Bản án số 101/2026/DS-ST ngày 09/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 101/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 101/2026/DS-ST ngày 09/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 101/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 101/2026/DS-ST Bản án số 101/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/DS-ST Bản án số 101/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
Bản án số: 101/2026/DS-ST
Ngày 09 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hải và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 5 – Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh
Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 203/2026/TLST-DS ngày 14
tháng 4 năm 2026 và thụ lý bổ sung số 06/2026/TBTLBSVA-DS ngày 10 tháng
6 năm 2026 về việc tranh chấp “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 141/2026/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2026 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 94/2026/QĐST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2026 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ánh T, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị đơn: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, tỉnh Khánh Hòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm P, sinh năm 1968 (có
mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên
tòa nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T trình bày:
Giữa bà, ông Phạm Minh T1 và ông Phạm P là bạn bè. Trước đây ông T1
làm lò bánh mì gần nhà bà, sau này mới chuyển về làm bánh mì tại tổ dân phố T,
phường B, tỉnh Khánh Hòa. Khoảng đầu tháng 12/2025, ông T1 gọi điện thoại
mượn bà số tiền 40.000.000 đồng, mục đích để đáo ngân hàng, ông T1 nói mượn
đỡ 2 – 3 ngày sẽ trả lại. Bà đồng ý cho ông T1 mượn tiền và nói ông T1 đến chỗ
2
2
bà để lấy tiền nhưng ông T1 nói đang bận làm bánh mì nên có nói sẽ nhờ ông
Phạm P đến gặp bà để lấy dùm số tiền 40.000.000 đồng. Khoảng 15 – 20 phút sau
thì ông P đến, bà đưa cho ông P số tiền 40.000.000 đồng để đưa cho ông T1. Sau
khi đưa tiền cho ông P, bà có gọi điện thoại cho ông T1 để thông báo về việc bà
đã đưa tiền cho ông P, ông T1 nói đồng ý. Qua ngày hôm sau, ông T1 tiếp tục gọi
điện thoại cho bà, nói do chưa đủ tiền nộp ngân hàng nên mượn thêm bà số tiền
6.000.000 đồng cho đủ để đáo hạn ngân hàng. Ông T1 hẹn đáo hạn xong sẽ rút
tiền ra để trả lại cho bà tổng số tiền 46.000.000 đồng. Bà nói đã hết tiền nên không
cho ông T1 mượn thêm 6.000.000 đồng. Tối ngày hôm đó, ông T1 gọi điện thoại
cho bà, báo bị lừa tiền trên mạng mất 80.000.000 đồng. Bà có nói là bà không
biết, đó là việc của ông T1 nên đề nghị ông T1 phải trả tiền cho bà theo đúng hẹn.
Khoảng 2 -3 ngày sau bà gọi điện thoại để đòi tiền nhưng ông T1 vẫn không trả
cho bà số tiền 40.000.000 đồng như đã hứa. Sau đó, bà có nhiều lần đến nhà đòi
tiền nhưng ông T1 vẫn chỉ hứa hẹn nhưng không đồng ý trả tiền cho bà đúng hẹn
(bà có quay lại video nộp cho Tòa án). Bà có làm đơn đến công an phường P để
đòi tiền ông T1. Khi Công an mời đến làm việc thì bà, ông T1, ông P đều có mặt
nhưng ông T1 chỉ xác nhận có lấy tiền từ ông P chứ không nhận tiền từ bà nên
không đồng ý trả tiền cho bà. Vì vậy, bà làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án yêu
cầu ông T1, ông P cùng có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 40.000.000 đồng nói trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà đồng ý chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn ông Phạm Minh T1: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng của Tòa án nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Phương trình B:
Ông, bà Võ Thị Ánh T và ông Phạm Minh T1 có mối quan hệ bạn bè khoảng
02 - 03 năm nay. Khoảng tháng 12/2025, ông T1 có hỏi mượn ông số tiền
40.000.000 đồng để trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông không có. Cùng ngày hôm
đó, ông T1 có nói với ông là đã mượn được tiền của bà T nên có nhờ ông ghé chỗ
bà T bán hàng (bán cháo) lấy dùm ông T1 số tiền 40.000.000 đồng từ bà T. Sau
khi nhận tiền từ bà T thì ông cầm qua nhà ông T1 tại tổ dân phố T, phường B, tỉnh
Khánh Hòa để đưa cho ông T1. Nay bà T yêu cầu ông phải có trách nhiệm cùng
ông T1 trả cho bà T số tiền 40.000.000 đồng nói trên thì ông không đồng ý vì ông
không mượn tiền của bà T mà chỉ đi nhận tiền từ bà T để đưa cho ông T1. Đồng
thời, ông cũng đã làm đơn yêu cầu độc lập buộc ông T1 phải trả cho ông số tiền
40.000.000 đồng mà ông đã nhận từ bà T để đưa cho ông T1. Trường hợp nếu Tòa
án chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, buộc ông T1 phải trả cho ông số tiền
40.000.000 đồng mà ông đã nhận từ bà T để đưa cho ông T1 thì ông đồng ý trả số
tiền 40.000.000 đồng này cho bà T.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
3
3
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng
quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét
xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 262, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều
228, Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 166, 275, 280
của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T,
buộc ông Phạm Phương T2 cho bà Võ Thị Ánh T số tiền 40.000.000 đồng.
- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T đối với
yêu cầu buộc ông Phạm Minh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Ánh T số tiền
40.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu độc lâp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phạm P, buộc ông Phạm Minh T1 trả cho ông Phạm P số tiền 40.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Ánh T tự nguyện chịu án phí dân sự sơ
thẩm thay ông Phạm P. Ông Phạm Minh T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn
án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T khởi kiện
yêu cầu bị đơn ông Phạm Minh T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phạm P phải trả số tiền 40.000.000 đồng đã cho ông T1 mượn; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm P có yêu cầu độc lập buộc ông Phạm Minh T1
4
4
phải trả số tiền 40.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp là “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại phường B, tỉnh Khánh Hòa
nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà
theo Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T và yêu cầu độc
lập của nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm P. Hội đồng xét xử xét
thấy:
[2.1.1] Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Ánh
T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Phương trình B: giữa bà
T, ông P và ông T1 có mối quan hệ bạn bè. Khoảng tháng 12/2025, ông T1 gọi
điện thoại mượn bà Võ Thị Ánh T số tiền 40.000.000 đồng, mục đích để đáo hạn
ngân hàng. Ông Phạm Minh T1 nhờ ông Phạm P đến lấy tiền từ bà T, sau khi nhận
tiền từ bà T, ông P đã đưa số tiền nói trên cho ông T1. Không có ai chứng kiến
việc ông P giao tiền cho ông T1.
[2.1.2] Tại biên bản xác minh ngày 03/02/2026 được lập tại Công an phường
P, tỉnh Khánh Hòa, ông Phạm Minh T1 trình bày:
“…Đối với nội dung giao dịch thì bản thân tôi chỉ giao dịch trực tiếp với ông
P, ngoài ra không có ai chứng kiến. Tôi cam kết việc sẽ trả số tiền là 40.000.0000
đồng đã nhận từ anh P theo đúng quy định pháp luật và thỏa thuận giữa hai bên…”
“… Tôi và chị Võ Thị Ánh T quen biết nhau thông qua ông Phạm P ở thôn
T, xã N. Giữa tôi và chị T không có bất cứ giao dịch hoặc vay mượn tiền gì. Bản
thân tôi có mượn ông P với số tiền 40.000.000 đồng từ thời điểm tháng 12/2025,
do hoàn cảnh buôn bán khó khăn nên tôi chưa trả số tiền trên cho ông P.
Đến thời điểm hiện tại, bản thân tôi không có khoản nợ gì với chị T.
Thời điểm giao dịch thì anh P mang tiền đến nhà tôi, vì quen biết nhau đã
lâu nên không có giấy tờ vay mượn giữa tôi và anh P, chỉ thỏa thuận bằng miệng.
Mọi khoản giao dịch đều đưa trực tiếp bằng tiền mặt. Lúc giao dịch chỉ có tôi và
anh P, ngoài ra không có ai khác…”.
[2.1.3] Tại biên bản xác minh ngày 03/8/2026 tại Công an phường P, ông Lê
Đức D – Công an phòng chống tội phạm phường P, tỉnh Khánh Hòa cho biết:
“… Công an phường P có tiếp nhận đơn trình báo của bà Võ Thị Ánh T,
sinh năm 1983 về nội dung tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
5
5
Nội dung sự việc tại biên bản đã được Công an phường P ghi nhận, ông Phạm
P và ông Phạm Minh T1 có đọc lại biên bản, xác nhận nội dung biên bản là đúng
và ký rõ họ tên vào biên bản.
Bà T không ký vào biên bản vì Công an phường P chỉ làm việc với ông Phạm
P và ông Phạm Minh T1 về nội dung tố cáo của bà T…”.
[2.1.4] Từ những tài liệu, chứng cứ trên thì thấy: Ông Phạm Minh T1 thừa
nhận có mượn, còn nợ và cam kết sẽ trả cho ông Phạm P số tiền 40.000.000 đồng.
Các bên giao nhận tiền mặt, khi nhận tiền không lập biên bản giao nhận, không
có ai chứng kiến. Lời thừa nhận của ông T1 về việc đã nhận của ông P số tiền
40.000.000 đồng phù hợp với lời trình bày của bà T, ông P về việc ông P giao cho
ông T1 số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T1 không thừa nhận có xác lập
giao dịch mượn tiền từ bà T. Bản thân bà T cũng thừa nhận giữa bà và ông T1 chỉ
xác lập giao dịch mượn tiền thông qua điện thoại, khi đến nhà ông T1 bà có ghi
âm lại việc đòi tiền ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh
việc ông T1 mượn tiền bà T.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Phương L đơn yêu cầu độc lập buộc
ông Phạm Minh T1 phải trả cho ông số tiền 40.000.000 đồng ông đã giao cho ông
T1. Xét thấy, lời trình bày của ông Phạm Minh T1 tại Công an phường P phù hợp
với lời khai của ông P về việc ông P có giao cho ông T1 số tiền 40.000.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Phạm P, buộc ông Phạm Minh T1 phải trả cho ông Phạm P số
tiền 40.000.000 đồng.
[2.1.5] Tại phiên tòa, ông Phạm Phương tự N đồng ý trả cho bà Võ Thị Ánh
T số tiền 40.000.000 đồng do ông đã nhận từ bà T để đưa cho ông T1. Do đó, Hội
đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông
Phạm P có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Ánh T số tiền 40.000.000 đồng, bác một
phần yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc bị đơn ông Phạm Minh T1 phải trả
cho bà T số tiền 40.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Ông Phạm Minh T1, ông Phạm P phải án phí dân sự sơ thẩm theo
quy định pháp luật. Tuy nhiên, ông Phạm Minh T1 là người cao tuổi và có đơn
xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa, bà Võ Thị Ánh T đồng ý chịu án phí
dân sự sơ thẩm thay cho ông Phạm Phương N1 Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc
bà Võ Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Phương K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho ông
Phạm P số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
6
6
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu
trên nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều
262, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ Luật
tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 166, 275, 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T.
Buộc ông Phạm P có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị Ánh T số tiền 40.000.000
đồng (Bốn mươi triệu đồng).
2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ánh T đối với
yêu cầu buộc bị đơn ông Phạm Minh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị
Ánh T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phạm P. Buộc ông Phạm Minh T1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm P số tiền
40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thanh toán xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí:
Ông Phạm Minh T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Võ Thị Ánh T phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự
sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 đồng
(Một triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002622 ngày 07/4/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Võ Thị Ánh T còn phải nộp 1.000.000 đồng (Một
triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Phương K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho ông Phạm
P số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp
theo Biên lai thu tiền số 0005021 ngày 10/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Khánh Hòa.
7
7
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09 -
9 - 2026). Bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hoà;
- VKSND KV5 – Khánh Hoà;
- THADS tỉnh Khánh Hoà;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Dung
8
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 101/2026/DS-ST Bản án số 101/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/DS-ST Bản án số 101/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất