ với số tiền là 307.338.000
(ba trăm linh bảy triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng, Công ty T cam kết
đến ngày 31/3/2023 (nhằm ngày 10/02/2023 âm lịch) sẽ trả đủ toàn bộ số tiền
mua mủ cao su cho vợ chồng ông H bà N .
Đến ngày 07/5/2023, Công ty T đã trả cho vợ chồng ông H bà N số tiền là
150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Tổng số tiền nợ còn lại mà Công
ty T còn nợ vợ chồng ông H bà N là 157.338.000 (Một trăm năm mươi bảy
triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
Đến ngày 09/6/2023 Công ty T tiếp tục trả cho vợ chồng ông H số tiền
mua mủ là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng
Từ ngày 09/6/2023 cho đến nay, vợ chồng ông H có liên lạc yêu cầu Công
ty T trả số tiền nêu trên cho vợ chồng ông H thì Công ty T không chịu trả cứ
hẹn lần này đến lần khác.
Do công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền trong hợp đồng mua bán
mủ cao su nêu trên, vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vợ
chồng ông H và bà N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện L giải quyết vấn đề sau:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T phải thanh
toán toàn bộ số tiền mua mủ cao su còn lại là: 137.000.000 (Một trăm ba mươi
bảy triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng. Ngoài ra, vợ chồng ông H và bà N
không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T
pH trả tiền lãi đối với số tiền 137.000.000 đồng.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo pháp luật của bị đơn
Công ty TNHH MTV TM T là bà Nguyễn Thị Thanh H1 trình bày:
Công ty T có mua mủ cao su của ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N là
đúng. Đến ngày 20/01/2023, các bên xác nhận còn nợ số tiền 307.338.000
đồng. Sau đó, Công ty T đã trả cho nguyên đơn số tiền sau:
- Ngày 07/5/2023, trả: 150.000.000 đồng.
- Ngày 10/6/2023, trả: 20.000.000 đồng. Tổng cộng: 170.000.000 đồng.
Như vậy, Công ty T còn nợ của ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N là số
tiền 137.000.000 đồng.
3
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 05/02/2024, Tòa án
nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Thanh H và bà
Lê Thị N
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T có
nghĩa vụ thanh toán cho ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N số tiền: 137.000.000
(một trăm ba mươi bảy triệu) đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 05/02/2024, bị đơn Công ty TNHH MTV T có đơn kháng cáo, yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày
05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện L do có vi phạm nghiêm trọng về thủ
tục tố tụng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án
từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội
đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề N HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-
ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, có hình thức,
nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH MTV T về việc đề N Tòa án
cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 05/02/2024
của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Bị đơn cho rằng nguyên đơn ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N trình
bày là không đúng sự thật về quá trình mua bán giữa hai bên. HĐXX nhận
thấy: Theo tài liệu chứng cứ thể hiện tại giấy nợ ngày 20/01/2023 do bà H1 lập
và ký tên đóng dấu Công ty, cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại
cấp sơ thẩm thì cả phía bị đơn và nguyên đơn đều xác nhận bị đơn còn nợ
nguyên đơn số tiền mủ cao su là 137.000.000 (một trăm ba mươi bảy triệu)
đồng. Đây là tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận nên không pH
chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, có đủ
4
cơ sở xác định việc Công ty T nợ vợ chồng ông H – bà N số tiền 137.000.000
(một trăm ba mươi bảy triệu) đồng là sự thật.
Đồng thời, tại giấy nhận nợ phía bị đơn Công ty T đã cam kết đến ngày
31/3/2023 (nhằm ngày 10/02/2023 âm lịch) sẽ trả đủ số tiền nguyên đơn. Như
vậy, bị đơn Công ty T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 137.000.000 (một
trăm ba mươi bảy triệu) đồng còn nợ lại cho nguyên đơn ông H, bà N đến hết
ngày 31/3/2023.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N về việc buộc bị đơn Công ty T có nghĩa
vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 137.000.000 (một trăm ba mươi bảy
triệu) đồng là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng, thực hiện không đúng quy định của pháp luật, cụ thể thành phần Hội
đồng xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thực tế tại phiên tòa khác
nhau, HĐXX nhận thấy:
Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-DS ngày
09/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện L với thành phần Hội đồng xét xử gồm
có Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa là ông Bùi Quốc Tú, các Hội thẩm nhân dân
là ông Nguyễn Thành Vui, ông Nguyễn Đức Thọ. Tuy nhiên, trước khi tiến
hành xét xử do có sự thay đổi về thành phần Hội đồng xét xử, cụ thể thay đổi
Hội thẩm nhân dân ông Võ Đức Thọ sang bà Trần Xuân Đạm. Xét thấy việc
thay đổi này đã Chánh án TAND huyện L quyết định bằng Quyết định thay đổi
người tiến hành tố tụng số 02/2024/QĐTĐ ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân
dân huyện L, đồng thời thành phần Hội đồng xét xử mới đã được chủ toạ phiên
toà thông báo tại Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-DS ngày
25/01/2024, bị đơn Công ty T đã nhận được những quyết định trên nhưng lại
không có ý kiến gì về việc thay đổi người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm
(BL 42). Hơn nữa, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/02/2024 (BL 82), thẩm phán
chủ tọa phiên tòa đã thực hiện việc công bố Quyết định thay đổi người tiến
hành tố tụng số 02/2024/QĐTĐ ngày 23/01/2024, đồng thời giới thiệu thành
phần những người tiến hành tố tụng theo đúng quy định tại phần thủ tục bắt
đầu phiên toà, được thể hiện cụ thể trong biên bản phiên toà được thư ký phiên
toà ghi nhận. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn Công ty T là không có căn cứ nên
không được HĐXX chấp nhận.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị
đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T là không có
cơ sở để chấp nhận nên cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST
ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được
chấp nhận nên bị đơn pH chịu theo quy định.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được
chấp nhận nên bị đơn pH theo quy định.
5
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại
phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Thương mại T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 05/02/2024
của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ các Điều 430, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Thanh H và bà
Lê Thị N.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thương mại T có
nghĩa vụ thanh toán cho ông Cao Thanh H và bà Lê Thị N số tiền 137.000.000
(một trăm ba mươi bảy triệu) đồng.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Thương mại T phải chịu 6.850.000 (sáu triệu tám trăm năm mươi
nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Thương mại T phải chịu. Được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006076 ngày
26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Bình Phước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Phước;
- TAND huyện L;
- Chi cục THADS huyện L;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Nga
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng