Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 101/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 101/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 101/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15 – 09 – 2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đường Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Lam – Bà Bùi Thị Út
Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 5 – Khánh Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11
năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 115/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2026 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 79/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 09 năm 2026 giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy K, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số E N, tổ dân
phố B, phường P, tỉnh Khánh Hòa. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Số E N, tổ dân phố
B, phường P, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị
Thúy K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn M tự nguyện chung sống với
nhau từ năm 2005, vợ chồng có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân
phường P, tỉnh Khánh Hòa) vào ngày 17/01/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống tại nhà cha mẹ chồng tại địa chỉ số E N, khu phố B, phường Đ, thành
phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là tổ dân phố B, phường P, tỉnh Khánh Hòa). Vợ
chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do
ông M không có trách nhiệm với gia đình, bản thân còn gây ra nợ nần để chủ nợ
2
đến tìm bà đòi nợ. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ để ông M thay đổi cách sống cùng
bà chăm sóc gia đình nhưng mỗi khi nói chuyện thì vợ chồng lại cãi nhau và kết
quả không giải quyết được vấn đề gì. Khoảng năm 2025, bà đã nộp đơn ly hôn đến
Tòa án, sau khi được hòa giải ông M hứa sẽ thay đổi nên bà đồng ý rút đơn để cho
ông M một cơ hội sữa chữa lỗi lầm và vợ chồng về đoàn tụ; nhưng sau đó ông M
vẫn không thay đổi tính tình, vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn, thường xuyên cãi
nhau. Vợ chồng đã không sống chung khoảng 03 năm nay, mạnh ai nấy sống,
không ai quan tân đến ai. Nay bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho
bà được ly hôn với ông Phạm Văn M vì bà đã không tình cảm vợ chồng với ông
M.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung
Phạm Minh K1, sinh ngày 13/5/2005 và Phạm Minh K2, sinh ngày 16/9/2012.
Cháu K1 đã trưởng thành, có thể lao động tự túc nuôi sống bản thân nên bà không
yêu cầu giải quyết. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm
Minh K2; Hiện nay, bà và bạn góp vốn mở tiệm S ơ thành phố Hồ Chí Minh, sau
khi trừ đi các chi phí thì bình quân thu nhập hàng tháng của bà khoảng 15.000.000
đồng có đủ khả năng để nuôi con, do đó bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị đơn ông Phạm Văn M đã được Tòa án thông báo các văn bản tố tụng để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình và triệu tập hợp lệ, nhưng ông M không tham
gia các buổi làm việc, không nộp văn bản trình bày ý kiến, không hợp tác trong
quá trình giải quyết vụ án. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông M đối với
yêu cầu khởi kiện của bà K.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt; nguyên đơn có đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông
Phạm Văn M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo tố tụng tuy
nhiên bị đơn vẫn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, ông M đã được thông báo tham gia phiên tòa lần hai nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố
3
tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Phạm
Văn M.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản
1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho bà Lê Thị Thúy K được ly hôn với
ông Phạm Văn M. Về con chung: Giao con chung Phạm Minh K2 – sinh ngày
16/9/2012 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con
do bà K không yêu cầu. Đối với cháu Phạm Minh K1 – sinh ngày 13/5/2005 đã
trưởng thành, bà K không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ
chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đề nghị xem xét
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp: Bị đơn ông Phạm Văn M có địa chỉ cư trú tại Tổ dân phố B, phường P, tỉnh
Khánh Hòa; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
5 – Khánh Hòa theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố
tụng dân sự. Nội dung các bên tranh chấp xuất phát từ mâu thuẫn gia đình dẫn đến
xin ly hôn và nuôi con; nên có căn cứ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của
vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1
Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Nguyên đơn bà Lê Thị Thúy K có đơn xin giải quyết vắng mặt; Bị
đơn ông Phạm Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thúy K và ông Phạm Văn M tự
nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết
hôn số 04, quyển số 01/2005, ngày 17/01/2005 của Ủy ban nhân dân phường Đ,
thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Khánh
Hòa), nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, bà K trình bày lý do xin ly hôn là do ông M
không có trách nhiệm với gia đình, gây nợ bên ngoài để chủ nợ đến tìm bà đòi nợ
dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải vã. Vợ chồng đã không
sống chung khoảng 03 năm nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Xét thấy, việc
vợ chồng bà K, ông M không còn chung sống với nhau phù hợp với thông tin xác
minh do bà Phạm Minh C là chị gái ruột của ông M cung cấp. Tại Đơn đề nghị
giải quyết vắng mặt ngày 10/8/2026, bà Lê Thị Thúy K vẫn giữ nguyên yêu cầu
4
xin ly hôn; ông M đã được triệu tập nhiều lần để ghi nhận ý kiến nhưng đều không
chấp hành, điều này chứng tỏ ông M không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ
chồng đoàn tụ và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, bà K đã cung cấp cho Tòa án 01 Quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2025, nay bà K tiếp tục
khởi kiện ly hôn chứng tỏ hai bên đã cho nhau thời gian hàn gắn nhưng không
đem lại kết quả. Điều này khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông M đã
thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được; do đó yêu cầu xin ly hôn của bà K là có căn cứ chấp nhận theo quy định
tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên
Phạm Minh K1, sinh ngày 13/5/2005 và Phạm Minh K2, sinh ngày 16/9/2012.
Đối với cháu Phạm Minh K1: Tính đến thời điểm xét xử, cháu K1 đã trưởng
thành, có thể lao động tự túc được; bà K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
Đối với cháu Phạm Minh K2: Hiện chưa đủ 18 tuổi; xét yêu cầu được trực
tiếp nuôi dưỡng cháu K2 của bà K, Hội đồng xét xử thấy: Cháu K2 là con chung
từ đủ 07 tuổi trở lên và đã bày tỏ nguyện vọng được ở với bà K. Bà K hiện có việc
làm ổn định, thu nhập bình quân khoảng 15.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong suốt quá trình tố tụng, ông M không
có ý kiến phản đối, không đưa ra yêu cầu giành quyền nuôi con cũng không có văn
bản thể hiện nguyện vọng khác; do ông M không có ý kiến tranh chấp và để đảm
bảo sự ổn định về tâm lý, sinh hoạt và phát triển toàn diện của con nên cần chấp
nhận yêu cầu của bà K, giao cháu K2 cho bà K trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K2 đủ 18 tuổi, có thể lao động tự túc được
hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn M không có nghĩa vụ phải
cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Thị Thúy K tự nguyện không yêu cầu.
[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thúy K không yêu cầu giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Bà Lê Thị Thúy K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về ly
hôn) theo quy định pháp luật.
[4]. Từ những nhận định nêu trên, xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51,
khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
5
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thúy K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thúy K được ly hôn với ông Phạm Văn
M.
2. Về con chung: Giao con chung Phạm Minh K2 – sinh ngày 16/9/2012
cho bà Lê Thị Thúy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con
chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Văn M không phải thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lê Thị Thúy K tự nguyện không yêu
cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, lạm dụng
việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phí: Bà Lê Thị Thúy K phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng)
án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0003274 ngày 03 tháng
11 năm 2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Lê Thị Thúy K
đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm; Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND khu vực 5 – Khánh Hòa;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- UBND phường Đạo Long, Tp. Phan Rang
– Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là
UBND phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa)
(Giấy CNKH số 04,quyển số 01/2005, ngày
17/01/2005);
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đường Nguyễn Thanh Thảo
6
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST Bản án số 101/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất