Bản án số 104/2025/KDTM-PT ngày 28/04/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đại diện, đại lý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 104/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 104/2025/KDTM-PT ngày 28/04/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đại diện, đại lý
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đại diện, đại lý
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 104/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: đại lý hàng hóa
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Mai Thị Thanh Tú
Các Thẩm phán:
1/ Ngô Thị Phúc Hảo
2/ Ông Huỳnh Ngọc Quyên
- Thư phiên tòa: Hồ Thị Kim Oanh- Thư ký Tòa án ghi bn bn
phiên tòa.
- Đại diện Viện Kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ
số: 76/KDTMPT ngày 24/02/2025 về việc:” Tranh chấp hợp đồng đại phân
phối”
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 198/2024/KDTM-ST ngày
21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1937/2025/XX-PT
ngày 08/4/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ng ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam;
Địa chỉ: Cao ốc Shetaron, số 88 đường K, phường N, Quận M, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Ni đi din hp pp ca nguyên đơn:
Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm: 1993; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: S1, đường số 3, khu phố 39, phường C, thành phố Đ, Thành
phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền số: 02602.2/2025/GUQ ngày 26 tng 02 năm 2025).
Bị đơn: Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M;
Địa chỉ: Thôn 1 Trung Hòa, T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
Bà Lê Thị T, sinh năm: 1962. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 104/2025/KDTM-PT
Ngày: 28 - 4 - 2025.
V/v tranh chấp hợp đồng
Đại lý phân phôi.
CNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lp - Tdo - Hạnh pc
2
Giấy đăng ký doanh nghiệp số: 2801944349, đăng lần đầu ngày 01
tháng 02 m 2013, đăng thay đổi lần th1 ngày 04 tháng 11 m 2013 do
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hoá cấp.
Do có kháng cáo của Bị đơn Công ty Tuệ M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:}
* Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 6 năm 2022 và quá trình tham gia
tố tụng, người đại diện hợp pháp ca nguyên đơn trình bày:
Ngày 31 tháng 12 năm 2018, Chi nhánh Công ty TNHH Nước giải khát S
Việt Nam tại Nội (gọi tắt Chi nhánh Công ty S) ng ty TNHH Dịch vụ
Thương mại Tổng hợp Tuệ M (gọi tắt Công ty Tuệ M) ký hợp đồng đại phân
phối sản phẩm số: LDMS.117.2018.0016 (gọi tắt hợp đồng), để bị đơn nhận
phân phối sản phẩm cho Chi nhánh Công ty S theo phụ đính 1 đính kèm danh
mục sản phẩm nước giải khát được cung cấp cho bị đơn mang nhãn hiệu Pepsi,
7Up, Mirinda, Evervess, Aquafina, Sting,Bị đơn mua sn phẩm và thanh toán
cho Chi nhánh Công ty S theo các hình thức thanh toán trong phụ đính 3 - quản
lý công nợ. Đồng thời, bị đơn cam kết thực hiện việc bán sản phẩmng ngày cho
c điểmn trong tuyến bán hàng trong bản đồ khu vực được thống nhất theo phụ
đính 2 khu vực và kế hoạch tuyến đường bên bán hàng đính kèm; thời hạn hợp
đồng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến ngày 31 tháng 12 năm 2023. Ngoài
ra, hợp đồng các bên còn thỏa thuận các điều khoản khác.
Thực hiện hợp đồng, bị đơn là nhà phân phối sản phẩm nước giải khát của
Chi nhánh Công ty S. Chi nhánh Công ty S bán hàng cho bđơn theo hình thức
mua trả chậm và cho ợn vỏ két, pallet... (bao bì), hạn mức trả chậm, thời gian
trả chậm tùy vào hiệu quả kinh doanh của bị đơn nhưng phù hợp với chính sách
bán hàng trả chậm của Chi nhánh Công ty S, được Chi nhánh Công ty S thông
báo đến bị đơn trong từng thời kỳ. Việc hoàn trả vỏ két cũng được áp dụng theo
chính sách tương ứng của Chi nhánh Công ty S. Trường hợp chấm dứt hợp
đồng, bên mua hàng phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ tiền hàng theo chính sách
mua hàng trả chậm hoàn trả bao mượn ngay khi hợp đồng chấm dứt theo
thư nhắc nợ Chi nhánh Công ty S gửi cho bị đơn.
Ngày 11 tháng 02 năm 2022, bị đơn đơn đề nghị thanh hợp đồng,
chấm dứt hợp đồng kể từ ngày 28 tháng 02 năm 2022. Ngày 04 tháng 01 năm
2022, bđơn đã xác nhận công nợ với Chi nhánh Công ty S (thư xác nhận ng
nợ). Ngày 26 tháng 4 năm 2022, Chi nhánh Công ty S bị đơn tiến hành họp
để trao đổi thống nhất kế hoạch trả nợ. Tuy nhiên, dù đã thống nhất kế hoạch
trả nnhưng b đơn không trả nợ theo cam kết nên ngày 23 tháng 02 năm 2022
Chi nhánh Công ty S đã gửi thư đề nghị thanh toán công nợ nhưng bị đơn vẫn
không thanh toán. Theo đấy, bị đơn còn nsố tiền 1.261.181.728 đồng, sau khi
cấn trừ số tiền bị đơn đã quỹ 149.430.000 đồng, số tiền Chi nhánh Công ty S
hỗ trợ khuyến mãi 20.000.000 đồng và số tiền khác nên số tiền nợ còn lại bị đơn
phải thành toán 918.860.759 đồng (bao gồm: tiền nợ của 85.503 vỏ chai; tiền
3
nợ của 3.581 két nhựa (đế nhựa) và nợ tiền hàng sau khi trừ số vào số tiền đã ký
quỹ và số tiền Chi nhánh Công ty S hỗ trợ khuyến mãi).
Do đó, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị
trả số tiền hàng còn nợ là 918.860.759 đồng.
* Quá trình tham gia ttụng bị đơn vắng mặt, nhưng trong n bản ghi
ý kiến ngày 27 tháng 7 năm 2022, ngày 09 tháng 11 năm 2022, ngày 05
tháng 5 năm 2023 trong biên bản hoà giải ngày 05 tháng 9 năm 2022 tại
Toà án nhân dân huyện Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, Thị T đại
diện theo pháp luật của bị đơn trình bày:
Ngày 31 tháng 12 năm 2018, bị đơn hợp đồng đại phân phối sản
phẩm số: LDMS.117.2018.0016 với Chi nhánh Công ty S, thời hạn hợp đồng tính
từ ngày 01 tháng 01 m 2019 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2023. Sản phẩm
Suntory S nhận phân phối cho b đơn là mặt hàng nước giải khát. Ngày 25 tháng 3
năm 2022, Chi nnh Công ty S gửi thư thông o nợ, có nội dung tính đến hết
ngày 25 tháng 3 năm 2022 công nợ tiền hàng của bị đơn tổng số tiền
1.063.224.685 đồng. Bđơn đã gửi email phản hồi cho Chi nhánh Công ty S về
khoản tiền công nợ theo thông báo Chi nhánh Công ty S gửi là chưa chính xác, bị
đơn được đề nghị đối chiếu, kiểm tra chứng từ, đồng thời Chi nnh Công ty S có
chính sách hỗ trợ các khoản cụ thể cho bị đơn do ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19
trong những năm qua.
Sau khi nhận được email phản hồi của bị đơn về đối chiếu công nợ áp
dụng các chính sách hỗ trợ của Chi nhánh Công ty S. Ngày 26 tháng 4 năm 2022,
các n đã buổi m việc qua đối chiếu các chứng từ bị đơn chcòn nợ Chi
nhánh Công ty S số tiền 576.822.187 đồng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch bệnh
Covid 19 việc tiêu thụ, phân phối sản phẩm bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên phải
lưu kho, dẫn đến hàng gần hết hạn sử dụng hoặc hàng quá hạn sử dụng theo bảng
kiểm hàng tồn ngày 22 tháng 3 năm 2022 của của Chi nhánh Công ty S. Do đó,
khi quyết toán số ng nợ Chi nhánh Công ty S phải trừ khoản tiền quỹ
149.430.000 đồng (bị đơn nhận lại stiền này khi hoàn trả lại toàn bộ vt
palet); khoản tiền hỗ trxử lý hàng gần hết hạn sử dụng 45.062.783 đồng; khoản
tiền xử lý hàng hết hạn sử dụng 68.400.028 đồng; khoản tiền bảo hiểm xã hội cho
DCR tháng 11, 12 năm 2021 tháng 01, 02 năm 2022 20.000.000 đồng/4
tháng (mỗi tháng 5.000.000 đồng); số tiền lương admin 2.500.000 đồng (tháng 02
năm 2022); số tiền quyết toán công nợ, hỗ trợ tính đến hết ngày 18 tháng 7 m
2022 là 20.659.070 đồng, nên tổng số tiền bị đơn đề xuất được hỗ trợ là
156.621.881 đồng. vậy, bị đơn chỉ còn Chi nhánh ng ty S số tiền
270.770.306 đồng (576.822.187 đồng - 149.430.000 đồng - 156.621.881 đồng =
270.770.306 đồng).
Mặt khác, các bên vẫn chưa chốt xong công nợ, số tiền 918.860.759 đồng
Chi nhánh Công ty S yêu cầu bị đơn trả chưa chính xác, đồng thời các bên
chưa thanh hợp đồng đại phân phối sản phẩm nên yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn không căn cứ. Bị đơn yêu cầu được đối trừ công nợ theo văn
4
bản làm việc ngày 04 tháng 8 năm 2022, stiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn
ngày 12 tháng 8 năm 2022 270.770.306 đồng, tiền khuyến mại 20.659.070
đồng, tiền quỹ 149.430.000 đồng, tiền hỗ trợ cận hạn sử dụng tiền xử
hàng hết hạn sử dụng là 56.731.405 đồng, tiền bảo hiểm xã hội 10.000.000 đồng
của tháng 01, 02 năm 2022 nên số tiền bị đơn còn nợ là 75.411.406 đồng. Riêng
số vỏ két, đế nhựa bị đơn nhận bàn giao trên thị trường từ nhiều nhà phân phối
khác nhau, không được nhận trực tiếp từ nguyên đơn thì bị đơn trả lại thị trường
cho nguyên đơn, nguyên đơn phải xoá nợ vỏ két, đế nhựa cho bị đơn.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2024/KDTM-ST ngày 21/8/2024 của
Tòa án nhân dân Quận 1 đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Nước giải khát S Việt
Nam:
1.1. Buc Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M trả cho
Công ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam số tiền hàng còn nợ là 241.258.721đ
(hai trăm bốn mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn, bảy trăm hai mươi
mốt đồng) theo hợp đồng đại phân phối sản phẩm số: LDMS.117.2018.0016
ngày 31 tháng 12 năm 2018 và các phụ đính, đính kèm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ktừ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền n phải thi hành theo lãi
suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng
với thời gian chậm trả.
1.2. Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M trả cho
Công ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam 85.503 (tám mươi m nghìn, m
trăm lẻ ba) vỏ chai 3.581 (ba nghìn, năm trăm m mươi mốt) đế nhựa (két
nhựa).
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, lãi chậm thi
hành án.
Ngày 15/10/2024 Bị đơn Công ty Tuệ M kháng cáo bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa Phúc thẩm:
* Nguyên đơn Chi nhánh Công ty S yêu cầu cấp phúc thẩm giữ nguyên
bản án sơ thẩmyêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ quy định của Bộ Luật tố tụng
dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo luật định.
* B đơn Công ty Tuệ M kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Chi nhánh Công ty
S, cụ thể buộc Công ty Tuệ M thanh toán cho Chi nhánh Công ty S số tiền
hàng còn nợ 70.514.806 đồng, bác yêu cầu của Chi nhánh Công ty S về việc
yêu cầu Công ty Tuệ M phải trả số vỏ chai và đế két.
5
Ngày 18/4/2025 Thị T đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy
định của Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo luật
định.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng,
những người tham gia tố tụng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như
sau: Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử các
đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên
tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn Công ty Tuệ M không sở, đề
nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án
số 198/2024/KDTM-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ o các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của phía nguyên đơn
bị đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định
cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án đúng theo quy định của
Pháp luật tố tụng.
[2] Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Tuệ M còn trong thời hạn kháng
cáo, có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
[3] Căn cứ các tài liệu trong hsơ, lời trình bày của các bên đương sự
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn ng ty S ông Phạm Hữu Đ
đơn đề ngày 22/4/2025 yêu cầu xét xử vắng mặt. Lê Thị T đại diện hợp pháp
của Công ty Tuệ M đơn đnghị xét xử vắng mặt đề ngày 18/4/2025, n cứ
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo luật
định.
Bị đơn Công ty Tuệ M kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Chi nhánh Công ty S, cụ
thể là buộc Công ty Tuệ M thanh toán cho Chi nhánh Công ty S số tiền hàng còn
nợ 70.514.806 đồng, bác yêu cầu của Chi nhánh Công ty S về việc yêu cầu
Công ty Tuệ M phải trả số vỏ chai và đế két- HĐXX nhận thấy:
B đơn Công ty Tuệ M thừa nhận ngày 31 tháng 12 năm 2018, Công ty
Tuệ M Chi nhánh Công ty S hợp đồng đại lý phân phối sản phẩm số:
LDMS.117.2018 và các phụ đính kèm, để nhận phân phối sản phẩm nước giải
khát cho Chi nhánh Công ty S, hợp đồng được giao kết tự nguyện, đảm bảo
điều kiện vhình thức và nội dung của hợp đồng, không trái đạo đức hội,
không vi phạm điều cấm của pháp luật nên phát sinh hiệu lực là phù hợp quy
định tại các Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Thương mại năm 2005.
6
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, Công ty Tuệ M Chi nhánh Công ty S đối
chiếu công nợ nhưng chưa thống nhất về số liệu.
Xét, tại biên bản hoà giải ngày 05 tháng 9 năm 2022, nguyên đơn Chi
nhánh Công ty S xác định s tiền hàng b đơn Công ty Tuệ M còn nợ
704.714.221 đồng, được trừ vào số tiền ký qu 149.430.000 đồng nên số tiền
Bị đơn ng ty Tu M còn n là 555.284.221 đồng, bao gồm 241.258.721
đồng nợ tiền hàng, 213.757.500 đồng tiền nợ vỏ chai (tương đương 85.503 vỏ
chai); 100.268.000 đồng tiền nợ đế nhựa.
Tại biên bản hoà giải ngày 05 tháng 9 năm 2022 tại Toà án nhân dân
huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, bđơn Công ty Tuệ M thừa nhận còn nợ
nguyên đơn Chi nhánh Công ty S số tiền 576.822.187 đồng yêu cầu được đối
trừ công nợ theo biên bản làm việc ngày 04 tháng 8 năm 2022, bị đơn Công ty
Tuệ M cho rằng ngày 12 tháng 8 năm 2022, Công ty Tuệ M đã trả cho nguyên
đơn Chi nhánh Công ty S số tiền 270.770.306 đồng, đồng thời yêu cầu được trừ
vào tiền khuyến i 20.659.070 đồng, tiền hỗ trợ cận hạn sử dụng, tiền xử
hàng hết hn sử dụng 56.731.405 đồng, tiền bảo hiểm xã hội 10.000.000 đồng cho
tháng 1 tng 2 m 2022, tiền ký quỹ 149.430.000 đồng. Do đó, số tiền n
lại bị đơn Công ty Tuệ M phải trả cho Chi nhánh Công ty S là 75.411.406 đồng,
riêng vỏ chai, đế nhựa bị đơn Công ty Tuệ M nhận bàn giao lại trên thị trường
không nhận bàn giao trực tiếp của nguyên đơn nên bị đơn Công ty Tuệ M trả
lại thị trường.
Tại phiên tòa thẩm, Nguyên đơn Chi nhánh Công ty S thay đổi yêu
cầu không yêu cầu bị đơn Công ty Tuệ M trả g trị của 85.503 vỏ chai và
3.581 đế nhựa mà yêu cầu bị đơn trả bằng hiện vật.
Xét, hợp đồng đại phân phối sản phẩm các bên đã các phụ lục
đính kèm không thoả thun điều khoản bị đơn Công ty Tuệ M được hưởng khoản
tiền khuyến i sản phẩm, tiền hỗ trợ hàng gần hết hạn sử dụng, tiền xử hàng
hết hạn sử dụng tiền bảo hiểm hội của Công ty Tuệ M; Nguyên đơn Chi
nhánh Công ty S không thừa nhận Công ty Tuệ M đã trả số tiền 270.770.306
đồngCông ty Tuệ M cũng kng chứng minh được đã trả số tiền 270.770.306
đồng vào ngày 12 tháng 8 m 2022 nên không n cứ để chấp nhận yêu cầu
này của Công ty Tuệ M. Do đó, Chi nhánh Công ty S yêu cầu Công ty TuM
trtiền hàng n nợ 241.258.721 đồng bàn giao slượng 85503 vỏ chai,
3581 đế nhựa căn cứ phù hợp quy định tại Điều 172, Điều 175 Luật
Thương mại 2005 nên có cơ sở để chấp nhận. Án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Chi nhánh Công ty S là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty Tuệ M không cung cấp tài liệu chứng
cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, do vậy yêu cầu kháng cáo của Công ty
Tuệ M không có cơ sở để HĐXX chấp nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề
nghị không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tuệ M, giữ nguyên bản án sơ thẩm,
7
đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận.
[4] V án phí phúc thm: Do yêu cu kháng cáo ca Công ty Tu M
không được chp nhn nên ng ty Tuệ M phi chịu án phí phúc thm theo
quy đnh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Cùng các Điều luật đã
viện dẫn;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn Công ty TNHH Dịch vụ
Thương mại Tổng hợp Tuệ M.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 198/2024/KDTM-ST ngày
21/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ng ty TNHH Nước giải khát S Việt
Nam:
1.1. Buc Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M trả cho
Công ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam số tiền hàng còn nợ là 241.258.721đ
(hai trăm bốn mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn, bảy trăm hai mươi
mốt đồng) theo hợp đồng đại phân phối sản phẩm số: LDMS.117.2018.0016
ngày 31 tháng 12 năm 2018 và các phụ đính, đính kèm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ktừ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo lãi
suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng
với thời gian chậm trả.
1.2. Buộc Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M trả cho
Công ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam 85.503 (tám mươi lăm nghìn, năm
trăm lẻ ba) vỏ chai 3.581 (ba nghìn, năm trăm m mươi mốt) đế nhựa (két
nhựa).
[2] Về án phí kinh doanh thương mại:
[2. 1] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
8
Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M phải chịu án phí
dân sự thẩm về tranh chấp kinh doanh thương mại 12.062.936đ (mười hai
triệu, không trăm sáu mươi hai nghìn, chín trăm ba mươi sáu đồng).
Hoàn lại cho Công ty TNHH Nước giải khát S Việt Nam số tiền tạm ứng
án phí 19.782.000đ (mười chín triệu, bảy trăm tám ơi hai nghìn đồng) theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0010925 ngày 08 tháng 7
năm 2022 của Chi cc Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
[2.2] Án phí kinh doanh thương mi phúc thẩm:
Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Tổng hợp Tuệ M phải chịu án phí
phúc thẩm2.000.000 (hai triệu) đồng được cấn trừ án phí đã nộp theo Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046677 ngày 09/12/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân s, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Quận 1;
- Chi cục THADS Quận 1;
- Cục THADS TP.Hồ Chí Minh
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Thị Thanh Tú
9
Tải về
Bản án số 104/2025/KDTM-PT Bản án số 104/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 104/2025/KDTM-PT Bản án số 104/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất