Bản án số 1005/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1005/2020/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1005/2020/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 1005/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 1005/2020/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Phạm Thị Hồng Y - Huỳnh Minh T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH CHÁNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1005/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2020
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
2. Ông Phạm Văn T.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số
1221/2019/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 197/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2020 và Quyết
định hoãn phiên tòa số 187/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01/9/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng Y, sinh năm: 1985; Địa chỉ: 56 ấp 3, xã L,
huyện C, tỉnh Long An. (Bà Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm: 1982; Địa chỉ: B4/2 ấp 2, xã Q,
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 27/9/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
- Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y trình bày:
Bà và ông Huỳnh Minh T bắt đầu chung sống từ năm 2007, do tự tìm hiểu, có
tổ chức đám cưới và được Ủy ban nhân dân xã Qui Đức, huyện Bình Chánh, Thành
phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/7/2008. Thời gian đầu bà và
ông T chung sống cũng hạnh phúc, đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp. Bà và ông
T sống ly thân từ tháng 12 năm 2019 cho đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng
2
không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông
Huỳnh Minh T.
Về con chung, bà và ông T chung sống có hai con chung tên Huỳnh Phạm
Thiên K, sinh ngày 10/02/2015 và Huỳnh Phạm Thanh T, sinh ngày 01/8/2016. Hiện
các trẻ đang sống với bà, vì vậy khi ly hôn bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi
dưỡng các con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con cùng bà.
Về tài sản chung, bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt
hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định
hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Huỳnh Minh T vẫn không đến tham gia tố
tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa
phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ
án như sau:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, tranh luận của các
bên đương sự thì xét thấy thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định tại
Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và
phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn
ông Huỳnh Minh T. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Qui Đức thì ông T
hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại địa chỉ B4/2 ấp 2, xã Qui Đức,
huyện Bình Chánh, vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt,
do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Y theo quy định tại khoản 1 Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3
- Đối với bị đơn ông Huỳnh Minh T, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã
tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét
xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy
định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cho ông Huỳnh Minh T nhưng ông
T vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử
vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
[4] Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 58, Quyển số 01/2008 do
Ủy ban nhân dân xã Qui Đức, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày
28/7/2008 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T là hôn nhân hợp
pháp được quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y xác định giữa bà và ông T phát sinh
mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp.
Vì vậy, bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy, theo kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng
hôn nhân thì không nắm được mâu thuẫn giữa bà Y và ông T. Tuy nhiên, việc bà Y và
ông T mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân là có diễn ra. Ông T vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của
bà Y. Như vậy, mục đích hôn nhân giữa bà Y và ông T đã không đạt được, do đó, bà
Y yêu cầu ly hôn đối với ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều
56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Về con chung: Bà Y xác nhận giữa bà và ông T có hai con chung tên Huỳnh
Phạm Thiên K, sinh ngày 10/02/2015 và Huỳnh Phạm Thanh T, sinh ngày 01/8/2016.
Hiện các trẻ đang sống với bà Y nên bà Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi các con
chung khi ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con cùng bà.
[7.1] Về quyền nuôi con sau khi ly hôn: Xét thấy các con chung của bà Y và
ông T đều còn nhỏ, hiện đang sống cùng bà Y. Mặt khác, do ông T vắng mặt trong
suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình đối
với con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét khả năng của các đương sự về việc
đảm bảo cuộc sống ổn định, tinh thần cho con sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử xét
thấy cần giao trẻ K và trẻ T cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng.
[7.2] Về cấp dưỡng, bà Y không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con cùng bà
nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông T.
[8] Về tài sản chung: Bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung
giữa ông và bà Y. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu
của bà Y, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ
án khác.
[9] Về nợ chung: Bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết,
còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung giữa ông và
4
bà Y. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của bà Y, trường
hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án thì nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối
với yêu cầu ly hôn.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều
84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y
đối với bị đơn ông Huỳnh Minh T về việc tranh chấp ly hôn.
1.1 Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng Y được ly hôn với ông Huỳnh Minh T.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Hồng Y và ông Huỳnh Minh T chấm dứt cũng
như giấy chứng nhận kết hôn số 58, Quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Qui
Đức, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2008 không còn giá
trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2 Về con chung: Giao hai con chung tên Huỳnh Phạm Thiên K, sinh ngày
10/02/2015 và Huỳnh Phạm Thanh T, sinh ngày 01/8/2016 cho bà Phạm Thị Hồng Y
tiếp tục nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Huỳnh
Minh T.
Ông Huỳnh Minh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai
có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc
nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và
Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người
5
trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó
theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
1.3 Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Hồng Y xác nhận không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có
tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
1.4 Về nợ chung: Bà Phạm Thị Hồng Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh
chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
2. Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng Y phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền
tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Y đã nộp theo biên lai thu
số AA/2019/0008973 ngày 04/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đầy đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc
được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1);
- VKSND H. Bình Chánh (2);
- Chi cục THADS H. Bình Chánh (1);
- UBND xã Qui Đức, H. Bình Chánh,
Thành phố Hồ Chí Minh (1);
- Các đương sự (2);
- Lưu hồ sơ, VP (3). Trần Thị Hồng Cẩm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm