Bản án số 109/2020/DS ngày 17/06/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 109/2020/DS

Tên Bản án: Bản án số 109/2020/DS ngày 17/06/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 109/2020/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Thanh L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 109/2020/DS - PT
Ngày: 17-6-2020
V/v: “Tranh chấp chia thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
Ông Lê Phước Thanh
Ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 126/2020/TLPT-DS ngày 03
tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế.
Do Bản án dân sự thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2019
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 861/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 6
năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Nguyễn Th A; cư trú tại: thành phố Hồ Chí Minh.
Vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền của A:
- Nguyễn Thị H; địa chỉ liên hệ: phường B, thị A, tỉnh Bình Định.
mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N; địa chỉ liên hệ: thành ph Hồ Chí Minh.
mặt.
(Văn bản ủy quyền ngày 22/10/2019 của A).
* Bị đơn: Ông Nguyễn n D (Nguyễn Văn H hay D anh); cư t tại:
phường B, thị A, tỉnh Bình Định. mặt.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn D; cư trú tại: USA. Vắng mặt.
2
2. Bà Nguyễn Thị S (X); cư trú tại: USA. Vắng mặt.
3. Nguyễn Th Tuyết N; trú tại: Snhà 19 đường T, phường B, thị
A, tỉnh Bình Định. mặt.
4. Ông Nguyễn Văn S; cư trú tại: USA. Vắng mặt.
Người đại diện y quyền của ông D, S, ông S: Bà Nguyễn Thị H (Văn
bản ủy quyền ngày 22/9/2019 của ông D; ngày 12/9/2019 củaS; ngày
19/11/2019 của ông S). mặt.
5. Nguyễn Thị H; cư t tại: S nhà 19, đường T, phường B, thị xã A,
tỉnh Bình Định. mặt.
6. Ông Nguyễn Văn D (D em); cư t tại: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng
mặt.
Người đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn D (em):
- Nguyễn Thị H; địa chliên hệ: Snhà 19 T, phường B, thị xã A, tỉnh
Bình Định. mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N; địa chỉ liên hệ: thành phHồ Chí Minh.
mặt.
(Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2019 của ông D).
7. Ông Nguyễn Thành C; cư t tại: phường B, thị A, tỉnh Bình Định.
mặt.
8. Chị Nguyễn Thị Thanh L; trú tại: tnh phố Hồ Chí Minh. mặt.
9. Chị Nguyễn Thị Thanh T. Vắng mặt.
10. A Nguyễn Thanh T. Vắng mặt.
Cùng cư trú tại: phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
11. ChịThị Đ. Có mặt.
12. Cháu Nguyễn Văn T. Vắng mặt.
13. Cháu Nguyễn Thị T1. Vắng mặt.
Đều trú tại: phường B, thị A, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn n T cháu Nguyễn
Văn T1: ChLê Thị Đ (mẹ của 02 cháu). Có mặt.
14. Nguyễn Thị A. Vắng mặt.
15. Chị Nguyễn Thị Thảo N. Có mặt.
16. A Nguyễn Đ. mặt.
Đều cư trú tại: phường B, thị xã A, tỉnhnh Định.
Người đại diện theo ủy quyền của A, chị N: Ông Nguyễn Văn D (D
anh), sinh m 1952; ttại: phường B, thị xã A, tỉnhnh Định (văn bản ủy
quyền ngày 08/6/2020). Có mặt.
* Người kháng cáo: Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Thanh L là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
* N đơn bà Nguyễn Thị A trình bày:
Cha mẹ bà cụ Nguyễn H (chết năm 1964), cụ Lê Thị T (chết năm 2016)
có 09 người con gồm:
1. Nguyễn Thị N (chết năm 2011) có chồng là Nguyễn Thanh C (chết năm
1968) 05 người con là: Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị Thanh L, Nguyễn Thị
Thanh T, Nguyễn Thanh T Nguyễn Thanh Q (chết năm 2018) vợ Thị
Đ và 02 con là: Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1;
2. Nguyễn Văn D;
3. Nguyễn ThS;
4. Nguyễn Thị Tuyết N;
5. Nguyễn ThH;
6. Nguyễn ThA;
7. Nguyễn Văn D (H; D anh);
8. Nguyễn Văn S;
9. Nguyễn Văn D (D em);
Di sản cha mẹ để lại gồm:
Nhà, đất tại số 51 đường Q, thị xã A, tỉnh Bình Định
Nhà, đất tại số 316-318 T, thị A, tỉnh Bình Định (gồm 02 căn liền
nhau).
Cha mẹ bà chết không để lại di chúc.
Nguồn gốc nhà, đất tại số 316 - 318 đường T, thửa đất số 176, tờ bản đồ số
10, diện tích 246,9m
2
(trong đó 140m
2
đất 106,9m
2
đất trồng cây lâu năm)
trước đây số 280 đường T, thị trấn B, huyện A (nay phường B, thị A) là
của bà nội Trần Thị T mua của cụ Nguyễn Doãn C (hiện cụ C đã chết).
Nguồn gốc nhà, đất tại số 51 đường Q, phường B, thị A do cha mẹ
mua của chủ hiệu buôn H Lợi (đã chết) khi mua giấy tờ nhưng bà không
giữ giấy tờ này.
Nhà, đất lại số 51 đường Q, phường B hiện do ông Nguyễn Văn D (H hay
D anh) quản lý, sử dụng vào khoảng năm 1990 - 1992, khi đó trên đất đã có ngôi
nhà lầu 1 mê, nhà xây dựng trên hết diện tích đất. Quá trình sử dụng nhà, ông D
sửa chữa hay không, sửa chữa những hạng mục nào, sửa chữa năm nào chi
phí bao nhiêu không biết nhưng chị Nguyễn Thị S biết vì S người
chuyển tiền về cho ông D sửa chữa nhà.
Nhà, đất tại số 316 - 318 đường T không ai ở. Khoảng tháng 6/2018, bà
dọn về tại căn số 316 đồng thời sửa chữa lại cửa, quét vôi, sửa công trình phụ,
mắc điện, nước với tổng s tiền khoảng 150.000.000 đồng. Nguồn tiền sửa chữa
nhà do các anh chị em đóng góp, trong đó: ông Nguyễn Văn D góp 20.000.000
đồng, Nguyễn Thị S đóng góp 50.000.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết N
30.000.000 đồng, Nguyễn Thị A góp 10.000.000 đồng, Nguyễn Thị H
4
10.000.000 đồng, Nguyễn Văn S 20.000.000 đồng, 05 người con của Nguyễn
Thị N góp 10.000.000 đồng.
yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại gồm nhà, đất tại số
316-318 đường T nhà, đất tại số 51 đường Q, thị A, tỉnh Bình Định cho tất
cả các thừa kế. và 05 người mà bà nhận ủy quyền yêu cầu được nhận hiện vật
nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 316 - 318 đường T nhà đất tại số
51 đường Q, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định đồng thời thanh toán lại gtrị
cho ông D (anh) số tiền 150.000.000 đồng sửa chữa ngôi nhà số 316 đường T, bà
yêu cầu Tòa giải quyết trả lại cho để trả lại cho các anh, chị em đã đóng
góp.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn D (anh) trình bày:
Ông thống nhất như trình bày của bà A về mối quan hệ gia đình, hàng thừa
kế thứ nhất, di sản cha mẹ để lại. Cha ông chết không để lại di chúc nhưng mẹ
ông di chúc lập ngày 14/3/2011, chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn
B. Nội dung di chúc, mông giao cho ông được toàn quyền sử dụng nhà đất lại
số 316 - 318 đường T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Nhà, đất tại số 13 đường Q (nay số 51, đường Q, phường B, thị A)
mẹ ông các chị em đã đồng ý cho ông quản lý, sử dụng từ năm 1964. Quá
trình quản sử dụng, ông đã sửa chữa, xây dựng mới nhiều lần nhưng không ai
phản đối, Năm 1990, vợ các con ông về tại nhà đất này cho đến nay. Năm
2000, ông đập bỏ toàn bộ ngôi nhà cũ để xây dựng lại theo Giấy phép xây dng
số 58/GPXD ngày 19/6/2000. Năm 2010 ông tiếp tục nâng cấp sửa chữa thêm
theo Giấy phép xây dựng số 260/GPXD ngày 01/10/2010). Tổng số tiền xây
dựng gần 2.000.000.0000 đồng là tiền của vợ chồng. Ông không nhận tiền của bà
S để sửa chữa nhà.
Nhà, đất tại số 318 đường T, ông sử dụng làm nhà kho chứa phụ kiện làm
hoa tươi. Quá trình quản nhà, ông đã sửa chữa 03 lần gồm các hạng mục như:
Chống thấm, xây mới công trình phụ, nhà vệ sinh, nhà tắm, đập bỏ mê chống
thấm đổ lại mới, sửa chữa thay cửa, quét vôi, điện nước san lấp mặt
bằng phía sau diện tích 40m
2
. Tổng chi phí 1.000.000.0000 đồng.
Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị A mẹ ông khi
còn sống đã lập di chúc đề ngày 14/3/2011, chứng thực của Ủy ban nhân dân
thị trấn B. Nội dung di chúc, mẹ ông giao cho ông được toàn quyền sử dụng nhà
đất tại số 316 - 318 đường T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, còn nhà, đất tại
số 51 đường Q ông đã quản từ năm 1964 đến nay đã sửa chữa làm mới
nhiều lần nhưng các chị em không ai ý kiến nên nhà, đất thuộc quyền s
hữu và sử dụng của ông.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Nguyễn Thị H, chị Thị Đ trình bày: Thống nhất theo lời trình bày
5
của bà A.
- A Nguyễn Thanh T trình bày: Nguồn gốc ngôi nhà số 51 đường Q của
mẹ anh Nguyễn Thị N xây dựng năm 1964, xây dựng phần phía trước như
hiện nay (Phòng khách) với số tiền bao nhiêu anh không biết, sau đó ông D (D
anh) xây dựng thêm phần phía sau và đổ thêm 01 mê.
Hiện nay anh không chứng cứ nhưng những người làm chứng, anh
sẽ cung cấp họ, tên, địa chỉ cho Tòa vào ngày 10/11/2019.
A yêu cầu Tòa giải quyết buộc người nào sở hữu ngôi nhà số 51 đường Q,
phường B, thị A, tỉnh nh Định thì thanh toán lại giá trị phần nmà mẹ anh
xây dựng cho các anh chị em anh.
* Tại Bản án dân sự thẩm s01/2019/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm
2019 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:
1. C nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A
về việc chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn H, cụ Thị T đối với nhà, đất tại số
316-318 T (số cũ là 280 đường T), thửa đất số 176 tbản đồ số 10, phường B, thị
A nhà đất tại số 51 đường Q (số cũ là 13 đường Q), thửa đất số 130, t bản
đồ số 7, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
2. Giao ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 51 đường Q (s
là 13 Q), thửa số 130, tờ bản đồ số 07, diện tích 136,2m
2
(diện tích đo đạc thực tế
131,5m
2
) cho ông Nguyễn Văn D (anh) tiếp tục sở hữu, sử dụng (riêng phần nhà
thuộc quyền sở hữu của ông D (anh) và bà Nguyễn Thị A).
(Có sơ đồ nhà, đất kèm theo)
3. Giao ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 316-318 (số
280), đường T, thửa đất số 176, t bản đsố 10, diện tích 246,9m
2
(trong đó
140m
2
đất 106,9m
2
đất trồng cây lâu năm), diện tích đo đạc thực tế 250,6m
2
(trong đó đất 140 m
2
; đất trồng cây lâu năm 110,6 m
2
), phường B, thị A cho
ông Nguyễn Văn D (anh) tiếp tục sở hữu sử dụng.
(Có sơ đồ nhà, đất kèm theo)
4. Buộc ông Nguyễn Văn D (anh) phải thanh toán cho c thừa kế số tiền
cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn D (D em),
Nguyễn Thị S (X) mỗi người 434.531.429 đồng.
Nguyễn ThTuyết N, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị A mỗi người
199.710.000 đồng.
A Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị Thanh L, chị Nguyễn Thị Thanh T,
anh Nguyễn Thanh T mỗi người 86.906.286 đồng.
Chị Thị Đ, cháu Nguyễn Văn T cháu Nguyễn Th T1, mỗi người
28.968.762 đồng (cháu T cháu T1 còn nhỏ nên chị Đ người quản số tiền
của 02 cháu).
6
Ngoài ra bản án thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét thm
định tại chđịnh giá tài sản, quyền kháng cáo thi hành án theo quy định
của pháp luật.
- Ngày 09 tháng 12 m 2019, Nguyễn Thị H kháng cáo bản án
thẩm: Yêu cầu hủy di chúc ngày 14/3/2011; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho ông Nguyễn Văn D đối với nhà, đất số 51 Q; chia toàn bộ tài sản của
cụ H, cụ T cho các đồng thừa kế; xác định lại giá trị của hai ngôi nhà tại 316-318
đường T số 51 đường Q, phường B, thị A, tỉnh Bình Định; giao căn nhà
316 đường T cho nguyên đơn để làm nhà thờ, do H đại diện đứng tên giao
nhà số 318 cho bà H.
- Ngày 19 tháng 12 năm 2019, Nguyễn Thị Thanh L kháng cáo bản án
thẩm: Yêu cầu hủy bản án dân sự thẩm; không công nhận di chúc ngày
14/3/2011; không công nhận hợp đồng tặng cho nhà ở, xác lập ngày 07/10/1999;
chia toàn bộ tài sản của cụ H, cụ T cho các đồng thừa kế.
Tại phiên a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Thanh L; Giữ nguyên bản án thẩm. Tuy
nhiên, trong vụ án một số đương slà người cao tuổi, thuộc đối tượng miễn,
giảm án phí, nên đnghị sửa lại phần án phí dân sự thẩm theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được xem xét
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Xét thấy:
[1] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Thanh L; nhận
thấy:
[1.1] Về di sản thừa kế: Các đương sự đều thống nhất vợ chồng cụ Nguyễn
H, Lê Thị T lúc còn sống đã tạo lập được khối tài sản sau:
- Nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 316-318 T (số cũ là 280 đường
T), phường B, thị A, tỉnh Bình Định, được UBND huyện A (nay UBND thị
A) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số
H03250/QSDD/I9 ngày 07/10/2008 cho cụ Lê Thị T và cụ Nguyễn H (chết); diện
tích 246,9m
2
(trong đó 140m
2
đất ở và 106,9m
2
đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa
đất số 176 tờ bản đồ số 10, phường B, thị xã A.
- Nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 51 đường Q (số cũ là 13 đường
7
Q) thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 7, phường B, thị xã A hiện do ông Nguyễn
Văn D (D anh) đang quản lý sử dụng.
[1.2] Đối với ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 316-318 T,
phường B, thị xã A, nguồn gốc do vợ chồng cụ Thị T, Nguyễn H mua của
vợ chồng cNguyễn Doãn C, Nguyễn Thị Khanh vào năm 1954. Năm 1964
cụ H chết. Năm 1971, cụ T có đơn xin phép xây dựng nhà ở và được chính quyền
cho phép. Như vậy, ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất số 176, tờ bản đồ số 10
là tài sản riêng của cụ T.
- Vngôi nhà diện tích 250,6m
2
xây dựng trên thửa đất số 176, bà A
khai nhà bỏ không, không ai nên khoảng tháng 6/2018 dọn về tại căn s
316, đồng thời sửa chữa một số hạng mục như: Quét vôi, sửa công trình phụ,
điện, nước với tổng số tiền 150.000.000 đồng. Nguồn tiền sửa chữa là do các anh
chị em của đóng góp, trong đó: Ông Nguyễn n D 20.000.000 đồng,
Nguyễn Thị S 50.000.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết N 30.000.000 đồng,
Nguyễn Thị A 10.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H 10.000.000 đồng, ông Nguyễn
Văn Son 20.000.000 đồng 05 người con của Nguyễn Thị N 10.000.000
đồng, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh. Tại Biên bản định giá
19/4/2019, ông D (anh) xác nhận nhà có sửa chữa vào năm 2002-2003, đồng thời
cung cấp Giấy xác nhận thi công sa chữa nhà 280 T của ông Phan Văn Long,
ông Lâm Thái Hòa là người thi công từ ngày 09/7/2003 đến ngày 29/9/2003, nên
có căn cứ xác định ngôi nhà nêu trên sửa chữa vào năm 2002- 2003; thời điểm
này cụ T n sống nên việc ông D (anh) cho rằng tiền sửa chữa ncủa ông
nhưng ông không chứng minh được; Do đó án thẩm xác định tiền sửa chữa
nhà là của cụ T; ông D (anh) chỉ là người trông coi, khi đó ông ở chung với cụ
T, nên đây là tài sản riêng của cT là có căn cứ.
- Ngày 14/3/2011, cụ Thị T lập Bản di chúc để lại căn nhà gắn liền với
quyền sử dụng đất tại s316-318 T, phường B, thị A cho ông Nguyễn Văn D
(anh), được UBND thị trấn B chứng thực với nội dung như sau: “Ngôi nhà và đất
nói trên do tôi và chồng tôi tạo lập hơn 40 năm nay.... Nay tôi thấy các con tôi, ai
cũng nhà ổn định, cuộc sống kinh tế vững vàng. Trong c tinh thần còn
minh mẫn, sáng suốt, không có sự ép buộc nào nên tôi quyết định lập bản di chúc
này để lại một phần tài sản nhà đất nói trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng
của tôi phần tôi được thừa kế theo pháp luật của chồng tôi cho con tôi
Nguyễn Văn D (anh) được trọn quyền sở hữu và sử dụng”.
Nguyễn Thị A không thừa nhận di chúc nêu trên của cụ T theo bà,
lại thời điểm cụ T lập di chúc, cụ T bị bệnh tai biến nên không còn minh mẫn,
nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh tại thời điểm lập di chúc cụ T
đã mất năng lực hành vi dân sự. Di chúc của cụ T lập 02 người làm chứng là
ông n D ông Nguyễn Phúc S xác nhận; Ông S ông D đều không
8
quan hệ con với cụ T chỉ hàng m. Hai người làm chứng đều khai
trước khi vào bản di chúc của cụ T, cán bộ phường B đọc nội dung của di
chúc cho các ông cụ T nghe, cụ T gật đầu điểm chỉ vào di chúc được
UBND thị trấn B chứng thực. Như vậy, theo quy định tại Điều 655, 656, 657,
659 và 660 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì di chúc của cụ T là hợp pháp.
Do đó, Hội đồng xét xphúc thẩm không căn cứ chấp nhận kháng cáo
yêu cầu hủy di chúc lập ngày 14/3/2011 của Nguyễn Thị H Nguyễn Thị
Thanh L.
[1.3] Đối với nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 51 đường Q, thuộc
thửa số 130, tờ bản đồ s 7, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- A và các con của Nguyễn Thị N Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị
Thanh L, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyn Thanh T đều khai đất là của vợ chồng cụ
T mua, khi mua trên đất căn nhà cấp 4; đến năm 1971, N đã bỏ tiền xây
thêm một tầng để ở. Tuy nhiên bà A các con N không đưa ra được chứng
cứ chứng minh cho lời khai của mình căn cứ. Do đó, án thẩm xác định
nhà, đất tại số 51 đường Q, thửa đất số 130, tờ bản đồ số 7, phường B, thị xã A
tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn H, Lê Thị T là có căn cứ.
- Ngày 07/10/1999, cụ Thị T lập Hợp đồng cho nhận nnày cho
ông Nguyễn Văn D (anh) và được UBND huyện A chứng thực.
- Ngày 02/11/1994, Nguyễn Thị Tuyết N lập Giấy đồng thuận cho nhà,
với nội dung thống nhất với mẹ và các anh chị em cho căn nhà cho vợ chồng ông
Nguyễn Văn D (anh), Nguyễn Thị A trọn quyền sở hữu sử dụng ngôi nhà
13 (nay số 51) Q, thị trấn B. Giấy đồng thuận này được chính quyền địa
phương xác nhận.
- Ngày 04/9/1999, bà Nguyễn Thị H Đơn khước từ quyền hưởng di sản
thừa kế; trong đó H nhường quyền hưởng di sản thừa kế của cụ Nguyễn H
cụ Thị T đối với ngôi nhà số 13 (nay số 51) Q, thị trấn B cho ông Nguyễn
Văn D (anh).
- Ngày 06/9/1999, Nguyễn Thị A cùng đơn khước từ quyền hưởng
di sản thừa kế đối với ngôi nhà số 13 Q nhường lại phần tài sản này cho ông
Nguyễn Văn D (anh).
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, các Nguyễn Thị H,
Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị A cho rằng tại thời điểm các lập các n
bản nêu trên nhằm mục đích để cho ông D (anh) hợp thức hóa thủ tục xin cấp
GCNQSDĐ, nhưng ông D (anh) không thừa nhận các không chứng minh
được chỉ nhằm hợp thức hóa thủ tục xin cấp GCNQSDĐ; vì vậy theo quy định tại
Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 1995, N, H A được xem đã từ chối
việc nhận di sản đối với phần di sản của cụ H tại nhà và đất số 51 đường Q,
phường B, còn cụ T lúc này đang còn sống nên chưa phát sinh việc thừa kế di sản
9
của cụ T.
Tuy nhiên xét thấy nhà và đất tại số 51 đường Q là tài sản chung vợ chồng
của cụ T và cụ H (cụ H chết năm 1964) nhưng cụ T làm hợp đồng tặng cho toàn
bộ nhà, đất nêu trên không đúng, do đó hợp đồng tặng cho nêu trên chỉ hiệu
lực một phần đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ T, phần tài sản còn
lại di sản của cụ H sđược chia thừa kế theo pháp luật, như án thẩm xác
định là có căn cứ, đúng pháp luật.
Mặt khác, ông Nguyễn Văn D tại căn nhà này từ năm 1990, hiện trạng
nhà lúc này nhà lầu một mê, xây dựng chưa hết diện tích đất. Đến năm 2000,
do nhà hỏng nặng, nên vchồng ông D đập phá nhà xây dựng lại nhà mới
theo Giấy phép xây dựng số 58/GPXD ngày 19/6/2000. Năm 2010, ông D tiếp
tục nâng cấp sửa chữa (các hạng mục, diện tích, số tầng theo Giấy phép xây dựng
số 260/GPXD ngày 01/10/2010). Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản ngày 19/4/2019 các bên đương sự thống nhất ngôi nhà được xây dựng
năm 2000. Án thẩm xác định nhà do vợ chồng ông D (anh), Nguyễn Thị
A xây dựng toàn bộ nên ngôi nhà tài sản chung của vợ chồng ông D (anh)
chỉ chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ H cho cụ T 06 người con (ngoài
H, bà N và bà A đã từ chối hưởng di sản và đã nhượng phần cho ông D); gồm:
N, S, ông D, ông S, ông D (anh) ông D (em) căn cứ, đúng pháp
luật.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không căn cứ chấp nhận
kháng cáo yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho nhà của cụ Thị T lập ngày
07/10/1999, của bà Nguyễn ThH và bà Nguyễn Thị Thanh L.
[1.4] Về kháng cáo yêu cầu định giá lại hai ngôi ntại 316-318 đường T
số 51 đường Q, phường B, thị A, tỉnh Bình Định; xét thấy: Tại Biên bản
định giá ngày 19/4/2019; Hội đồng định giá đúng thành phần theo quy định; tài
sản được định giá theo giá thị trường tại thời điểm Nguyễn Thị H mặt
nhưng cũng không ý kiến gì. Mặt khác sau khi định giá tài sản, ngày
07/5/2019 Tòa án thẩm tiến hành phiên họp công khai chứng cứ hòa giải,
các đương sự đều thống nhất kết quả định giá tài sản. Do đó không căn cứ để
chấp nhận yêu cầu định giá lại tài sản của bà Nguyễn Thị H.
[1.5] Về kháng cáo yêu cầu được nhận nhà đất tại số 316-318 T, phường
B, thị A của Nguyễn Thị H; nhận thấy: Căn nhà, đất tại số 316-318, đường
T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định; xét thấy ông D (anh) được thừa kế theo di
chúc của cụ T được chia thừa kế theo pháp luật của cụ H nên chiếm phần lớn
trong tổng giá trị khối di sản. Bà A, H đã chỗ ổn định, nên Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu của ông D (anh), giao toàn bộ nhà 316-318 đường T,
phường B cho ông D sở hữu, đồng thời buộc ông D phải thanh toán gtrị cho
các thừa kế phù hợp thực tế đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét
10
xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo yêu cầu được nhận
nhà đất tại số 316-318 T, phường B, thị A của bà Nguyễn Thị H.
[1.6] Về nội dung kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho ông Nguyễn Văn D đối với nhà, đất s 51 Q; xét thấy: Trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, c đương strong vụ án không yêu
cầu giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn
D đối với nhà, đất số 51 Q Tòa án sơ thẩm cũng không xem xét nội dung này;
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ xem xét nội dung kháng cáo
này của bà H.
Như vậy, theo nhận định tại các mục [1.1], [1.2], [1.3], [1.4],[1.5] [1.6]
nêu trên; Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Thanh L; giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm s 01/2019/DS-ST ngày 05/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Định.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự là người cao tuổi không
đơn đ nghị miễn, giảm án phí theo quy định tại Điều 14 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, nên
không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí; chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ định giá tài sản; quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất phát
sinh do chậm trả tiền không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về chi phí định giá bổ sung:
- Ông Nguyễn Văn D (anh), ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị S (X),
ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn D (em), Nguyễn Thị Tuyết N,
Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị A mỗi người phải chịu 667.000 đồng.
- A Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị Thanh L, chị Nguyễn Thị Thanh T,
anh Nguyễn Thanh T, chị Lê Thị Đ mỗi người phải chịu 133.000 đồng.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên
Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1. Bác kháng cáo của Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Thanh L; giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 645, 655, 656, 657, 659 và Điều 660 Bộ luật dân sự
1995; các Điều 623, 649 và Điều 651 Bộ luật dân sự 2005; Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
A về việc chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn H, cụ Thị T đối với nhà, đất tại
11
số 316-318 T (số cũ là 280 đường T), thửa đất số 176 tờ bản đồ số 10, phường B,
thị A nhà đất tại số 51 đường Q (số 13 đường Q), thửa đất số 130, tờ
bản đồ số 7, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Giao ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 51 đường Q (số cũ là
13 Q), thửa số 130, tờ bản đồ số 07, diện tích 136,2m
2
(diện tích đo đạc thực tế
131,5m
2
) cho ông Nguyễn Văn D (anh) sở hữu, sử dụng (riêng phần nhà thuộc
quyền sở hữu của ông D (anh) và bà Nguyễn Thị A).
(Có sơ đồ nhà, đất kèm theo)
- Giao ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất tại số 316-318 (số cũ 280),
đường T, thửa đất số 176, tờ bản đồ số 10, diện tích 246,9m
2
(trong đó 140m
2
đất
106,9m
2
đất trồng cây lâu năm), diện tích đo đạc thực tế 250,6m
2
(trong đó
đất 140 m
2
; đất trồng cây lâu năm 110,6 m
2
), phường B, thị A cho ông
Nguyễn Văn D (anh) sở hữu, sử dụng.
(Có sơ đồ nhà, đất kèm theo)
- Buộc ông Nguyễn Văn D (anh) phải thanh toán cho các thừa kế số tiền
cụ thể như sau:
+ Ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn D (D em), bà
Nguyễn Thị S (X) mỗi người 434.531.429 đồng.
+ Bà Nguyễn Thị Tuyết N, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị A mỗi người
199.710.000 đồng.
+ Anh Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị Thanh L, chị Nguyễn Thị Thanh
T, anh Nguyễn Thanh T mỗi người 86.906.286 đồng.
+ Chị Thị Đ, cháu Nguyễn Văn T cháu Nguyễn Thị T1, mỗi người
28.968.762 đồng (cháu T cháu T1 còn nhỏ nên chị Đ người quản số tiền
của 02 cháu).
2. Về chi phí định giá bổ sung:
- Ông Nguyễn Văn D (anh), ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị S (X),
ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Văn D (em), Nguyễn Thị Tuyết N,
Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị A mỗi người phải chịu 667.000 đồng.
- A Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị Thanh L, chị Nguyễn Thị Thanh T,
anh Nguyễn Thanh T, chị Lê Thị Đ mỗi người phải chịu 133.000 đồng.
Nguyễn Thị H đã nộp 6.000.000 đồng, nên ông Nguyễn Văn D (anh),
ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị S (X), ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn
Văn D (em), bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị A mỗi người phải hoàn trả
cho Nguyễn Thị H 667.000 đồng. A Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị
Thanh L, chị Nguyễn Thị Thanh T, anh Nguyễn Thanh T, chị Thị Đ mỗi
người phải hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H là 133.000 đồng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy
12
định về mức thu, miễm, giảm thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; đã nộp đủ tại
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003767 ngày 24/12/2019 của
Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định (do ông Nguyễn Thành C nộp thay).
Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; đã nộp đủ
tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003770 ngày 26/12/2019 của
Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
4. Các Quyết định khác về án phí dân sự thẩm; chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ định giá tài sản; quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được thi hành theo Bản án sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày
05/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Bình Định;
- VKSND tỉnh Bình Định;
- Cục THADS tỉnh Bình Định;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tào
Tải về
Bản án số 109/2020/DS Bản án số 109/2020/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất