Bản án số 11/2025/KDTM-PT ngày 19/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 11/2025/KDTM-PT ngày 19/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 11/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 11/2025/KDTM - PT
Ngày: 19 - 6 - 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng cổ phần”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Tấn Long
ông Lê Văn Thường
ông Phạm Tồn
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Văn Nam, Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Đinh Văn Chánh, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm ng khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý
02/2025/TLPT-KDTM ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng cổ phần”.
Do Bản án dân s thẩm số 03/2025/KDTM-ST ngày 10-3-2025 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1715/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng
6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Thị H, sinh năm 1975; nơi trú: Số nhà A, ngõ E
N, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: Số H T, phường B,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phạm Thành T, sinh
năm 1993 Phạm Thị Huyền T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số H T, phường
B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật
Xuân H1, Công ty L6, thuộc Đoàn Luật sự tỉnh Quảng Bình; địa chỉ: Số H T,
phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2. Đồng bị đơn:
2
2.1. Ông Nguyễn Quang H2, sinh năm 1982, địa chỉ: TDP A, phường Đ,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2.2. Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: Số A L, phường H, thành phố Đ, tỉnh
Quảng Bình - Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Quang H2, chức vụ:
Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc; có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ phần T4: Luật
Hồng S, sinh năm 1993, Công ty L7; địa chỉ: Số F N, phường P, TP H,
tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố G,
phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
3.2. Công ty TNHH Một thành viên S1 - Đại diện theo pháp luật: ông
Thanh L, chức vụ: Giám đốc; nơi trú: Số H, ngõ B, đường T, phường Đ,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: Số H T, phường B, thành phố Đ,
tỉnh Quảng Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.3. Ông Đỗ Đình T2, sinh năm 1958; địa chỉ: Số C, M, thành phố Hà
Nội; vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Đỗ Đình T2: Luật
Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1962- Văn phòng L8 thuộc Đoàn Luật tỉnh
Q; địa chỉ: Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
3.4. Đoàn Thị Thúy H3; địa chỉ: A B, phường Đ, thành phĐ, tỉnh
Quảng Bình; vắng mặt.
3.5. Bà Võ Thị L1; địa chỉ: thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng
mặt.
3.6. Mai Thị L2; địa chỉ: Tổ A Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh
Khánh Hòa; vắng mặt.
3.7. Phòng đăng kinh doanh - Sở Kế hoạch Đầu tỉnh Q; địa chỉ:
Số H, đường B, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; người đại diện là ông
Nguyễn Văn H4, chức vụ Trưởng phòng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Quang H2; Công ty cổ phần T4;
nguyên đơn bà Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
* Nguyên đơn trình bày nội dung:
Công ty T4 được cấp giấy chứng nhận đăng kinh doanh vào ngày
15/09/2016. Vốn điều lệ đăng ký tại thời điểm thành lập là 30.000.000.000 VNĐ
(Ba mươi tỷ đồng). Theo điều l Công ty mỗi mệnh giá cổ phần: 10.000 đồng/cổ
phần. Công ty gồm ba thành viên sáng lập được doanh nghiệp khai tại thời
điểm thành lập bao gồm: ông Nguyễn Quang Hải đăng K mua 1.350.000 cổ
phần (tương ứng 13,5 tỷ) chiếm 45%; Thị L1 đăng mua 1.350.000 cổ
phần (tương ứng 13,5 tỷ) chiếm 45%; Mai Thị L2 đăng mua 300.000 cổ
phần (tương ứng 3 tỷ) chiếm 10%.
3
Theo quy định tại 1 3 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực
tại thời điểm thành lập công ty năm 2016) thì ba thành viên sáng lập nói trên
phải góp vốn cho công ty Đ2 đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng thành
lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng doanh nghiệp vào ngày 15/9/2016. Tuy nhiên, sau 90 ngày chỉ duy
nhất cổ đông ông Nguyễn Quang H2 góp vốn (nhưng chưa đủ). Cụ thể ông
H2 mới chỉ góp được 3,05 tỷ đồng, theo điều l Công ty mnh giá mỗi cổ phần
10.000 đồng thì ông Nguyễn Quang H2 đang sở hữu 350.000 cổ phẩn của
Công ty T4 chiếm tỷ lệ 10,16% trên số vốn điều lệ 30 tỷ khi đăng ký thành lp
Công ty. Còn Mai Thị L2 Thị L1 hoàn toàn không góp vốn ncam
kết nên đương nhiên không phải cổ đông của công ty. Thời điểm này, theo
đúng quy định của Luật doanh nghiệp 2014, Công ty T4 chỉ một thành viên
góp vốn, buộc phải chuyển đổi hình doanh nghiệp phù hợp với số vốn góp
thực tế theo Điều 197 Lut Doanh nghip 2014 và Khoản 4 Điều 25 Nghị định
78/2015/NĐ-CP (Nay là Điu 203 Lut Doanh nghip 2020 và Điều 46 Nghị
định 122/2021/NĐ-CP), nhưng công ty này lại không thực hiện.
Ngày 09/02/2017, theo h thể hin Công ty T4 biên bản tiến hành
họp đại hội đồng cổ đông về việc thông qua phương án phát hành cphần chào
bán cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ. Cụ thể số lượng phát hành
9.000.000 cổ phần, mệnh giá 10.000 đồng/c phần, tổng giá trị chào bán là 90 tỷ
đồng, thời gian chào bán dự kiến từ ngày 10/02/2017 đến ngày 11/03/2017.
Ngày 12/03/2017, Hội đồng quản trị biên bản họp số 03/2017/PSĐ-
BBHĐQT (BL: 498 - 500) Quyết định số 04/2017/PSĐ-QĐHĐQT về việc
thông qua kết quả chào bán cổ phần tăng vốn điều lệ công ty (BL: 511-512).
Cụ thể tỷ lệ mua cổ phần của các cổ đông sáng lập đã mua như sau: Ông
Nguyễn Quang Hải đăng K mua 4.050.000 cổ phần trị giá 40,5 tỷ đồng;
Thị L1 đăng mua 4.050.000 cổ phần trị giá 40,5 tỷ đồng; Mai Thị L2
đăng ký mua 1.200.000 cổ phần trị gái 12 tỷ.
Ngày 03/07/2017, Công ty T4 tiến hành đăng nộp hồ đến Phòng
đăng kinh doanh - Sở khoạch đầu tnh Qung Bình về tăng vốn điều lệ
lên 120 tỷ (BL: 495 - 497). Ngày 05/07/2017, Phòng Đăng kinh doanh - Sở
kế hoạch đầu tỉnh Q cấp giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng
doanh nghiệp (BL: 518 - 519), đồng thời Công ty T4 được cấp đổi giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp - đăng thay đổi lần thứ 1 (BL: 494) về việc tăng
vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng.
Theo các báo cáo tài chnh t khi Công ty thành lập cho đến nay, cũng
như s tha nhn ca ông Nguyễn Quang H2 Công ty T4 trong v án này,
hoàn toàn không việc Thị L1, Mai Thị L2 góp số tiền trên. Do
không góp vốn theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 112 Luật Doanh nghiệp
2014 (nay tương ng vi điểm a khoản 3 Điều 113 Lut Doanh nghip 2020), bà
Thị L1 Mai Thị L2 không phải cổ đông của Công ty T4. Như vậy,
việc t chức họp Đại hội đồng cđông để tăng vốn điều lệ của Công ty T4 vào
ngày 09/02/2017 là không đúng pháp luật theo quy định ti khoản 1 Điu 135 và
khoản 1 Điều 137 Lut Doanh nghip 2014 (tương ng vi khoản 1, Điều 138
4
và khoản 1 Điều 141 Luật Doanh nghiệp 2020), Thị L1 Mai Thị
L2 không phải là cổ đông nên không có quyn biu quyết.
Đến ngày 01/05/2020, tức là hơn 4 năm sau khi Công ty T4 được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh vào năm 2016, ông Nguyễn Quang H2 và bà
Thị H đã ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần (sau 03 năm thì cổ đông sáng lập
được quyền chuyển nhượng tự do cổ phần cho người khác theo quy đnh theo
quy đnh tại các khoản 1 2 Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 các Điều
105 và 115 Bộ Luật Dân sự 2015). Theo h sơ, ông Nguyễn Quang H2 đã thực
hiện chuyển nhượng 2.760.000 cổ phần s hu ca mình tại Công ty T4 cho
nguyên đơn Lê Thị H với giá là: 27.600.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển
nhượng giữa hai bên được lập thành Văn bản theo đúng quy định của pháp luật,
đóng dấu xác nhận của người đại diện theo pháp luật của Công ty T4 ông
Nguyễn Quang H2 (tại thời điểm đó ông Nguyễn Quang H2 còn đồng thời
Chủ tch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty). Nguyên đơn Thị H đã thanh toán
đủ số tiền: 27.600.000.000 đồng cho ông H2 bằng tiền mặt theo Giấy nhận tiền
hai bên cùng xác nhận. Vào cùng ngày, nguyên đơn Thị H đã được
Công ty T4 cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp đối với số cổ phần đã nhận
chuyển nhượng từ ông Nguyễn Quang H2, cho nên giao dch này là hoàn toàn t
nguyện dựa trên cơ sở ý ch và thỏa thuận của các bên. Các tài liệu liên quan đến
giao dch chuyển nhượng c phn này hiện có tại hồ sơ vụ án đều có giá tr pháp
lý v chng c được quy định ti các Điều 95, 108 B Lut T tng dân s
2015.
Căn cứ Đim b, Khoản 3 Điều 112 Lut Doanh nghiệp 2014 (tương ng
với điểm b, khoản 3 Điều 113 Lut Doanh nghiệp 2020), quy đnh: “b) Cổ đông
chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng mua sẽ quyền biểu quyết,
nhận lợi tc các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán;
không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người
khác”. Đối chiếu với quy định trên, chỉ ông Nguyễn Quang H2 cổ đông
duy nhất đã thanh toán một phần số cổ phần đã đăng mua của Công ty T4
3,05 tỷ đồng giai đoạn 1 trong vòng 90 ngày theo quy định ti khoản 1 Điều
112 Lut Doanh nghiệp 2014 (tương ng vi khoản 1 Điều 113 Lut Doanh
nghiệp 2020), thì đương nhiên ông H2 quyền chuyển nhượng số cổ phần
tương ứng với tổng scổ phần mà mình đã thanh toán hợp lệ 305.000 cổ
phần.
Mt khác, đối vi s tiền 16.276.000.000 đồng mà ông H2 đã thanh toán
để mua c phần ở đợt tăng vốn điều lệ tại giai đoạn 2 (tnh cho đến ngày chuyển
nhượng cho H). Theo các báo cáo tài chnh qua các năm 2016, 2017, 2018,
2019, 2020 ca Công ty T4, Công ty đã hch toán s tiền 16.276.000.000 đồng
là vn ch s hu ca ông H2. Điều này thể hiện vốn góp ông H2 trong Công ty
được ghi nhận Công ty đã sử dụng trong hoạt động kinh doanh đầu của
mình. Đồng thời, theo nhận đnh và quyết định ca Bn án hành chnh phúc
thm s: 281/2021/HC-PT ngày 13/12/2021 ca Tòa án Nhân dân cp cao tại Đà
Nẵng đã có hiu lc pháp lut (có giá tr chng c không cn phi chng minh)
theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 92 B Lut TTDS 2015 và đim b,
5
khoản 1 Điều 79 - Lut T tng hành chnh 2015), xác định vốn điều l ca
Công ty là 120 t đồng theo Giy chng nhận đăng ký doanh nghip công ty c
phần đăng thay đối lần th nht ngày 05/7/2017 do Phòng đăng kinh
doanh - Sở KH & ĐT tỉnh Q cp. Mc dù chưa chuyển đổi hình Công ty
theo quy định, tuy nhiên pháp nhân này theo h sơ pháp lý doanh nghip và theo
quy định ti khoản 2, Điu 110 - Lut Doanh nghiệp 2014 (tương ng vi khon
2 Điều 111 Lut Doanh nghip 2020) vn là Công ty cổ phần T4,: Theo quy
định tại Điều 110 thì “Công ty cổ phần cách pháp nhân kể từ ngày được
cấp Giấy chng nhận đăng doanh nghiệp”. Do đó, s c phần đăng mua
thêm và đã thanh toán này, ông H2 hoàn toàn có quyn chuyển nhượng cho
nguyên đơn Lê Thị H là hoàn toàn hp lệ, đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, xác định phn vn góp ca b đơn ông Nguyễn Quang H2 (c
hai giai đoạn: 3.050.000.000 đồng (trong vòng 90 ngày) + 16.276.000.000 đồng
(sau 90 ngày) vi tng s tiền 19.326.200.000 VNĐ tương ứng 1.932.620 cổ
phần chiếm tỉ lệ 16,1% trên vốn điều l 120 t ca Công ty là hp pháp, cho nên
b đơn Nguyễn Quang H2 hoàn toàn có quyn chuyển nhượng theo Điu l
Công ty và theo quy đnh ca pháp lut. Riêng s tiền 8.273.800.000 đồng thanh
toán chuyển nhượng (trong tng s tin 27,6 t đồng đã giao dch chuyn
nhưng c phần) tương ng vi 827.380 c phần, đã t quá quyn s hu ca
ông H2 là 6,9% (23% - 16,1% = 6,9%), mà ông Nguyễn Quang H2 đã chuyn
nhưng s c phn này cho nguyên đơn Thị H là vô hiu, vì đã vi phạm điều
cm ca luật được quy định tại điểm b, khoản 3 Điu 112 Lut Doanh nghip
2014 (tương ng với đim b, khoản 3 Điều 113 Lut Doanh nghip 2020):
“b)Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng mua sẽ quyền
biểu quyết, nhận lợi tc các quyền khác tương ng vi số cổ phần đã thanh
toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán
cho người khác;”. Như vậy có thể thấy, việc ông Nguyễn Quang H2 chỉ sở hữu
1.932.620 cổ phần của Công ty T4 nhưng lại chuyển nhượng cho nguyên đơn
Lê Thị H 2.760.000 cổ phần là đã chuyển nhượng vượt quá số cổ phần mà mình
đang sở hữu, do đó phần chuyển nhượng vượt quá không phát sinh quyn và
ngha v ca các bên ngay ti thời điểm giao kết vào ngày 01/05/2020. Đối với
các giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông sáng lập đã được đăng
trên Giấy chứng nhận kinh doanh gồm tên các Thị L1 Mai Thị
L2, nhưng những người này không thực hiện ngha vụ góp vốn thì đương nhiên
không phát sinh hiệu lực, cho nên không có quyền chuyển nhượng. Do đó, trong
trường hợp phát sinh tranh chấp thì các chủ thể liên quan quyền yêu cầu
giải quyết bằng một vụ án độc lập khác để yêu cu tuyên hợp đồng vô hiu và
yêu cu gii quyết hu qu ca hợp đồng hiệu nhằm đòi lại stiền đã thanh
toán chuyển nhượng cổ phần theo hợp đồng.
Như vậy giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa nguyên đơn Thị H
ông Nguyễn Quang H2 đã hoàn tất, hai bên đã thc hin hoàn thành các quyn
và ngha vụ chuyển giao quyền sở hữu cổ phần kể từ ngày 01/5/2020. Pha Công
ty T4 là bên thứ ba phải thc hin các ngha vụ liên quan đến giao dịch chuyển
nhượng cổ phn trên bằng việc ghi nhận cách cổ đông đối với số cổ phần
6
Lê Thị H đã mua theo các quy định ti khoản 7 Điều 126 Lut Doanh nghip
2014 (tương ng vi khoản 7 Điều 127 Lut Doanh nghip 2020): “7. Công ty
phải đăng thay đổi cổ đông trong sổ đăng cổ đông theo yêu cầu của cổ
đông liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy
đnh tại Điều lệ công ty.”.
Theo danh sách cổ đông ngày 05/08/2020 do Công ty T4 lập tên
nguyên đơn Thị H, nhưng sau đó tại Công văn 39/PSĐ-BC Công ty lại gửi
Phòng đăng kinh doanh thuộc Sở K v việc “Phúc đáp công văn số
14/KHĐT-ĐK ngày 18/02/2022” theo đó Công ty T4 cung cấp một danh sách cổ
đông ngày 28/11/2020 ghi thông tin hoàn toàn không chnh xác, phủ nhận
nguyên đơn Lê Thị H là cổ đông, đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi và
lợi ch hợp pháp của nguyên đơn Thị H dn đến phát sinh tranh chp. Bên
cạnh đó, tài liệu là Công văn số 55/PSĐ-BC ngày 27/6/2022 của Công ty T4 gửi
Phòng Đăng kinh doanh, Sở KHĐT tỉnh Q về việc “Phúc đáp công văn số
23/KHĐT-ĐK ngày 22/4/2022”, trong đó có nội dung Công ty T4 xác nhận: “Sổ
đăng danh ch cổ đông theo từng lần thanh toán: Chưa lập.”. Và trong quá
trình t tng pha b đơn ông Nguyễn Quang H2 và Công ty T4 cũng tha
nhận điu này. Nvậy, Công ty T4 chưa/không lập sổ đăng cổ đông là vi
phạm quy định ti khoản 1 Điều 121 Lut Doanh nghip 2014 (tương ng vi
khoản 2 Điều 122 Lut Doanh nghip 2020): “1. Công ty cổ phần P lập lưu
giữ sổ đăng ký cổ đông từ khi được cấp Giấy chng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này”.
Như vậy, li vi phm này hoàn toàn thuc v trách nhim ca Công ty T4.
Theo quy định tại khoản 7 Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 (tương ng
vi khoản 7 Điều 127 Lut Doanh nghiệp 2020), việc chuyển nhượng cổ phần
sự thay đổi về cổ đông phải ghi vào sổ danh sách cổ đông, chỉ khi đó
nguyên đơn Thị H mới trở thành cổ đông Công ty T4. Tuy nhiên, nguyên
đơn Thị H không tên trong sổ đăng cổ đông không phải lỗi của H,
li này hoàn toàn thuc v Công ty T4 do không thực hiện đúng quy định
của pháp luật Điều lệ Công ty. Bi vì, theo quy định của Điều 121 Luật
Doanh nghiệp 2014 (Điều 122 Lut Doanh nghiệp 2020) Điều lệ Công ty t
việc ghi thông tin cổ đông và sổ đăng ký cổ đông là trách nhiệm của Công ty T4.
vậy, khi sổ đăng ký cổ đông chưa lập theo quy định (như xác định ca
Sở KHĐT tỉnh Q và s tha nhn ca pha b đơn trong h v án) thì không
thể ghi tên nguyên đơn Lê Thị H vào s đăng ký cổ đông như quy định tại khoản
7 Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 (tương ng vi khoản 7 Điều 127 Lut
Doanh nghip 2020). Vì vậy, nguyên đơn Thị H quyền yêu cầu Công ty
T4 phi lp s đăng c đông phải ghi nhận ch c đông ca nguyên
đơn Lê Thị H vào sổ đăng ký cổ đông theo luật định. Tuy nhiên, phía Công ty
T4 không thực hiện, vi phạm khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2014
(tương ng vi khoản 2 Điều 16 Lut Doanh nghiệp 2020), quy định: 2. Ngăn
cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp thực hiện các quyền,
nghĩa vụ theo quy đnh của Luật này Điều lcông ty.” và xâm phạm quyền
lợi ch hợp pháp của nguyên đơn Thị H. vậy, trong yêu cu khi
7
kin ca mình, nguyên đơn - Thị H đã yêu cầu buộc Công ty T4, phải ghi
nhận tư cách c đông của nguyên đơn Thị H vào sổ đăng cổ đông theo
quy định của pháp luật.
Về việc thay đổi nội dung trên giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được quy định ti khon 1 và đim c khon 5
Điều 112 đim d khon 3, khoản 4 Điều 113 - Luật Doanh Nghiệp 2020, như
sau:“c) Vốn điều lkhông được các cổ đông thanh toán đầy đủ đúng hạn
theo quy đnh tại Điều 113 của Luật này”; Điều 113: Trường hợp sau thời hạn
quy đnh tại khoản 1 Điều này, cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán
được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì thực hiện theo quy đnh sau đây:
d) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ
số cổ phần đã đăng mua theo quy đnh tại khoản 1 Điều này, công ty phải
đăng điều chỉnh vốn điều lệ bằng mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán
đủ, trừ trường hợp số cổ phần chưa thanh toán đã được bán hết trong thời hạn
này; đăng thay đổi cổ đông sáng lập.” Như vậy, ông Nguyễn Quang H2 đã
thanh toán 19.326.200.000 đồng để mua 1.932.620 cổ phần của Công ty T4
thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Quang H2, ngoài ra không cổ đông nào
khác góp vốn thanh toán để mua cổ phần. vậy, công ty T4 phải ngha vụ
đăng ký thay đổi vốn điều lệ theo đúng thực tế góp vốn cụ thể là thay đổi từ 120
tỷ v19.326.200.000 đồng tương ứng với giá trị cổ phần ông H2 đã thanh
toán hợp pháp cho Công ty T4. Mặt khác, lúc này Nguyễn Quang H2 đã bán
cho Thị H, do đó chỉ còn H cổ đông/chủ s hữu duy nhất của Công ty
T4. Theo Điều 203 Luật Doanh Nghiệp 2020, Công ty cổ phần B phải chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp thành Công ty TNHH một thành viên khi Công ty chỉ
còn duy nhất 01 cổ đông.
Căn cứ quy định tại Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2020 thì doanh nghiệp
chịu trách nhiệm đăng thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp, trong đó nội dung về Vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày
có thay đổi, nhưng Công ty T4 đã vi phạm về thời hạn đăng ký thay đổi theo quy
định. Vì vậy, đgiải quyết triệt để vụ án, trường hợp chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Lê Thị H vviệc công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần và ghi nhận ch c đông của nguyên đơn, buộc Công ty
T4 phải đăng thay đổi nội dung đăng doanh nghiệp với 02 nội dung: Một
là, thay đổi vốn điều lệ t120 tỷ thành 19.326.200.000 đồng theo đúng số cổ
phần đã thanh toán hợp pháp. Hai là, Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ
công ty cổ phần T5 do nguyên đơn Thị H chủ sở hữu (do bà H cổ đông
duy nhất).
Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của mình, căn cứ quy định tại
các Điều 4, 8, 17, 110, 121, 122, 124, 126, 135, 137, 197 Luật Doanh nghiệp
2014; các Điều 4, 8, 16, 111, 113, 127, 138, 141, 203 Luật doanh nghiệp 2020
các văn bản hướng dn thi hành; Điều 5, 26, 28, 30, 34, 70, 71, 95, 108, 186
Bộ Luật ttụng dân sự 2015; các Điều 105, 115, 117, khoản 2 Điều 357, Điều
468 Bộ Luật dân s2015 và Điu l ca Công ty T4, nguyên đơn yêu cầu Tòa
án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
8
1. Tuyên mt phần Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 01/5/2020
giữa bị đơn ông Nguyễn Quang H2 nguyên đơn Lê Thị H đối với số cổ phần
ông H2 đã góp vốn hợp lệ vào ng ty T4, và phn vn góp đã đưc hch
toán vn ch s hu ca c đông Nguyễn Quang H2: vi tng s tin
19.239.100.000 VNĐ (cả hai ln thanh toán: 3.050.000.000 đồng +
16.276.000.000 đồng), tương ứng 1.932.620 cổ phần chiếm tỉ lệ 16,1% trên vn
điu l 120 t ca Công ty, nên ông H2 có quyn chuyển nhượng 1.932.620 cổ
phần, đồng ngha s c phần đã chuyển nhượng và thanh toán này có giá tr
pháp lý.
2. Tuyên mt phần Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 01/5/2020
giữa b đơn ông Nguyễn Quang H2 nguyên đơn Lê Thị H đối với 827.380 cổ
phần, đã t quá quyn s hu ca ông H2 là 6,9% (23% - 16,1% = 6,9%)
tương ng vi s tiền 8.273.800.000đ (trong tng s tin 27,6 t đng giao dch
chuyển nhượng), mà b đơn ông Nguyễn Quang H2 đã chuyển nhượng cho
nguyên đơn Thị H là hiu vì vi phạm điều cm ca lut. Và yêu cu gii
quyết hu qu ca hợp đồng hiu, buc b đơn ông Nguyễn Quang H2 là bên
pha chuyển nhượng hoàn toàn có li, phi tr li c phn tin gc và lãi cho
nguyên đơn Thị H kể từ ngày 01/05/2020 đến ngày xét xử thẩm
19/02/2025 với tổng số tiền 12.242.925. 722 đồng; trong đó 8.273.800.000 tiền
gốc và 3.969.125.722 đồng tiền lãi.
3. Công nhận nguyên đơn Thị H là c đông nắm gi 1.932.620 cổ
phần của Công ty T4 và buc Công ty T4 ghi nhn tư ch c đông của nguyên
đơn Lê Thị H vi s ng c phn s hu là 1.932.620 cổ phần kể t ngày
01/5/2020.
4. Buộc Công ty cổ phần T4 tiến hành đăng thay đổi nội dung giấy
chứng nhận đăng kinh doanh cụ thể: Thay đổi vốn điều lệ 120 tỷ thành
19.326.200.000 đồng do đây số cồ phần đã n được thanh toán hợp pháp
buộc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty cổ phần T6 trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do bà Lê Thị H là chủ sở hữu (do chỉ còn bà Lê Thị H
cổ đông duy nhất). Trường hợp Công ty không thực hiện, H được phép nhân
danh Công ty T4 để tiến hành nộp hồ theo quy định của Luật Doanh nghiệp
2020.
* Bị đơn ông Nguyễn Quang H2 trình bày:
Năm 2016, ông và bà Võ Thị L1, Mai Thị L2 là ba cổ đông sáng lập cùng
nhau thành lập công ty cổ phần T4 Phù Sa Đ với vốn điều lệ 30.000.000.000
đồng theo giấy chứng nhận đăng Doanh nghiệp MSDN 3101020583 đăng
lần đầu ngày 15/9/2016 do ông giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm
giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty.
Ngày 05/7/2017, Công ty T4 đăng ký thay đổi tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ
đồng ngày 20/01/2022, Công ty được cấp giấy chứng nhân đăng doanh
nghiệp đăng thay đổi lần thứ 5 ông đã hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần, giấy chứng nhận vốn góp, giấy chứng nhận góp vốn, giấy nhận tiền
một số giấy tkhác nhằm mục đch hợp thức hóa hồ công ty trong việc tăng
vốn điều lệ, chứ không việc nhận tiền giữa các bên. Thực tế việc đóng góp
9
tiền vào công ty đều được thể hiện số sách của công ty, theo đó thể hiện ông
đã nộp vào công ty 19.585.600.000 đồng Đoàn Thị Thúy H3 nhân viên
của chi nhánh công ty T4 đã chuyển số tiền góp vốn vào Công ty với tổng số
tiền 9.548.707.400 đồng. Toàn bộ số tiền H3 đã nộp thì bà H3 chỉ
người nộp thay cho các nhân Thị H, ông Thanh L ông Đỗ
Đình T2, nhưng ông không số tiền cụ thnhững người này đã góp vốn
vào công ty bao nhiêu. Ngoài ra, ông cũng đã nhiều lần các thông báo gửi
đến các cá nhân có góp vốn vào công ty đến làm việc nhằm xác định số tiền góp
vốn nhưng không ai đến công ty để làm việc.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông đề nghị xem xét hiệu lực
của các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần mà nguyên đơn khởi kiện. Bởi lẽ, các
hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, giấy chứng nhận góp vốn, giấy nhận tiền
được ký trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và thống nhất cùng nhau lập các thủ tục
giấy tờ nhằm đảm bảo cách của người góp vốn vào công ty. Tuy nhiên, trong
thực tế H không nộp tiền vào công ty việc nhận tiền theo nội dung giấy
nhận tiền ngày 01/5/2020 giữa ông H được lập chỉ hình thức không
có thực.
* Bị đơn Công ty cổ phần T4 trình bày: Các hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần đang tranh chấp được thực hiện vào các tháng 5,6,11 năm 2020, nguyên
đơn cho rằng đã thực hiện việc kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần nhưng
không được Công ty T4 ghi nhận cách cổ đông là đã xâm phạm quyền lợi
ch hợp pháp của nguyên đơn kể từ thời điểm hợp đồng. Tuy nhiên, đến
tháng 3/2023 nguyên đơn mới khởi kiện để yêu cầu giải quyết tranh chấp đã
hết thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ
luật dân sự. vậy, đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu để đình chỉ giải quyết vụ
án.
Mặt khác, Công ty cổ phần T4 được cấp giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp ngày 15/9/2016 theo quy định tại Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014
thì các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong thời hạn 90 ngày
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, tại thời điểm chuyển nhượng
cổ phần cho Lê Thị H vào ngày 01/5/2020, ông Nguyễn Quang H2 vn chưa
thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua cho Công ty. Do đó, việc ông Nguyễn
Quang H2 và bà Thị H ký hợp đồng chuyển nhượng 2.760.000 cổ phần là trái
với quy định tại Điều 112 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tại thời điểm chuyển
nhượng (30/6/2020), ông Nguyễn Quang M chưa hoàn tất các thủ tục giao dịch
để nhận chuyển nhượng cphần từ các cổ đông công ty T4, chưa được Công ty
T4 ghi nhận tư cách cổ đông, cho nên ông Nguyễn Quang M chưa chnh thức tr
thành cổ đông công ty T4. vậy, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày
30/6/2020 giữa ông Nguyễn Quang M và bà Lê Thị H là vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 121 Luật doanh nghiệp năm 2014, thì sổ đăng
cổ đông ghi nhận nội dung bao gồm cổ đông số lượng cổ phần, nhưng trên
thực tế quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận, ông Nguyễn
Quang H2 vn chưa góp đủ svốn đăng ký, nên chưa được ghi nhận vào sổ
đăng cổ đông. Đồng thời theo quy định tại khoản 7 Điều 126 Luật doanh
10
nghiệp năm 2014, người nhận chuyển nhượng cổ phần chỉ trở thành cổ đông khi
các thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng cổ đông. Như vậy, tại thời
điểm chuyển nhượng, ông Nguyễn Quang H2 và ông Nguyễn Quang M đều
chưa được ghi nhận vào sổ đăng cổ đông của công ty, việc chuyển nhượng
trên là chưa đảm bảo điều kiện về mặt chủ thể theo quy định tại Điều 117 Bộ
luật dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Quang H2ông Nguyễn Quang M lập các
hợp đồng chuyển nhượng, tuy nhiên thực tế không việc chuyển nhượng xảy
ra, không có sự góp vốn, thể hiện qua các căn cứ sau: Không thể hiện tên của bà
Thị H, ông Đỗ Đình T2, Công ty S1 trong sổ đăng ký cổ đông; Việc chuyển
nhượng cổ phần không kê khai đăng thuế; Việc chuyển nhượng không được
thể hiện trong báo cáo tài chnh của công ty T4; Trước đây ông Thanh L,
Thị H, ông Đỗ Đình T2 dựa vào các hợp đồng chuyển nhượng này để thực
hiện thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty T4 (thay
thế ông Nguyễn Quang H2). Bởi lẽ việc chuyển nhượng trên thực tế không
thật, nên tại Bản án hành chnh phúc thẩm số: 281/2021/HC-PT của Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng đã nhận định việc cấp giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp nội dung thay đổi người đại diện theo pháp luật sai, từ đó hủy bỏ c
giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp này và phục hồi lại thông tin doanh
nghiệp đúng như trước thời điểm đăng ký trái pháp luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang M trình
bày: Công ty cổ phần T4 đỏ gồm 3 cổ đông ng lập là ông Nguyễn Quang H2,
Thị L1 Mai Thị L2 với vốn điều lệ 120 tỷ đồng theo giấy chứng
nhận đăng ký doanh nhiệp ngày 05/7/2017. Năm 2020, bà Thị L1 đã làm thủ
tục chuyển nhượng 45% cổ phần cho ông M. Ngày 30/6/2020, giữa ông
Quang M1 Lê Thị H thỏa thuận hợp đồng chuyển nhượng 15% cổ
phần của Công ty cổ phần T4. Tuy nhiên, thực tế không việc giao nhận tiền
giữa các bên, việc ông M1 nhận tiền chỉ là hình thức. Việc hợp tác không
thành nên hợp đồng chuyển nhượng này không thực hiện. Theo đó, hợp đồng
chuyển nhượng 15% cổ phần này cũng chỉ là hình thức, không có giá trị. Vì vậy,
ông đề nghị Tòa án xem xét hiệu lực pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng 15%
cổ phần này để giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Tại Bản án thẩm số: 01/2023/KDTM-ST ngày 27/02/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H tuyên xử:
1.1. Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 01/5/2020 giữa ông Nguyễn
Quang H2 bên chuyển nhượng vi Thị H bên nhận chuyển nhượng
hiệu lực đối vi số cổ phần mà ông Nguyễn Quang H2 được sở hữu hợp pháp là
1.932.620 cổ phần tương ng vi số tiền 19.326.200.000 chiếm 16,1% trên số
vốn điều lệ 120 tỷ;
1.2. Hậu quả của Hợp đồng hiệu: Đối vi cổ phần vượt quá quyền sở
hữu của ông Nguyễn Quang H2 đã chuyển nhượng cho Thị H
8.273.800.000 đồng tương ng vi 6,9% b hiệu. Các bên tham giao giao
dch dân skhông yêu cầu xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu
11
mà để các bên thương lượng thỏa thuận nên không xem xét. Trường hợp các bên
không thương lượng được thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
2. Buộc công ty cổ phần T4 ghi nhận tư cách cổ đông của bà H theo số cổ
phần 1.932.620 tương ng vi số tiền 19.326.200.000 chiếm 16,1% trên số vốn
điều lệ 120 tỷ;
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H vi b đơn ông
Nguyễn Quang M; Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của
đương sự.
- Ngày 12/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Quang H2, người quyền lợi
ngha vụ liên quan Công ty T4 kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm, đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
[3] Tại Bản án phúc thẩm số: 13/2024/KDTM-PT ngày 30/5/2024 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận định Tòa án cấp thẩm vi
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong vấn đxác định cách đương sự,
không đưa người có quyền lợi và ngha vụ liên quan để giải quyết triệt để vụ án,
việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và đã quyết định:
1. Căn c khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; chấp nhận một phần kháng cáo của b đơn ông Nguyễn Quang H2; Chấp
nhận một phần kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty
Cổ phần T4;
Hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 01/2024/KDTM-
ST ngày 27/02/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình chuyển hồ vụ
án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: căn c khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản
3 Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy đnh về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
3. Ông Nguyễn Quang H2 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty T4 không phải chu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho b đơn
ông Nguyễn Quang H2 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T4,
mỗi đương sự 2.000.000 (hai triệu) đồng tạm ng án phí phúc thẩm đã nộp theo
các Biên lai thu số 0004843 ngày 19/3/2024, số 0004840 ngày 18/3/2024 của
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
[4] Sau khi Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án:
- Tại Công văn số 13/CV-PSĐ ngày 02/10/2024 Công ty cổ phần T4 trình
bày (BL- 867): Liên quan đến các giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa
Thị H và các cổ đông của Công ty, bà Lê Thị H đang có đơn tố giác ông Nguyễn
Quang H2Nguyễn Quang M tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q
hiện nay vụ án đang được Phòng C Công an tỉnh Q thụ giải quyết. Theo đó,
ngày 23/9/2024 Công ty Cổ phần T4 đã công văn số: 12/CV-PSĐ gửi
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng
Bình yêu cầu điều tra làm các dấu hiệu bất thường trong quá trình chuyển
12
nhượng cổ phần của bà Lê Thị H với ông Nguyễn Quang H2, Nguyễn Quang M,
Đặng Quang V1 cũng như hoạt động rút tiền từ Công ty của Lê Thị H; cụ thể:
Theo hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 16/01/2021 thì bà Thị H đã
chuyển nhượng cho ông Đặng Quang V1 toàn b100% số cổ phần hiện của
H tại Công ty Cổ phần T4. Trong số cổ phần đó số cổ phần liên quan đến
các giao dịch chuyển nhượng giữa Thị H và Ông Nguyễn Quang M, Ông
Nguyễn Quang H2. Như vậy, sau khi chuyển nhượng cổ phần ngày 16/01/2021
của Thị H cho Ông Đặng Quang V1 100% số cổ phần hiện có của bà H
tại Công ty. Do đó H không còn cổ phần tại Công ty. Vậy tại sao Thị
Hồng L3 làm các việc tố cáo việc chuyển nhượng cổ phần ngày 30/06/2020 giữa
Thị H và ông Nguyễn Quang M, đồng thời khởi kiện vụ án để yêu cầu ghi
nhận tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Quang H2.
Hiện nay trong vụ án hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án đang tiến hành điều tra thì
Công ty Cổ phần T4 đang yêu cầu điều tra làm các hợp đồng chuyển nhượng
cổ phần không thật (trong đó hợp đồng giữa ông Nguyễn Quang H2
Thị H đối tượng tranh chấp trong vụ án TAND tỉnh Quảng Bình
đang thụ giải quyết). Làm việc sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần với ông Nguyễn Quang H2 Nguyễn Quang M thì Thị H đã lập
hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho ông Đặng Quang V1 làm thủ
tục rút tiền từ Công ty Cổ phần T4 Đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Làm
việc Thị H trả tiền cho ông Nguyễn Quang H2, Nguyễn Quang M số
tiền rất lớn 45,6 tỷ đồng hay không? Nguồn gốc số tiền này từ đâu ra? Trong khi
Lê Thị H chỉ là người buôn bán nhỏ lẻ?
Kết quả giải quyết vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q
ý ngha quan trọng trong việc đánh giá tnh hợp pháp của hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần gitta ông Nguyễn Quang H2 Thị H. Do đó, bằng văn
bản này Công ty knh để nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng nh căn cứ điểm d
khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tạm đình chỉ giải quyết vụ
án để chờ kết quả giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
- Tại đơn đề ngh hoãn phiên tòa đề ngày 24/12/2024, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho Công ty T4 Luật sư Lê Hồng S trình bày (BL-882):
- Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Công ty Cphần
T4 công văn số: 13/CV-PSD ngày 02/10/2024 gửi TAND tỉnh Quảng Bình
cung cấp thông tin về việc ngày 16/1/2021 Thị H đã chuyển nhượng cho
ông Đặng Quang V1 toàn bộ 100% số cổ phần hiện của bà H (48% vốn điều
lệ) tại Công ty Cổ phần T4 theo hợp đồng chuyển nhượng cổ phần lập ngày
16/01/2021. Bên cạnh đó Công ty đặt vấn đề về sự khi Thị H bỏ ra
18 tỷ đồng để mua 15% cổ phần của ông Nguyễn Quang M, bỏ ra 27,6 tỷ đồng
để mua 23% cổ phần của ông Nguyễn Quang H2. Tổng cộng: 45,6 tỷ đồng đ
mua 38% cổ phần. Như vậy trong một thời gian rất ngắn H bán lại cho ông
Đặng Quang V1 với g5 tỷ 760 triệu đồng, lỗ hơn 50 tỷ đồng. Từ đó, Công ty
T4 khẳng định các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giữa ông Nguyễn Quang
H2, Nguyễn Quang M với bà Thị H giả tạo, không việc giao nhận tiền
13
trên thực tế. Do đó, việc làm rõ hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giữa H
ông V1 ý ngha quan trọng trong việc xác định việc sở hữu cổ phần của các
cổ đông cũng như làm giá trị thực sự của các hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần H đã với ông H2 ông M. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ
án, Tòa án chưa đưa ông V1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi
ngha vụ liên quan thiếu sót. Knh để nghị Tòa án xem xét bsung người
tham gia tố tụng đối với người quyền lợi ngha vụ liên quan ông Đặng
Quang V1, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
- Về thu thập chứng cứ để chứng minh các vấn đề của vụ án: Để giải
quyết một cách khách quan, triệt để vụ án này cần làm rõ việc đóng tiền mua cổ
phần của các cổ đông đã đăng ký mua cổ phần của Công ty Cổ phần T4. Tòa án
các cấp trước đây khi giải quyết các tranh chấp điều chỉ căn cứ vào số liệu tại
bảng do Công ty T4 cung cấp, trong khi các số liệu, bảng này chưa được
thẩm định một cách chnh xác. Theo Bản án hành chnh phúc thẩm số: 281/HC-
PT ngày 13/12/2021 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng xác định tlệ sở hữu cổ
phần của ông Nguyễn Quang H2 tại Công ty T4 là 45% cổ phần, nhưng trong vụ
án này TAND tỉnh Quảng Bình TAND cấp cao tại Đà Nẵng khi xét xử
thẩm phúc thẩm lần 01 lại xác định tỷ lsở hữu cổ phần của ông Nguyễn
Quang H2 là 16,1%. Tất cả chỉ căn cứ vào giấy phép kinh doanh bảng
cung cấp số liệu chưa được kiểm toán của ng ty T4. vậy, hiện nay hoặc
sau khi xét xử thẩm, Công ty T4 cung cấp lại số liệu nộp tiền mua cổ phần
của các cổ đông với số liệu khác thì phải giải quyết thế nào? Để giải quyết chnh
xác, khách quan cần phải đơn vkiểm toán độc lập tiến hành kiểm toán số
liệu nộp tiền mua cổ phần của các cổ đông cũng như kiểm toán báo cáo tài chnh
qua các năm của Công ty Cổ phần T4.
Liên quan vụ án, H đã đơn tố cáo ông Nguyễn Quang H2 ông
Nguyễn Quang M lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần. Hiện nay, quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố
vụ án. Quá trình điều tra, ngày 23/9/2024 Công ty T4 văn bản đề nghị
quan điều tra làm tnh xác thực của các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
giữa ông Nguyễn Quang H2 với bà Thị H giữa ông Nguyễn Quang M với
Thị H. Từ đó làm rõ việc bà H thông qua các hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần này đã cùng ông Thanh L lập khống hồ sơ để rút tiền của Công ty. Như
vậy, hiện nay, cùng đối tượng là hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày
01/5/2020 giữa ông Nguyễn Quang H2 Thị H đang được cả Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Bình Công an tỉnh Q xem xét giải quyết bằng hai thủ
tục khác nhau. Do đó, knh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình cân nhắc,
tạm hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ để chờ kết quả điều tra của Cơ quan cảnh
sát điều tra Công an tỉnh Q.
- Tại Công văn số: 1578/CSHS ngày 26/9/2024 của Phòng C Công an tỉnh
Q trình bày (BL: 837): Ngày 18/3/2024, quan CSĐT Công an tỉnh Q nhận
được “Đơn tố giác tội phạm” Thị Hồng Đ1 ngày 15/02/2024, tgiác ông
Nguyễn Quang H2 ông Nguyễn Quang M đã hành vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, bằng hình thức chuyển nhượng cổ phần công ty để chiếm đoạt tài sản
14
của H với số tiền 18 tỷ đồng, thể hiện tại Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
giữa Thị H với ông Nguyễn Quang M lập ngày 30/6/2020 giấy nhận
tiền đề ngày 30/6/2020, thể hiện ông M nhận của H 18 tỷ đồng. Căn cứ yêu
cầu tại văn bản số 700/VKS-P3 ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Bình về việc kết thúc kiểm tra xác minh tin báo về tội phạm ra Quyết
định khởi tố vụ án hành sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 19/7/2024,
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã kết thúc giải quyết tố giác về tội phạm của bà
Thị H ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
xảy ra tại tỉnh Quảng Bình, phát hiện năm 2024, đối với vụ việc trên. Hiện vụ án
đang trong giai đoạn điều tra theo quy định pháp luật.
- Tại bản tự khai đề ngày 09/09/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan Đoàn Thị Thúy H3 trình bày (BL-842): Năm 2019, nhân viên của
Trung tâm D ông Thanh L giám đốc trung tâm được nghe ông L nói
đang đầu vào dự án Thung lũng Hava tại thôn C, P, tỉnh Quảng Bình do
Công ty T4 làm chủ đầu tư ông L nhờ quản tiền số tiền đầu này.
Trong thời gian năm 2019 và năm 2020, bà có nhận từ ông L số tiền khoảng hơn
16 tỷ để đầu tư vào dự án nói trên, và bà đã tổng hợp, báo cáo số liệu cho người
đầu ông L cho chủ đầu Công ty T4 qua Nguyễn Thị Huyền T3
kế toán của Công ty.
Việc mua bán cổ phần hay các hoạt động quản Công ty T4, hoàn
toàn không liên quan và không biết việc bà H mua cổ phần của ông H2 cũng
như các hoạt động khác của các cổ đông công ty T4, còn chuyển khoản số
tiền 9.548.707.400 đồng cho Công ty T4 tiền của ông L. Riêng việc H
thanh toán mua cổ phần bằng tiền mặt cho các cổ đông, giấy xác nhận
hoàn toàn độc lập với nhau về phương thức giao nhận tiền, giá trị thanh toán,
thời gian thanh toán mục đch, phương thức chuyển/thanh toán tiền khác
nhau. bận công việc nhân đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án
- Tại Bản tự khai ngày 27/10/2024, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Thanh L trình bày: Năm 2016, ông Nguyễn Quang H2 - Chủ tịch
HĐQT kiêm giám đốc Công ty mời tôi góp vốn liên doanh xây dựng khu du
lịch HAVA. Tnh đến tháng 8 năm 2020, ông đã góp vốn vào Công ty T4 s
tiền 23.335 tỷ đồng (làm tròn số) theo nhiều hình thức: Tiền mặt, chuyển khoản,
chi xây dựng. Ngày 22/7/2020, Công ty T4 cấp cho ông giấy chứng nhận góp
vốn với số tiền 23,335 tỷ. Ông nhờ Thị H đứng tên giấy chứng nhận,
lúc đó ông đang công chức Nhà nước. Trong số hơn 23 tỷ đó
9.548.707.400 đồng, ông nhờ bà Đoàn Thị Thúy H3 chuyển khoản vào tài khoản
Công ty T4 số tiền này không liên quan đến việc Thị H khởi kiện
ông Nguyễn Quang H2 về mua bán cổ phần ngày 01/5/2020. Đối với stiền
9.548.707.400 đồng ông yêu cầu chuyển khoản vào tài khoản của Công ty
T4 thì ngày 22/10/2024, ông đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thành
phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình để đòi lại bằng một vụ án khác. Việc ông góp
vốn vào Công ty T4 không liên quan đến việc H mua cổ phần của ông
Nguyễn Quang H2 vì hai giao dịch này hoàn toàn độc lập từ các hình thức thanh
15
toán khác nhau, thời gian thanh toán khác nhau, giá trị cũng hoàn toàn khác
nhau, cho nên người đại diện theo pháp luật Công ty T4, là ông H2 đã xác nhận
bằng các giấy tờ khác nhau vào hợp đồng mua bán cổ phần cùng với giấy giao
nhận tiền được Công ty cấp "chứng nhận góp vốn". Do đó, bị đơn cho rằng
hai giao dịch là một là hành vi đánh bùn sang ao, nhằm che đậy những việc làm
trái pháp luật, trái đạo lý của ông Nguyễn Quang H2.
- Tại đơn trình bày đề ngày 24/11/2024, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan ông Đỗ Đình T2 người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông
Luật Nguyễn Xuân V thống nhất trình bày (BL-892): Ngày 22/7/2020, ông
H2 cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp của ông trong Công ty T4 Đó là
20.750.000.000 đồng (hai mươi tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), hình thức
góp vốn: Tiền mặt, thời điểm góp vốn: Tnh đến ngày 20/7/2020 theo Giấy
chứng nhận phần vốn góp Số 01/GCN-PSĐ ngày 22/7/2020 của Công ty P1;
Danh sách cổ đông Công ty T4 tỉnh đến ngày 05/8/2020; Biên bản họp Hội đồng
quản trị Công ty T4 ngày 05/8/2020.
Ngày 05/11/2020, ông nhượng bán lại số cổ phần của mình có tại Công ty
T4 cho Công ty TNHH Một thành viên S2 (Công ty S2), do Công ty T4 không
ghi nhận cách cổ đông của Công ty S2 nên Công ty S2 khởi kiện ra Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Bình yêu cầu Công ty T4 ghi nhận cách cổ đông của
Công ty S2 theo số cổ phần ông đã nhượng bán cho Công ty S2. Ngày
29/9/2023, Công ty S2 rút yêu cầu khởi kiện; ngày 02/10/2023, Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số: 02/2023/QDST-KDTM đình chỉ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên S2 với bị đơn
Công ty CP T4 trong vụ án Kinh doanh thương mại thụ số 07/2023/TLST-
KDTM ngày 20/6/2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần”.
Ngày 29/01/2024, ông cùng ông Thanh L, Giám đốc, Người đại diện
theo pháp luật của Công ty S2 Văn bản thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần số 01/2020 ngày 05/11/2020". Ngày 24/4/2024, ông cùng ông L
“Biên bản xác nhận về việc đã thực hiện xong Văn bản thỏa thu hủy bỏ hợp
đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 29/01/2024". Theo các văn bản nói trên thì
kể từ 14 giờ 00 phút ngày 24/4/2024 và hiện tại ông trở lại cổ đông của Công
ty T4 theo số tiền ngày 22/7/2020 ông H2 người đại diện theo pháp luật
của Công ty T4 cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp của ông trong Công ty T4
20.750.000.000 đồng (hai mươi tỷ, bày trăm năm mươi triệu đồng), hình thức
góp vốn: Tiền mặt, thời điểm góp vốn: Tnh đến ngày 20/7/2020 theo Giấy
chứng nhận phần vốn góp Số 01/GCN-PSĐ ngày 22/7/2020 của Công ty T4:
Danh sách cổ đông Công ty T4 tnh đến ngày 05/8/2020; Biên bản họp Hội đồng
quản trị Công ty T4 ngày 05/8/2020. Đối với việc khởi kiện yêu cầu của bà
H, đề nghị Tòa án giải quyết đúng quy định của pháp luật.
Do hiện tại đang bị ốm, đi lại khó khăn nên không thể mặt theo Giấy
báo tham gia phiên tòa thẩm của Tòa án, bằng Văn bản này, ông đề nghị Tòa
án giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ đúng quyền
lợi ch hợp pháp của ông theo số cổ phần vốn góp của ông đang tại Công ty
16
T4 cho ông được phép vắng mặt tại phiên tòa ngày 29/11/2024 các phiên
tòa tiếp theo (nếu có).
- Tại bản tkhai đề ngày 01/10/2024, Công ty TNHH một thành viên S1
trình bày (BL: 845): Ngày 05/11/2020, Công ty S1 mua 3.600.000 cổ phần,
chiếm 30% vốn điều lệ ng ty của ông Đỗ Đình T2. Ngày 03/4/2023, Công ty
S1 khởi kiện Công ty T4 ra Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Ngày 28/9/2023,
Công ty S1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông Đỗ Đình T2
Tòa án đã ra quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này. Các tài liệu liên
quan Công ty đã cung cấp cho Tòa án trong hồ trước đây hiện tại Công ty
S1 không liên quan gì đến tranh chấp của Thị H mua cổ phần của ông
Nguyễn Quang H2. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thị H, đề nghị Tòa án
giải quyết theo pháp luật.
- Đối vi Phòng đăng kinh doanh- Sở Kế hoạch và đầu tỉnh Q: Quá
trình giải quyết ván, chỉ cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến tổ
chức, hoạt động của Công ty T4 theo yêu cầu của Tòa án, nhưng không văn
bản ý kiến về việc giải quyết vụ án, văn bản cử người tham gia tố tụng.
[5] Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2025/KDTM-ST
ngày 10-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 3 Điều 30; các
Điều Điều 227, 228; điều 48, điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219, khoản 2 Điều
273 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 117, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều
17, Điều 112, 113, 121, 126 Luật doanh nghiệp 2014; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án ph, lệ ph Tòa án; Xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H với bị đơn ông
Nguyễn Quang M về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày
30/6/2020.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H:
2.1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần lập ngày 01/5/2020
giữa ông Nguyễn Quang H2 bên chuyển nhượng với Lê Thị H bên nhận
chuyển nhượng hiệu lực đối với số cổ phần ông Nguyễn Quang H2 được
sở hữu hợp pháp 1.932.620 cổ phần tương ứng với số tiền 19.326.200.000,
chiếm tỷ lệ 16,1% trên tổng số vốn điều lệ 120 tỷ của Công ty cổ phần T4.
Đối với số cổ phần vượt quá quyền sở hữu của ông Nguyễn Quang H2 đã
chuyển nhượng cho Thị H là 8.273.800.000 đồng tương ứng với 6,9%
chiếm tỷ lệ 16,1% trên tổng số vốn điều lệ 120 tỷ của Công ty cổ phần T4 Phù
Sa Đ bị vô hiệu.
2.2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Nguyễn Quang
H2 phải trả lại cho Thị H tổng số tiền 12.341.751.666 đồng; trong đó
8.273.800.000 tiền gốc và 4.067.951.666 đồng tiền lãi.
17
2.3. Buộc Công ty Cổ phần T4 ngha vụ ghi nhận cách cổ đông của
Thị H theo số cổ phần 1.932.620 tương ứng với stiền 19.326.200.000,
chiếm tỷ lệ 16,1% trên tổng số vốn điều lệ 120 tỷ của Công ty.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên ván ph quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
[6] Kháng cáo:
Ngày 21-3-2025 ông Nguyễn Quang H2 làm đơn kháng cáo toàn bộ bản
án thẩm, nêu do kháng cáo Toà án cấp thẩm không xem xét khách
quan tài liệu chứng cứ; yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 21-3-2025 Công ty Cổ phần T4 kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
nêu do kháng cáo Toà án cấp thẩm không xem xét khách quan tài liệu
chứng cứ, yêu cầu sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 23-3-2025 Th H kháng cáo một phần bản án thẩm, nêu
do kháng cáo là không đồng ý với một phần nhận định và quyết định của bản án
sơ thẩm. Đề nghị kiến nghị Phòng đăng ký kinh doanh- Sở Tài chính tỉnh Q thực
hiện thủ tục thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bao gồm:
điều chỉnh vốn điều lệ phù hợp với thực tế theo báo cáo tài chnh; đồng thời
chuyển loại hình doanh nghiệp tCông ty cổ phần T6 trách nhiệm hữu hạn một
thành viên.
[7] Tại phiên toà phúc thẩm:
Ông Nguyễn Quang H2 Công ty Cổ phần T4 giữ nguyên kháng cáo.
Trình bày ý kiến scổ phần của ông H2 tại Công ty là tài sản chung của Vợ
chồng với bà Lê Th Mỹ L4 nhưng ông H2 chỉ một mình định đoạt là trái với quy
định tại Luật Hôn nhân Gia đình, không đảm bảo về mặt chủ thể giao kết
Hợp đồng. H đã lập Hợp đồng chuyển nhượng cho ông Đặng Quang V1
100% số cổ phần thì không còn là cổ đông công ty; chưa làm rõ yêu cầu về kiểm
toán số liệu đóng tiền mua cổ phiếu của cổ đông. Bản án thẩm không đưa
Th Mỹ L4 ông Đặng Quang V1 vào tham gia tố tụng thiếu sót. Toà án
thẩm xác định ông H2 là cổ đông duy nhất đóng tiền mua cổ phần vào
Công ty nhưng lại xác định ông H2 chiếm 16,1% cổ phần Công ty là mâu thun;
lấy số tiền ông H2 góp chia cho vốn điều lệ 120 tỷ để xác định ông H2 chiếm tỷ
lệ 16,1% không phù hợp vốn Điều lệ chỉ trên giấy tờ. Tại thời điểm hợp
đồng chuyển nhượng cổ phần thì công ty không còn công ty cổ phần D1
không đủ số cổ đông thối thiểu 03 người. Việc ký Hợp đồng chuyển nhượng,
giấy nhận tiền của ông H2 H chỉ hình thức, thực tế không việc giao
nhận tiền giữa các bên. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án thẩm, trả
hồ sơ về lại Toà án cấp sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
Người đại diện của Lê Th Hồng G nguyên kháng cáo, trình bày ý kiến
đnghị bổ sung kiến nghị, nếu không kiến nghị thì xác định cổ đông duy
nhất được quyền nhân danh Công ty T4 tiến hành nộp hồ thay đổi đăng
18
kinh doanh. Việc kiến nghị này là cần thiết vì ông Nguyễn Quang H2Công ty
T4 không thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp thì sẽ tiếp tục phát
sinh tranh chấp kéo dài, gây thiệt hại cho nguyên đơn. Ông H2 đứng tên cổ phần
thì ông H2 có quyền thực hiện giao dịch, giống như cổ phiếu hay tài khoản ngân
hàng, người nào đứng tên thì người đó đủ quyền để tự giao dịch. Bản chất
tranh chấp là Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giữa ông H2 H, hai bên
đều vào hợp đồng đã lập Giấy giao nhận tiền nên không thể cho chỉ
lập hình thức.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:
Về tố tụng: việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét
xử các bên đương sự đều được đảm bảo, phù hợp với các quy định của pháp
luật. Đây phiên toà lần thhai, người kháng cáo các bên đương sự đều
mặt và đã tham gia tranh tụng tại phiên toà.
Xem xét nội dung đơn kháng cáo: đây tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần, xác định có hợp đồng đã ký kết và giấy giao nhận tiền, như vậy
cần căn cứ vào hợp đồng để giải quyết, các vấn đề khác không liên quan. Bản án
kinh doanh thẩm đã tuyên xử căn cứ; kháng cáo của bđơn người
liên quan không schấp nhận, tại phiên toà phúc thẩm cũng không tài
liệu chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án, nên đề nghị không chấp nhận
kháng cáo, giữ nguyên Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, trên cơ sở nội dung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án được xác định mối
quan hệ tranh chấp giữa người chưa phải thành viên công ty nhưng giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
Tranh chấp giữa các bên được áp dụng Luật chuyên ngành là Luật Doanh
nghiệp năm 2014 để làm căn cứ giải quyết không áp dụng Luật Thương mại
năm 2005 bởi vì mối quan hệ tranh chấp phát sinh trong vụ án này không phải là
các hoạt động hoặc hành vì thương mại theo quy định của Luật Thương mại.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2023, thì đồng nguyên đơn trong vụ án
gồm Thị H Công ty TNHH một thành viên S1. Tuy nhiên, ngày
28/9/2023 Công ty TNHH một thành viên S1 đơn xin rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện đối với ông Đỗ Đình T2, cho nên Tòa án đã ban hành Quyết định đình
19
chỉ giải quyết vụ án số: 02/2023/QĐST-KDTM, ngày 02/10/2023 đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S1. Đến ngày 25/7/2024, nguyên đơn
Lê Thị H đã rút yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Nguyễn Văn M2.
Đối với Thị L1 Mai Thị L2, Tòa án cấp thẩm đã triệu tập
nhiều lần nhưng vn vắng mặt không do, cho nên Tòa án xét xử vắng mặt
là có căn cứ.
Đối với ông Nguyễn Quang H2, trong quá trình Tòa án thụ lại vụ án đã
ủy quyền cho ông Trần Văn H5 tham gia tố tụng, nhưng đến ngày 17/02/2025
ông H2 văn bản từ chối đối với người được ủy quyền vắng mặt tại phiên
tòa nhiều lần không do. Riêng đối với ông Nguyễn Quang M người
quyền lợi ngha vụ liên quan mặc được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng
đều vắng mặt không có lý do.
Vào ngày 10/3/2025 Hội đồng xét xử thẩm đã nhận được văn bản của
Lê Thị Mỹ L4, sinh năm 1985; địa chỉ Tổ dân phố A, phương Đ, thành phố Đ
tỉnh Quảng Bình trình bày với nội dung là vợ của ông Nguyễn Quang H2 đề
nghị Tòa án đưa vào tham gia tố tụng nhằm đảm bảo quyền và lợi ch hợp pháp
của trong quá trình giải quyết cổ phần của ông H2 tại công ty T4. Tại giai
đoạn phúc thẩm người kháng cáo cho rằng không đưa bà L5 người quyền
lợi ngha vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, xét thấy số cổ phần
chỉ đứng tên ông H2, không có tên bà L4, do đó ông H2 có quyền thực hiện giao
dịch dân sự số cphần này, không phụ thuộc vào L4. vậy, Toà án cấp
thẩm không chấp nhận đưa L4 vào tham gia tố tụng với tư cách người
quyền lợi và ngha vụ liên quan trong vụ án là có cơ sở.
Giữa H ông Đặng Hùng V2 mối quan hệ khác không liên quan
đến tranh chấp giữa H ông H2. Ông V2 cũng chưa tên thành viên
công ty.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Thị H đối với ông bđơn Nguyễn
Quang M liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng cổ phần vào ngày
30/6/2020 thì ngày 19/10/2023, H đã đơn xin rút yêu cầu khởi kiện. Xét
thấy việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tự nguyện, đúng quy định pháp
luật bị đơn ông M không yêu cầu phản tố, cho nên việc rút một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2] Công ty cổ phần T4 (gọi tắt Công ty) được thành lập vào ngày
15/9/2016 với loại hình Công ty cổ phần được Phòng Đăng kinh doanh -
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp có vốn điều lệ
30 tỷ đồng; trong đó 03 cổ đông sáng lập, cụ thể: ông Nguyễn Quang H2
sở hữu 45% cổ phần, Võ Thị L1 sở hữu 45% cổ phần, Mai Thị L2 sở hữu
10% cổ phần.
Đến ngày 05/7/2017, Công ty thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ
bằng nh thức chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu; trong đó ông Hải đăng
K mua 5.400.000 cổ phần, tương ứng với 45% vốn điều lệ; Thị L1 đăng
mua 45% cổ phần, Mai Thị L2 đăng mua 10% cổ phần. Tuy nhiên,
theo trình bày của Công ty, cũng như sổ sách kế toán chỉ thể hiện trong thời hạn
20
90 ngày, kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp, chỉ có ông H2 góp
3.050.000.000 đồng mua cổ phần tương ứng với 10,16% vốn điều lệ 30 tỷ, các
cổ đông còn lại chưa đóng cổ phần. Sau thời điểm Công ty đăng tăng vốn
điều lệ lên 120 tỷ vào ngày 05/7/2017, thì các cổ đông hiện hữu cũng không
mua số cổ phần đã đăng chỉ ông H2 nộp thêm số tiền 16.276.000.000
đồng để góp vốn vào Công ty T4.
Người kháng cáo cho rằng chỉ ông H2 nộp tiền nên phải xác định ông
H2 chiếm 100% cổ phần Công ty. Tuy nhiên, theo vốn điều lkhi thành lập
Doanh nghiệp 30 tỷ khi tăng n 120 tỷ thì tỷ lệ ông H2 nộp tương ứng
10,16% 16,1%, không sở xác định 100% cổ phần. Trong khi đó
Công ty vn đang hoạt động với loại hình Công ty cổ phần trên cơ sở Giấy phép
đăng ký kinh doanh của Cơ quan có thẩm quyền đang có hiệu lực pháp luật.
Tnh đến thời điểm ngày 01/5/2020, khi ông H2 chuyển nhượng cổ phần
cho bà H, thì ông H2 đã thanh toán mua cổ phần 3.050.000.000 đồng và góp vốn
vào Công ty với tổng số tiền 16.276.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền
16.276.000.000 đồng ông H2 góp vốn đã được Công ty hạch toán vào vốn
chủ sở hữu theo các báo cáo tài chnh qua các năm 2016, 2017, 2018, 2019,
2020 không hạch toán vào vốn vay. Do đó, đủ căn cứ xác định, tổng số
tiền ông H2 đã nộp sau 90 ngày kể từ ngày thành lập Công ty là 19.326.200.000
đồng, được xác định số tiền mua mới đối với số cổ phần được hạch toán vào
vốn của chủ sở hữu, cho nên toàn bộ số tiền này được xác định số cổ phần
hợp pháp của ông H2 hiện có tại Công ty, còn việc Công ty đã nhận tiền của ông
H2 nộp hạch toán vốn chủ sở hữu, nhưng không thực hiện ngha vụ điều
chỉnh số cổ phần ông H2 đã mua ghi tên của ông H2 vào số đăng cổ
đông vi phạm khoản 3 Điều 112, 121, Khoản 4, 5 Điều 124 Luật doanh
nghiệp, nhưng vi phạm này của Công ty cũng không làm mất đi quyền cđông
của ông H2.
vậy, đối chiếu với tổng số tiền ông H2 đã nộp 19.326.200.000
đồng, thì ông H2 được sở hữu hợp pháp 1.932.620 cổ phần, chiếm tỷ l16,1%
tnh trên tổng số vốn điều lệ 120 tỉ của Công ty ông H2 quyền chuyển
nhượng toàn bộ số cổ phần do mình nắm giữ trong Công ty theo quy định tại
điểm d khoản 1 Điều 114 và Điều 126 Luật Doanh nghiệp.
[3] Xem xét Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giữa ông H2 và bà H ngày
01/5/2020:
Ông Nguyễn Quang H2 và bà Lê Thị H xác lập Hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần số 05 ngày 01-5-2020 nội dung ông H2 xác định ông
có 5.400.000 cổ phần trong công ty, tương ứng với 54.000.000.000 đồng;
chuyển nhượng 2.760.000 cổ phần tương ứng với 27.600.000.000 đồng, chiếm
23% vốn điều lệ. Hợp đồng có nội dung Ông Nguyễn Quang H2 cam kết không
có bất kỳ một khiếu nại hoặc thắc mắc gì đối vi việc chuyển nhượng trên. Công
ty cam kết đã thanh toán đầy đủ quyền lợi nghĩa vụ cho ông Nguyễn Quang
H2”. Hợp đồng được đại diện theo pháp luật của Công ty T4 được đóng
dấu xác nhận; đồng thời ông H2 cũng đã Giấy nhận tiền vào ngày 01-5-2020
21
của Thị H với stiền 27.600.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng cổ
phần giữa ông H2 H được các bên xác lập vào ngày 01/5/2020 trên tinh
thần tự nguyện, không chứng cứ nào thể hiện bị lừa dối hoặc ép buộc như
ông H2 trình bày; cũng không tài liệu, giấy tờ nào thể hiện giả tạo, chỉ
hợp thức hóa thủ tục giấy thoạt động.vậy, đủ căn cứ xác định hợp đồng
được các bên xác lập đảm bảo về nội dung nh thức theo quy định tại Điều
117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự, cho nên đã phát sinh quyền ngha
vụ đối với các bên tham gia ký kết.
Tuy nhiên, tnh đến 01/5/2020 ông H2 chỉ mới thanh toán mua cổ phần
với số tiền 19.326.200.000 đồng, tương ứng 1.932.620 cổ phần (chiếm 16,1%
trên số vốn điều lệ 120 tỷ) nhưng lại chuyển nhượng cho H 2.760.000 cổ
phần giá trị 27,6 tỷ đồng vượt quá số cổ phần hiện của ông H2. Do đó,
H yêu cầu công nhận một phần hợp đồng hiệu lực đối với số cổ phần
ông H2 đang được sở hữu hợp pháp 1.932.620 cổ phần, tương ứng với số tiền
19.326.200.000 đồng, còn lại 8.213.800 cổ phần chiếm tỷ lệ 6,9% (23% - 16,1%
= 6,9%), tương ứng số tiền 8.273.800.000 đồng bị hiệu căn cứ nên cần
được chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết hậu quả đối việc
chuyển nhượng 8.213.800 cổ phần, tương ng số tiền 8.273.800.000 đồng bị
hiệu thấy rằng: Tại Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định“….phần giao dch dân
sự b hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dt quyền, nghĩa vụ dân sự
của các bên kể từ thời điểm giao dch dân sự được xác lập. Các bên khôi phục
lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt
hại thì phải bồi thường...”. Ông H2 người bán nên phải chịu trách nhiệm bảo
đảm về quyền tài sản mình bán, nhưng do ông H2 đã bán số cổ phần vượt
quá tổng số cổ phần của ông hiện tại Công ty, cho nên lỗi thuộc về ông H2.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên không thỏa thuận, thống nhất về lãi suất
chậm trả đối với số tiền giao dịch bị vô hiệu. Vì vậy, H yêu cầu buộc ông H2
phải ngha vụ hoàn trả số tiền gốc bị hiệu 8.273.800.000 đồng lãi
suất chậm trả 10%/năm, ktừ ngày ông H2 nhận đủ tiền của H (01/5/2020)
cho đến ngày xét xử sở thẩm 10/3/2025 04 năm 10 tháng 05 ngày căn cứ
và phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[5] Xét yêu cầu của bà H về buộc Công ty phải ngha vụ tiến hành
đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng kinh doanh với tổng số vốn
điều lệ 120 tỷ, thành 19.326.200.000 đồng; buộc chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp từ Công ty cổ phần T6 trách nhiệm hữu hạn một thành viên do bà Lê Thị
H chủ sở hữu, trường hợp Công ty không thực hiện thì kiến nghị hoặc quy
định H được phép nhân danh Công ty để tiến hành nộp hồ theo quy định
của Luật Doanh nghiệp 2020. Xét thấy vụ án được xác định mối quan hệ
“Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty, nhưng có giao dch về
chuyển nhượng phần vốn góp vi công ty, thành viên công ty”; đồng thời các
22
yêu cầu trên của H thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của quan
chuyên môn của Nhà nước. Do đó, sau khi bản án hiệu lực pháp luật thì các
bên đương sự quyền liên hệ các quan thẩm quyền để thực hiện quyền
và ngha vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục được quy định theo Luật doanh
nghiệp hiện hành, cho nên kháng cáo về nội dung này cũng không được chấp
nhận.
[6] Đối với yêu cầu của người kháng cáo đề nghị tiến hành kiểm toán để
làm rõ số vốn hiện của Công ty tnh đến thời điểm xét xử bao nhiêu nhằm
xác định số cổ phần của ông H2 nắm giữ tại Công ty; đây yêu cầu tại Toà
án cấp thẩm thì Công ty đã yêu cầu. Tuy nhiên, việc kiểm toán trong
trường hợp này Công ty phải tự thực hiện để làm tài liệu chứng cứ chứng minh
liên quan hay không đến tranh chấp cần thiết hay không đến việc giải
quyết vụ án. Đối với việc giải quyết tranh chấp trong vụ án này, pha Công ty đã
cung cấp được các báo cáo tài chnh từ năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020; trên
sở vốn Điều lệ, số tiền ông H2 đã nộp, xác định được số cphần ông H2
đang nắm giữ trong công ty đã đủ sở để giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua
bán cổ phần giữa ông H2 H. Do đó, Hội đồng xét xử thẩm căn cứ các
tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là đầy đủ.
[7] Đối với đề nghị của Công ty và ông H2 về việc tạm đình chỉ giải quyết
vụ án để chờ kết quả của quan Cảnh sát điều tra về việc giải quyết đơn tố
giác của bà H tố cáo ông H2 và ông M có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với
số tiền 18 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo Công văn trả lời của quan cảnh sát điều
tra tnội dung tố cáo của H chỉ liên quan đến hợp đồng mua bán Cổ phần
giữa các bên được xác lập vào ngày 30/6/2020 và không liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng giữa H với ông H2 vào ngày 01/5/2020. vậy, yêu cầu tạm
đình chỉ giải quyết vụ án là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.
[8] Đối với yêu cầu của bđơn Công ty ông H2 đề nghị đưa ông Đặng
Quang V1 tham gia vụ án với cách người quyền lợi và ngha vụ liên
quan, để làm nguồn gốc số cổ phần H đã chuyển nhượng. Tuy nhiên,
theo phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì Hội đồng xét xử chỉ xem
xét tnh hợp pháp đối với giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa H, ông H2
và Công ty được các bên ký kết vào ngày 01/5/2020 mà không xem xét gì thêm.
Trường hợp giữa ông V1 và bà H có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng của
các bên sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[9] Bản án thẩm đã đánh gtoàn diện các tài liệu chứng cứ, xem xét
toàn bộ các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án đã quyết định hợp lý. Vụ
án đã qua nhiều lần xét xử nhưng không thay đổi về bản chất nội dung của
tranh chấp; Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không chấp nhận các kháng
cáo, giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 03/2025/KDTM-ST
ngày 10-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Về án ph phúc thẩm: bà Lê Thị H phải chịu 2.000.000 đồng; ông
Nguyễn Quang H2 phải chịu 2.000.000 đồng; Công ty T4 phải chịu 2.000.000
đồng.
Vì các lẽ trên;
23
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không
chấp nhận các kháng cáo của Thị H, ông Nguyễn Quang H2 Công ty
cổ phần T4; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số
03/2025/KDTM-ST ngày 10-3-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
2. Về án ph phúc thẩm:
Công ty cổ phần T4 phải chịu án ph kinh doanh thương mại phúc thẩm
2.000.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án ph đã
nộp theo Biên lai thu số 0005315 ngày 26-03-2025 của Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Quảng Bình.
Ông Nguyễn Quang H2 phải chịu án ph kinh doanh thương mại phúc
thẩm 2.000.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án
ph đã nộp theo Biên lai thu số 0005314 ngày 26-03-2025 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Bình.
Lê Thị H phải chịu án ph kinh doanh thương mại phúc thẩm là
2.000.000 đồng; được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án ph đã
nộp theo Biên lai thu số 0005321 ngày 27-03-2025 của Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Quảng Bình.
3. Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ II-TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Long
24
Tải về
Bản án số 11/2025/KDTM-PT Bản án số 11/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2025/KDTM-PT Bản án số 11/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất