Bản án số 106/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 106/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 106/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 106/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Vũ Thị Chung yêu cầu Công ty TNHH Yến Ngân trả tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TP. BUÔN MA THUỘT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số:106/2024/DS-ST
Ngày 09- 07 2024
“V/v Đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Hưng
2. Bà Trần Thị Liên
- Thư phiên tòa: Bà Đinh Thị Quyên- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Không tham gia
phiên tòa.
Trong các ngày 05 ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thẩm thụ
số: 743/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa ván ra
xét xử số: 49/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 04 năm 2024 Quyết định hoãn
phiên tòa số 71/QĐST-DS ngày 16 tháng 05 năm 2024 Quyết định hoãn phiên
tòa số 82/QĐST-DS ngày 06 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Vũ Thị C, sinh năm 1957(Vắng mặt).
Địa chỉ: 41 P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người được ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm: 1994
(Có mặt)
Đa ch: C22 đưng H, phưng T, thành ph B, tỉnh Đk Lk.
2.Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng Y
Đại diện theo pháp luật- ông Trương Quang L(Vắng mặt).
Địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
-Người đưc ủy quyn của b đơn: Ông Nguyn Hu Đ, sinh năm; 1973(Vng mt)
Địa ch: 24 N, phường T, thành phB, tnh Đắk Lk.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1Ông Nguyn Hu Đ, sinh năm: 1973 (Vắng mt)
Địa ch: 24 N, phường T, thành phB, tnh Đắk Lk
3.2 Ông Tơng Quang V- sinh năm: 1978( đơn xin xét xử vng mặt)
Địa ch: 114 T, tnh phố B, tỉnh Đắk Lk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1].Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa người
2
được ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Khoảng năm 2004, 2005 Công ty TNHH xây dựng Y (đại diện ông Nguyễn
Hữu Đ, Giám đốc công ty Yến Ngân tại thời điểm đó) vay Thị C một
khoản tiền tài sản vàng để mua xe lu máy i phục vụ cho hoạt động xây
dựng công ty, cụ thể:
- Năm 2004, Công ty Yến Ngân vay số tiền là 300.000.000 đồng.
- Năm 2005, Công ty Yến Ngân tiếp tục vay 10 cây vàng bốn số 9999, quy đổi
ra tiền mặt tại thời điểm hiện tại tương đương số tiền là 690.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Công ty TNHH xây dựng Y còn nợ bà C 990.000.000
đồng. lúc cho vay mượn tiền vàng trên thì ông Đ thời điểm đó con rể làm
giám đốc đến năm 2012, còn từ năm 2012 đến nay thì ông Trương Quang L
chồng làm giám đốc, nên lúc đó cho vay mượn là mẹ, con nên không viết giấy vay
mượn.
Đến ngày 26/9/2023, C đã gửi văn bản thông báo xác nhận công nợ yêu
cầu Công ty TNHH xây dựng Y hoàn trả tiền, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
nhận được thông báo phía Công ty TNHH xây dựng Y phải thanh toán toàn bộ số
nợ trên cho C. Sau khi nhận được thông báo, Công ty TNHH xây dựng Y đ
nghị C chuyển đơn cho ông Đ xác nhận khoản vay giữa C với công ty. Ngay
sau đó, ông Đ cũng đã xác nhận còn nợ bà C số tiền là 990.000.000 đồng có chữ ký
xác nhận của ông Đ và Công ty TNHH xây dựng Y.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cam kết trong thời hạn 10 ngày sẽ
cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ là bản tổng hợp công nợ từ năm 2027 có ch
xác nhận của ông Nguyễn Hữu Đ đóng dấu của Công ty TNHH xây dựng Y.
Tuy nhiên đại diện ủy quyền của nguyên đơn không cung cấp được bản gốc tài liệu
này cung cấp bản gốc tổng hợp công nợ t năm 2027 chữ của ông
Nguyễn Hữu Đ đề nghị Tòa án giải quyết, đồng thời cho rằng bản gốc tổng hợp
công nợ từ năm 2027 là do ông Nguyễn Hữu Đ viết nhầm năm 2027.
Do đã quá thời hạn trả nợ nhưng Công ty TNHH xây dựng Y vẫn chưa thanh
toán nợ cho Vũ Thị C.
vậy, C đã khởi kiện ra Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đề
nghị Tòa án xét xử tuyên:
- Buộc Công ty TNHH xây dựng Y trả cho Thị C 300.000.000 đồng
10 cây vàng 9999.
- Buộc Công ty TNHH xây dựng Y phải trả lãi phát sinh theo quy định của
pháp luật 10%/năm đối với khoản tiền nêu trên (từ ngày 26/9/2023 đến nay). Số
tiền lãi tạm tính đến nay khoảng 12.100.000 đồng.
2. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hữu Đ trình bày:
Vào thời điểm năm 2004 2005 tôi (Nguyễn Hữu Đ) giám đốc Công ty
TNHH xây dựng Y, từ thời điểm năm 2012 đến nay thì ông Trương Quang L là
giám đốc của Công ty TNHH xây dựng Y. Tôi khẳng định thời điểm năm 2004
2005 tôi đại diện theo pháp luật của công ty không vay khoản tiền 300.000.000
đồng 10 cây vàng 9999 của Thị C theo như nội dung khởi kiện. Yêu cầu
Thị C cung cấp tài liệu chứng cứ gốc liên quan đến khoản nợ này. Nếu là
khoản vay của Công ty TNHH xây dựng Y thì Công ty TNHH xây dựng Y sẽ trả
cho bà Vũ Thị C, nếu là khoản vay của cá nhân tôi thì cá nhân tôi sẽ có nghĩa vụ trả
3
cho bà C. Trường hợp bà C không chứng minh được nội dung khoản nợ nói trên đề
nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị C.
3.Ngƣời quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu Đ trình
bày:
Đối với với nội dung khởi kiện của Thị C yêu cầu Công ty TNHH y
dựng Y trả số tiền 300.000.000 đồng 10 cây vàng 9999 của bà Thị C thì ông
Trương Quang L chỉ đạo tôi xem xét yêu cầu C cung cấp giấy vay mượn
tiền này. Đồng thời tại thời điểm này ông L giám đốc Công ty TNHH xây dựng Y
đề nghị tôi tổng hợp các khoản nợ của Công ty TNHH xây dựng Y bảo tôi
đưa khoản tiền vay của C vào, nếu C không chứng cứ giấy vay ợn thì
không trả. Theo lệnh của ông L thì tôi đã lập bản tổng hợp công nợ mà bên nguyên
đơn cung cấp để trình ông L xem tôi đã lập tên thành viên công ty. Do
C không cung cấp được giấy vay mượn năm 2004 và năm 2005 nên yêu cầu của
C là không có cơ sở. Số liệu trong bản tổng hợp công nợ mà bà C cung cấp cho Tòa
án là không có giá trị.
Ông Trương Quang L Thị C vchồng nhưng đã ly thân hơn 10
năm nay. Tôi con rể của ông L, C từ năm 1999 đến năm 2012 thì ly hôn. Đối
với ông Trương Quang V hiện nay chưa phải thành viên Công ty TNHH xây
dựng Y.
4.Ngƣời quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trƣơng Quang V trình
bày:
Tôi con ruột của ông Trương Quang L Thị C. Công ty TNHH xây
dựng Y 3 thành viên gồm ông Trương Quang L, ông Nguyễn Hữu Đ ông
Trương Quang V.
Vào năm 2004 và 2005 tôi được biết Công ty TNHH xây dựng Y vay mượn
300.000.000 đồng 10 cây vàng 9999 của bà Thị C để mua xe lu xe ủi của
Công ty TNHH xây dựng Y. Giữa ông Đ và ông L có lập bản tổng hợp công nợ của
Công ty TNHH xây dựng Y trong đó khoản nợ của C. Bản tổng hợp công nợ
của ông L ông Đ chữ đống dấu của Công ty TNHH xây dựng Y nhưng
thiếu chữ của tôi nên ông Đ đã liên hyêu cầu tôi lên Công ty TNHH xây
dựng Y xác nhận và biên bản họp thành viên. Bản tổng hợp công nợ này để chốt
số liệu.Vì vậy, C khởi kiện buộc Công ty TNHH xây dựng Y phải trả
300.000.000 đồng và 10 cây vàng 9999 thì tôi xác định là Công ty TNHH xây dựng
Y nợ Thị C C. Tôi cung cấp cho Tòa án 02 bản án liên quan đến thành
viên Công ty TNHH xây dựng Y.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là “Kiện đòi tài sản
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
4
Đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn Thị C thì nguyên đơn xác
định khi vay không giấy tvay. Tuy nhiên sau khi Thị C gửi thông
báo ngày 26/9/2023 yêu cầu Công ty TNHH xây dựng Y trả nợ thì ông Trương
Quang L đóng dấu bản tổng hợp công nợ hiện nay Công ty TNHH xây
dựng Y đang giữ bản tổng hợp trên không cung cấp được bản gốc cho Tòa án
bản tổng hợp công nợ tnăm 2027 chữ đóng dấu giám đốc Công ty TNHH
xây dựng Y. Nguyên đơn chỉ cung cấp bản xác nhận công nợ từ năm 2027 chỉ
chữ của ông Nguyễn Hữu Đ là thành viên Công ty TNHH xây dựng Y sau
ngày 26/9/2023 mà ông Nguyễn Hữu Đ đã thừa nhận.
Hi đồngt thy: Trong bản tổng hợp công nợ tnăm 2027 chỉ chữ của
ông Nguyễn Hữu Đ là thành viên Công ty TNHH xây dựng Y ký sau ngày
26/9/2023 có ghi khoản nợ của bà C là tiền tiền mặt, xe lu và bản tổng hợp công nợ
trên nội dung ghi chú: Trong các khoản nợ trên, ông L sẽ trách nhiệm làm
việc xin giảm tiền lãi phát sinh của khoản nbên đơn vị nhà nước. Ông Đ trách
nhiệm thương lượng giảm lãi các đơn vị tư nhân và cá nhân.
Các thành viên góp vốn tại Công ty thống nhất các khoản nợ nêu trên đồng
ý thanh toán các khoản nợ này khi sang nhượng toàn bộ tài sản công ty”.
Như vậy giữa ông Nguyễn Hữu Đ ông Trương Quang L đã thừa nhận lập
danh sách đối với các khoản vay theo bản tổng hợp công nợ từ năm 2027 cho đến
nay của Công ty TNHH xây dựng Y xin giảm lãi các đơn vị tư nhân nhân
để thống nhất các khoản nợ trên và đồng ý thanh toán các khoản nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy tờ xác nhận nợ trên phù hợp với yêu cầu khởi
kiện của Thị C trong bản tổng hợp công nợ từ năm 2027 cho đến nay đều
ghi khoản nợ của C phù hợp với lời khai của ông Trương Quang V thành
viên Công ty TNHH xây dựng Y cũng xác nhận Công ty TNHH xây dựng Y
nợ số tiền 300.000.000 đồng và 10 cây vàng 9999 của C vào năm 2004 và 2005.
Do vậy xét yêu cầu khởi kiện của Thị C căn cứ nên cần buộc Công ty
TNHH xây dựng Y phải trả 300.000.000 đồng 10 cây vàng 9999 cho Thị
C là có căn cứ chấp nhận.
[3].V lãi sut: Thị C yêu cu buc Công ty TNHH xây dựng Y phải
tính lãi t ngày 26/9/2023 đến ngày 05/7/2024 cho C 09 năm 21 ngày. Theo
giá vàng ti Trung tâm kim hoàn PNJ Buôn Ma Thut thì giá vàng 9999PNJ bán ra
là 7.600.000 đồng/ch quy ra: 10 cây vàng 9999= 760.000.000 đồng; tính lãi cụ thể:
300.000.000 đồng x 10/%/năm x 09 tháng 21 ngày = 24.249.000đồng
Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Thị C, Hội đồng xét xxét
thấy: Đây hợp đồng vay tài sản tuy nhiên đã quá thời hạn tranh chấp hợp đồng
vay theo Bluật dân s nên xác định đây là vụ án tranh chấp đòi tài sản nên không
chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà Vũ Thị C theo quy định là 24.249.000đồng
[4]. Về án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận
nên bị đơn Công ty TNHH xây dựng Y phải chịu án phí theo quy định của pháp
luật cụ thể: Như vậy:
36.000.000 đồng + (200.060.000 đồng x 3%)= 42.001.000 đồng án phí dân s
sơ thẩm.
5
Bà Vũ Thị C phi chu án phí dân s sơ thẩm đối vi s tin lãi 24.249.000 đồng
do bị bác yêu cầu. Tuy nhiên Thị C người cao tuổi đơn xin miễn tiến án
phí nên bà Thị C đưc min tin án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết
s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm b khoản 2
Điều 227 của B luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 256, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015;
Căn cứ Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Vũ Thị C về việc:
-Buộc Công ty TNHH xây dựng Y phải trả số tiền 300.000.000 đồng và 10 cây
vàng 9999 cho Vũ Thị C.
-Bác một phần yêu cầu khởi kiện của Thị C về việc buộc Công ty
TNHH xây dựng Y phải trả 24.249.000 đồng tiền lãi xuất kể từ ngày 26/9/2023 đến
ngày 05/7/2024.
K t ngày đơn yêu cu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phi thi hành án n phi chu khon tin lãi ca s tin
phi thi hành án theo mc lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 B lut dân
s năm 2015.
[2]. V án phí dân s: B đơn Công ty TNHH xây dng Y phi np:
42.001.000 đồng án phí dân s sơ thẩm.
Thị C đưc min tin án pdân s theo điểm đ khoản 1 Điu 12
Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc
hi.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Đương sự vng mt ti phiên tòa quyn kháng cáo trong thi hn 15 ngày
k t ngày nhận được bn án hc niêm yết bn án hp l.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut
thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
6
hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7 và 9 Lut thi hành án
dân s; thi hiu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành
án dân s.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương s; THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
-VKSND Tp. BMT; (Đã ký)
- Chi cc THADS Tp.BMT;
- P. Kiểm tra - TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phạm Văn Vĩ
Tải về
Bản án số 106/2024/DS-ST Bản án số 106/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 106/2024/DS-ST Bản án số 106/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất