Bản án số 106/2023/DS-PT ngày 22/03/2023 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 106/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 106/2023/DS-PT ngày 22/03/2023 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 106/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lý Văn T và Lầu Thị Mai L tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 106/2023/DS-PT
Ngày: 22-3-2023
V/v tranh chấp đòi tài sản
quyền sử dụng đất yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH
TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán: Ông Hà Chí Quốc;
Bà Võ Thị Hồng Mai.
- Thư phiên tòa: Thị Oanh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07, 17 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sTòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh, t xử công khai v án dân sự phúc thẩm thụ số:
14/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp đòi tài sản
quyền sử dụng đất yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”.
Do Bn án dân sự sơ thẩm s: 141/2022/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022,
của Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2023/QĐ-PT ngày 01
tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Văn T, sinh năm 1991; trú tại: Số nhà A1 đường
NQ, ấp TA, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Quốc P,
Luật của Công ty Luật TNHH MTV NQ, thuộc Đoàn Luật Thành phố Hồ
Chí Minh; có mặt.
2
- Bị đơn: Chị Lầu Thị Mai L, sinh năm 1971; trú tại: Đường TP, ấp TH,
TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền; có mặt tại phiên tòa ngày
22-3-2023.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Trần Vi Anh T, sinh năm
1973; cư trú tại: Ấp NB, xã BN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1983; trú tại: Ấp
TH, xã ĐK, huyện CT, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người kháng cáo: Anh Văn T nguyên đơn, chị Lầu Thị Mai L bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh
Văn T trình bày:
Ngày 19/7/2017, anh T nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 179,9
m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại ấp TH, TT, thị xã HT, tỉnh Tây
Ninh của ông Nguyễn Văn H. Hai bên lập hợp đồng tại Văn phòng Công chứng
Nguyễn Gia T, gchuyển nhượng 500.000.000 đồng, trên đất 01 căn n
cấp 4. Anh T đã giao đủ tiền cho ông H, hiện tại ông H đã chết, không xác định
được người thân.
Sau khi kết hợp đồng chuyển nhượng, ông H đã bàn giao nhà đất cho anh
T quản . Ông H còn nhờ anh T cho chị Lầu Thị Mai L nhờ một thời gian để
chị L tìm chỗ khác, chị L cam kết sẽ trả lại nhà đất khi anh T yêu cầu hoặc khi
chị L kiếm được chỗ ở mới.
Anh T được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp GCNQSDĐ
số: CS0832 ngày 13/4/2018. Tháng 5 năm 2018, anh T có liên hệ với chị L về việc
đòi lại nhà đất thì chị L nói miệng xin cho thuê nhà để ở, gthuê mỗi tháng
500.000 đồng chị L chưa tìm được chỗ mới, chị L cam kết sẽ đóng tiền nhà
đầy đủ sẽ trả lại nhà đất cho anh T. Khi nào anh T cần sử dụng hay lấy lại nhà
thì thông báo cho chị L biết một thời gian hợp lý, chị L sẽ dọn đi trả lại nhà đất
cho anh T. Vì là chỗ quen biết nên anh T đồng ý cho chị L thuê nhà.
Tuy nhiên trong khoảng thời gian thuê nhà, chị L đã vi phạm cam kết v
nghĩa vụ trả tiền thuê nhà hàng tháng như hai bên đã thỏa thuận, anh T đã nhiều
lần yêu cầu chị L trả lại nhà đất nhưng chị L vẫn không trả lại nhà đất.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, anh
T không yêu cầu chị L phải trả tiền thuê nhà, anh yêu cầu chị L phải nghĩa vụ
3
di dời toàn bộ đồ dùng sinh hoạt để trả lại cho anh T một phần đất một căn nhà
cấp 4 nằm trên phần đất diện tích 179,9 m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa
lạc tại ấp TH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn chị Lầu Thị Mai L người đại diện theo ủy quyền của chị L anh
Trần Vi Anh T trình bày:
Nguồn gốc phần đất diện tích 179,9 m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đsố 34 tọa
lạc tại ấp TH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh là do cha mẹ của chị L tặng cho chị
L. Ngày 20/12/2014, chị L vay của ông Nguyễn Văn H số tiền 200.000.000
đồng, lúc này chị L đang đứng tên phần đất này nên giữa chị L ông H làm
hợp đồng chuyển nhượng phần đất với thỏa thuận nếu sau y chL trả lại cho
ông H tiền gốc tiền lãi thì ông H sẽ hủy hợp đồng kết giữa chL ông H,
tuy nhiên đến nay tchị L vẫn chưa trả nợ cho ông H. Việc anh T đứng tên phần
đất này thì chị L hn toàn không biết, khi anh T khởi kiện yêu cầu chị L trả lại
nhà đất này thì chị L mới biết ông H đã chuyển nhượng nhà đất này cho anh T.
Chị L xác định không thuê nhà của anh T với giá mỗi tháng 500.000.000 đồng
như Thanh trình bày. Mặt khác, vào thời điểm năm 2014, trị giá nhà đất của chị L
trên một tỷ đồng thì không thể nào chị L chuyển nhượng cho ông H với giá
200.000.000 đồng và chị L cùng các con đã sinh sống trên nhà đất này từ khi được
cha mẹ cho đất trực tiếp trông coi, quản nhà đất này không bị ai tranh
chấp, hiện tại ông H đã chết, không xác định được người thân của ông H.
Nay anh T khởi kiện yêu cầu chị L có nghĩa vụ di dời đến nơi khác trả lại cho
anh T một phần đất một căn nhà cấp 4 nằm trên phần đất diện tích 179,9 m
2
,
thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị HT, tỉnh Tây
Ninh thì chị L không đồng ý vì chị L sinh sống trên nhà đất này đã lâu. Đồng thời
chị L Đơn phản tố yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa chị L với ông H được lập tại Văn phòng Công chứng Tây Ninh
ngày 20/12/2014 và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông H anh T được lập tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Gia Thôn ngày
19/7/2017 để chị L được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị L đồng ý
giao lại cho anh T số tiền chị L vay của ông H 200.000.000 đồng số tiền anh T
nhận chuyển nhượng đất của ông H 500.000.000 đồng, tổng cộng chị L đồng ý
giao cho anh T số tiền 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng.
Ti Bn án dân s sơ thm số: 141/2022/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022, của
Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Văn T đối với chị Lầu Thị
Mai L yêu cầu chị L di dời toàn bộ đồ dùng sinh hoạt trong gia đình đến nơi khác
4
trả lại cho anh T quyền sử dụng đất diện tích 179,9 m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ
số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lầu Thị Mai L đối với ông Nguyễn
Văn H.
Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Lầu
Thị Mai L với ông Nguyễn Văn H đã được Văn phòng Công chứng Tây Ninh
chứng nhận ngày 20/12/2014, số công chứng 10.273, quyển số 16 TP/CC-
SCC/HĐGD, nội dung chị Lầu Thị Mai L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H
diện tích 179,9 m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị
HT, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn H đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp ngày 11/02/2015.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Lầu Thị Mai L đi với anh Lý Văn T.
Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa ông
Nguyễn Văn H với anh Văn T đã được Văn phòng Công chứng Nguyễn Gia T
chứng nhận ngày 19/7/2017, số công chứng 4.741, quyển số 09 TP/CC-
SCC/HĐGD, nội dung ông Nguyễn Văn H chuyển nhượng cho anh Lý Văn T diện
tích 179,9 m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ s34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị
HT, tỉnh Tây Ninh do anh Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cấp ngày 13/4/2018.
4. Chị Lầu Thị Mai L được quyền sử dụng một phần đất diện tích 179,9 m
2
,
thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị HT, tỉnh Tây
Ninh do anh Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp ngày 13/4/2018. Phần đất có tứ cận như sau:
+ Đông giáp đường Trần Phú, dài 7,03 m;
+ Tây giáp đường 10m, dài 25,18 m;
+ Nam giáp thửa 164, dài 4,7 m; giáp thửa 559, dài 8,72 m + 1,54 m + 15,58
m.
+ Bắc giáp thửa 268, dài 6,62 m.
sở hữu một căn nhà cấp 4, móng tông đà kiềng, nền gạch men, cửa đi
sắt xây dựng, tường xây gạch quét sơn nước, cột gạch, kèo đòn tay gỗ xây dựng,
trần tole lạnh, mái tole có diện tích 108 m
2
.
Chị Lầu Thị Mai L có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của Luật Đất đai.
5. Buộc chị Lầu Thị Mai L nghĩa vụ trả cho anh Văn T số tiền
1.656.000.000 (Một tỷ sáu trăm năm mươi sáu triệu) đồng.
5
6. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của anh Văn T yêu cầu chị
Lầu Thị Mai L trả số tiền thuê nhà tạm tính 9.500.000 (Chín triệu năm trăm
nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
theo quy định ca pháp luật.
Ngày 13/12/2022, anh Văn T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh, buộc chị
Lầu Thị Mai L trả cho anh T phần đất diện tích 179,9 m
2
, trên đất 01 căn
nhà cấp 4, thuộc thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị
HT, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 13/12/2022, chị Lầu Thị Mai L kháng cáo, yêu cầu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chỉ đồng ý trả cho anh T số tiền
700.000.000 đồng, không đồng ý trả cho anh T số tiền 1.656.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu kháng cáo. Bị đơn chị L và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn- anh
Tuấn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của chị L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng theo yêu cầu của nguyên đơn
chị Nguyễn Thị Thu N trình bày: Chị Ngưng là người môi giới trong việc mua bán
nhà đất. Khi chị Lầu Thị Mai L nhờ chị giới thiệu người mua nhà, đất của chị L
thì chị đã gặp anh T giới thiệu. Sau khi anh T đồng ý nhận chuyển nhượng thì chị
anh T cùng gặp chị L xem giấy tờ nđất, thấy GCNQSDĐ tên ông H thì
chị L nói ông H quan hệ anh em cùng mẹ khác cha với chị L, chị L để ông H
đứng tên GCNQSDĐ ông H sẽ ra công chứng HĐCNQSDĐ khi hai bên
thỏa thuận thống nhất việc chuyển nhượng. Lời trình bày của anh T đúng sự
thật, chị người dẫn anh T đi mua nhà, đất của chị L chị được nhận tiền hoa
hồng khi giới thiệu. Viêc chị L nói không biết anh T là không đúng.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn - Luật Trương
Quốc Phòng trình bày luận cứ bảo vệ:
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T và ông H hoàn toàn
hợp pháp phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T đã được quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải
quyết vụ án tại phiên tòa, anh T trình bày đúng với thực tế đã xảy ra được
người làm chứng xác nhận. Bản án thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh T phiến diện, không căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của anh T. Cấp thẩm chấp nhận lời trình bày của Liên, nhận định
Liên vay của ông H 200.000.000 đồng nhưng không chứng cứ gì chứng
minh. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn nhận định giá đất chuyển nhượng trong hợp đồng
6
không đúng với giá đất thực tế, chỉ căn cứ vào các xác minh không sở đ
tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Liên với ông H tuyên hiệu
hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H anh T không căn cứ. trước khi
ông H chuyển nhượng đất cho anh T thì ông H đang thế chấp giấy CNQSDĐ đ
vay tiền tại Ngân hàng. Liên biết tham gia trong việc chuyển nhượng
này, sau khi anh T và ông H HĐCNQSDĐ thì bà Liên còn thỏa thuận xin được
chuộc lại đất trong vòng 03 tháng. Liên khai không biết anh T ai, không
thỏa thuận gì với anh T và cố tình không tham dự phiên tòa đã thhiện sự gian dối
của Liên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của anh T, buộc ch L di dời đồ đạc, giao trả nhà, đất cho anh T.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 22-3-2023 bị đơn chị L trình bày bổ sung ý
kiến của người đại diện: Chị không chuyển nhượng đất cho ông H; do chị cần tiền
nhưng không vay được nên làm hợp đồng chuyển nhượng đất sang tên ông H, chị
vay của ông H 200.000.000 đồng, sau đó nhờ ông H vay tiền Ngân hàng; đến hạn
không tiền trả ông H nên mới vay tiền của anh T. Chị tên vào hợp đồng
vay tiền của anh T 500.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất. Nên chị không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh T buộc chdi dời đồ đạc, giao nhà, đất cho
anh T. Chị yêu cầu Hội đồng xét x tuyên bố hiệu các hợp đồng chuyển
nhượng đất giữa chị với ông H và giữa ông H với anh T. Chị đồng ý trả cho anh T
số tiền vay 500.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ngày 22-3-2023, anh T ý kiến: Anh thỏa thuận nhận
chuyển nhượng đất với ông H, việc này chị L cũng biết, sau khi anh hợp
đồng chuyển nhượng với ông H xong ngày 19-7-2017, thì ngày 20-7-2017 chị L
gặp anh thỏa thuận xin chuộc lại đất sau 03 tháng; nhưng do không am hiểu pháp
luật anh mớiHợp đồng vay tiền ngày 20-7-2017 với chị L. Nay anh đồng ý với
ý kiến của chị L tại tòa.
Sau khi thỏa thuận, các đương sự thống nhất như sau:
- Anh T, chị L thống nhất hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa chị Lầu Thị Mai L với ông Nguyễn Văn H tại Văn phòng Công chứng
Tây Ninh ngày 20/12/2014 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Nguyễn Văn H với anh Văn T tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Gia T
ngày 19/7/2017.
- Chị Lầu Thị Mai L được quyền sử dụng phần đất diện tích 179,9 m
2
, được
sở hữu một căn nhà cấp 4 diện tích 108 m
2
thuộc thửa đất số 555, tờ bản đồ số
34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh do anh Văn T đứng tên
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 13/4/2018.
7
- Chị Lầu Thị Mai L có nghĩa vụ trả cho anh Lý Văn T số tiền 1.067.800.000
(Một t không trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm nghìn) đồng; trong đó: Tiền gốc
500.000.000 đồng tiền i 567.800.000 đồng (500.000.000 đồng x
1,67%/tháng x 68 tháng).
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử
quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung,
thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa thực
hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng
đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
Về nội dung: Do các đương sự thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án
tại phiên tòa phúc thẩm và thỏa thuận của các đương stự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật không trái đạo đức hội, nên đề nghị Hội đồng xét
xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở ni dung v án, căn cứ vào các tài liu, chng c đã được xem
xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tha thun của các đương s tại phiên tòa và
ý kiến ca đại din Vin kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thm, các bên đương sự đã tự nguyn tha thuận như
sau:
[1.1] Các đương sự thống nhất hủy bỏ các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, cụ thể:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Lầu Thị Mai L với ông
Nguyễn Văn H đã được Văn phòng Công chứng Tây Ninh chứng nhận ngày
20/12/2014, số công chứng 10.273, quyển số 16 TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung chị
Lầu Thị Mai L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H diện ch 179,9 m
2
, thửa
đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh do
ông Nguyễn Văn H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
ngày 11/02/2015.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H với
anh Văn T đã được Văn phòng Công chứng Nguyễn Gia Thôn chứng nhận
ngày 19/7/2017, số công chứng 4.741, quyển số 09 TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung
ông Nguyễn Văn H chuyển nhượng cho anh Lý Văn T diện tích 179,9 m
2
, thửa đất
số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh do anh
Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày
13/4/2018.
8
[1.2] Chị Lầu Thị Mai L được quyền sdụng một phần đất diện tích 179,9
m
2
, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, TT, thị HT, tỉnh Tây
Ninh do anh Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp ngày 13/4/2018. Phần đất có tứ cận như sau:
+ Đông giáp đường Trần Phú dài 7,03 m;
+ Tây giáp đường 10m dài 25,18 m;
+ Nam giáp thửa 164 dài 4,7m; thửa 559, dài 8,72 m + 1,54 m + 15,58 m.
+ Bắc giáp thửa 268 dài 6,62 m.
Chị L được sở hữu một căn nhà cấp 4, móng bê tông đà kiềng, nền gạch men,
cửa đi sắt xây dựng, tường xây gạch quét sơn nước, cột gạch, kèo đòn tay gxây
dựng, trần tole lạnh, mái tole có diện tích 108 m
2
.
[1.3] Chị Lầu Thị Mai L nghĩa vụ trả cho anh Văn T số tiền
1.067.800.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm nghìn) đồng;
trong đó: Tiền gốc 500.000.000 đồng tiền lãi là 567.800.000 đồng
(500.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 68 tháng).
[2] Về chi phí tố tụng khác: Anh Văn T chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng
chi phí đo đạc, định giá. Ghi nhận anh T đã nộp và thanh toán xong.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của luật và không trái đạo đức hội. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự; sửa bản án thẩm. Đề nghị của kiểm sát viên tại
phiên tòa là phù hợp.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Văn T phải chịu án phí dân sự thẩm đối với việc hủy các hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử đất.
Chị Lầu Thị Mai L phải chịu án phí đối với nghĩa vụ thanh toán tiền vay.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh T và chị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm cho yêu cầu kháng cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
9
1. Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hi
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm;
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 141/2022/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022,
của Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, cụ thể
như sau:
2.1 Các đương sự thống nhất hủy bỏ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, cụ thể:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Lầu Thị Mai L với
ông Nguyễn Văn H đã được Văn phòng Công chứng Tây Ninh chứng nhận ngày
20/12/2014, số công chứng 10.273, quyển số 16 TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung chị
Lầu Thị Mai L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H diện ch 179,9 m
2
, thửa
đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh do
ông Nguyễn Văn H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
ngày 11/02/2015.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H với
anh Văn T đã được Văn phòng Công chứng Nguyễn Gia Thôn chứng nhận
ngày 19/7/2017, số công chứng 4.741, quyển số 09 TP/CC-SCC/HĐGD, nội dung
ông Nguyễn Văn H chuyển nhượng cho anh Lý Văn T diện tích 179,9 m
2
, thửa đất
số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh do anh
Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày
13/4/2018.
2.2 Chị Lầu Thị Mai L được quyền sử dụng phần đất diện tích 179,9 m
2
, thửa
đất số 555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị HT, tỉnh Tây Ninh do
anh Văn T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày
13/4/2018. Phần đất có tứ cận như sau:
+ Đông giáp đường Trần Phú dài 7,03 m;
+ Tây giáp đường 10m dài 25,18 m;
+ Nam giáp thửa 164 dài 4,7m; thửa 559, dài 8,72 m + 1,54 m + 15,58 m.
+ Bắc giáp thửa 268 dài 6,62 m.
Chị L được sở hữu một căn nhà cấp 4, móng bê tông đà kiềng, nền gạch men,
cửa đi sắt xây dựng, tường xây gạch quét sơn nước, cột gạch, kèo đòn tay gxây
dựng, trần tole lạnh, mái tole diện tích 108 m
2
, trên phần đất thuộc thửa số
555, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp TH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
10
Chị L được quyền liên hvới các quan Nhà nước thẩm quyền để xin
cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dng đất.
Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quyết định của bản án.
2.3 Chị Lầu Thị Mai L nghĩa vụ trả cho anh Văn T s tiền
1.067.800.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm nghìn) đồng;
trong đó: Tiền gốc 500.000.000 đồng tiền lãi 567.800.000 đồng
(500.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 68 tháng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về chi phí tố tụng khác: Anh Văn T chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng chi
phí đo đạc, định giá. Ghi nhận anh T đã nộp và thanh toán xong.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm; khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 537.000 đồng theo Biên lai thu số 0008264
ngày 09/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã a Thành, tỉnh Tây Ninh.
Hoàn trả cho anh T 237.000 (Hai trăm ba mươi bảy nghìn) đồng.
Chị Lầu Thị Mai L phải chịu 44.034.000 đồng án phí dân sự thẩm; khấu
trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0020938 ngày 30/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị Hòa Thành, tỉnh
Tây Ninh. Chị L còn phải nộp tiếp số tiền 43.734.000 (Bốn mươi ba triệu bảy trăm
ba mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; khấu trừ
tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số: 0021170
ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh
Tây Ninh.
Chị Lầu Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; khấu
trừ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số: 0021169
ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh
Tây Ninh.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
11
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV.TAT;
- TAND thị xã Hòa Thành;
- CCTHADS thị xã Hòa Thành;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Thị Kim Sang
Tải về
Bản án 106/2023/DS-PT Tây Ninh Bản án 106/2023/DS-PT Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 106/2023/DS-PT Tây Ninh Bản án 106/2023/DS-PT Tây Ninh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất