Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 06/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 06/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 01/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn T khởi kiện tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị Th
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 01/2026/HNGĐ-PT
Ngày 06-01-2026
V/v tranh chấp chia tài sản
sau khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên t: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu, bà Phạm Thị Thanh Bình
- Thư phiên tòa: Bùi Thị Thu Hương - Thư Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số
37/2025/TLPT-HNngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp chia tài sản
sau khi ly hôn; do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm s10/2025/HNGĐ-ST
ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng bị kháng
cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2025/QĐ-PT ngày 08
tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969; s CCCD:
030069010320; địa ch: T dân ph T, phưng T, thành ph Hi Phòng; có mt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Phạm
Văn H - Văn phòng L2, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
2. B đơn: Bà Nguyn Th T1, sinh năm 1969; số CCCD: 030169003766;
địa ch: T dân ph T, phường T, thành ph Hi Phòng; có mt.
3. Những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng N; địa ch: S B, ph L, phường T, qun B, thành ph Hà
Ni. Người đại din theo pháp lut: Ông Phm Toàn V, chc v: Tổng giám đc.
Người đại din theo qu quyn: Ông Nguyễn Văn H1, chc vụ: Giám đốc chi
nhánh Đ. Đa ch: T dân ph C, phường T, thành ph Hi Phòng. Người nhn y
quyn li: Bà Phm Th V1, chc vụ: Phó giám đốc chi nhánh Đ; vng mt.
2
3.2. Công ty TNHH T7; người đại din theo pháp lut: Ông Nguyễn Đại
T2, chc vụ: Giám đốc; địa ch: T dân ph T, phường T, thành ph Hi Phòng;
vng mt.
3.3. Ông Phạm Đình P, sinh năm 1974; địa ch: S nhà A, đường V, xã C,
thành ph Hi Phòng; vng mt.
3.4. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 chị Nguyn Th H2, sinh năm
1991; địa ch: T dân ph T, phường T, thành ph Hi Phòng; vng mt.
3.5. Ch Nguyn Th O, sinh năm 1988; đa ch: T dân ph T, phường T,
thành ph Hi Phòng; vắng mặt.
3.6. UBND phường T, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật
ông Nguyễn Mạnh H3 - Chủ tịch UBND phường; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị T1.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ, vụ án có nội dung tóm tắt
như sau:
1. Nguyên đơn và bị đơn trình bày thống nhất:
Ông T T1 kết hôn năm 1997 và đã ly hôn theo Quyết định công nhận
thuận tình ly hôn số 252/2024/HNGĐ-ST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải
Phòng), tại thời điểm giải quyết ly hôn, ông T T1 không yêu cầu Tòa án giải
quyết quan hệ tài sản.
Ông T, T1 thống nhất xác định c tài sản chung u cầu Tòa án phân
chia gồm:
- Quyền sử dụng 03 thửa đất gồm:
Thửa đất ở số 15 tờ bản đồ số 01 diện tích 349m
2
tại tổ dân phố T, phường
T, nguồn gốc nhận chuyển nhượng của Hoàng Thị S năm 1993, được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T và bà T1 vào năm 2013.
Thửa đất rừng nhận khoán liền kề với đất Lô A, khoảnh 4, tiểu khu E
khu vực đường N, tổ dân phố T, phường T, diện tích 0,1174ha (1.174m
2
), nguồn
gốc nhận chuyển nhượng của bà T3 năm 2010. Đến tháng 5/2020, vợ chồng mới
làm thủ tục đăng sang tên người nhận khoán với Ban Quản rừng đứng tên
ông T, thời hạn nhận khoán 20 năm. Năm 2024, diện tích đất này đã được giao v
UBND phường C (nay là UBND phường T) quản lý.
Thửa đất rừng số 10 tờ bản đồ số 02 diện tích 1.522m
2
liền kề với thửa đất
rừng 10 nêu trên, nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H4
năm 2016, giá chuyển nhượng là 300.000.000đồng, hiện đất có Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H4 (cấp năm 1994), thời hạn sử
dụng đất 50 năm.
3
- Quyền sở hữu nhà:
Thứ nhất: Nhà 3 tầng chuồng trại, lán tôn đều được xây dựng trên diện
tích đất rừng nhận chuyển nhượng của T3. Nhà 3 tầng xây dựng vào năm
2009. Lán tôn, chuồng trại thì làm dần trong quá trình sinh sống.
Thứ hai: Nhà xưởng xây dựng trên đất rừng nhận chuyển nhượng của ông
H4 (thửa đất số 10 tờ bản đồ số 02). Nhà xưởng được xây dựng vào năm 2017,
sau bão Y cũng bị hư hỏng nhiều, bị sập mất 200m
2
.
Sau khi ly hôn, T1 đang trực tiếp nhà 3 tầng trên thửa đất rừng, nối
liền với đất A, khoảnh 4, tiểu khu E khu vực đường N, khu dân T,
phường C, thành phố C, diện tích 0,1174ha (1.174m
2
). Ông T trên thửa đất
có nhà xưởng nhận chuyển nhượng lại đất rừng của ông H4. Còn thửa đất ở là lối
đi vào và có mái tôn.
2. Ông T yêu cầu mỗi người được nhận ½ giá trị tài sản. Cụ thể: Đất ở chia
mỗi người nhận ½ diện tích đất. Về đất rừng: Bà T1 ở trên đất rừng nhận chuyển
nhượng của T3 hiện nay hồ sơ nhận khoán mang tên ông T. Trên đất này
có nhà 3 tầng và công trình phụ, chuồng trại. Ông T trực tiếp quản lý và sử dụng
đất rừng có nhà xưởng, đất rừng nhận chuyển nhượng của ông H4. Ai sử dụng tài
sản có giá trị lớn hơn phải trả chênh lệch cho bên kia bằng tiền. Ông T không yêu
cầu Tòa án giải quyết các tài sản khác gồm: 01 xe tải gắn cẩu, 01 xe bán tải Van
2 chỗ, Cẩu dàn, máy xúc 30 đã hỏng, 20 vỏ cống, máy phát điện và những tài sản
phục vụ sinh hoạt trong gia đình. T1 không đồng ý phân chia tài sản chung
không có quan điểm về việc chia tài sản.
3. Về nợ:
3.1. Ông T xác định ông bà có các khoản nợ chung gồm:
Thứ nhất: Nợ A - Chi nhánh Đ1, Hoàng T4 số tiền nợ gốc
560.000.000đồng, vay theo hợp đồng tín dụng năm 2023. Hiện nay, hàng tháng
vẫn phải trả lãi cho Ngân hàng nhưng ông không có tiền để trả.
Tài sản để thế chấp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản vay này là quyền sử
dụng thửa đất ở số 15 tờ bản đồ số 1, diện tích 349m
2
tại khu dânT, phường C
(nay là tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng).
Thứ hai: Nợ Công ty TNHH T7 của anh Nguyễn Đại T2 làm Giám đốc số
tiền 172.000.000đồng. Đây tiền nợ mua vật liệu y dựng để đúc cột nhà xưởng,
cống để bán. Khi lấy vật liệu, lần ông T nhận, lần T2 nhận. Việc
T2 trình bày nợ Công ty T7 số tiền khoảng 130.000.000đồng không đúng.
Vì việc mua bán vật liệu Công ty hóa đơn chứng từ sổ sách theo dõi. Ông T
và Công ty TNHH T7 đã có văn bản chốt nợ đến thời điểm trước khi ông T và bà
T2 ly hôn nhau.
Thứ ba: Nợ ông Phạm Đình P số tiền 80.000.000đồng. Ông P cho vay số
tiền này để mua đất, xây tường trên thửa đất nhận chuyển nhượng của T3 từ
năm 2010. Việc vay nợ này không thiết lập văn bản giấy tờ vì là chỗ anh em kết
nghĩa nhưng bà T2 có biết. Việc bà T2 trình bày là vay ông P 50.000.000đồng là
4
không đúng.
Thứ tư: Nợ anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị H2 số tiền 15.000.000đồng.
Đây là tiền nợ mua tôn sắt từ năm 2018 làm chuồng trại trên đất rừng nối liền với
đất nhà ở. Hiện nay trên đất rừng vẫn còn lán tôn này.
Ông T đề nghị ông T, bà T2 mỗi người phải trả ½ các khoản nợ.
3.2. Bà T2 thừa nhận toàn bộ khoản nợ A; xác định chỉ nợ Công ty TNHH
T7 không đến 172.000.000đồng nhưng cụ thể số tiền bao nhiêu thì không nhưng
khoảng 130.000.000đồng; chỉ nợ ông Phạm Đình P số tiền 50.000.000đồng,
không phải 80.000.000đồng như ông T trình bày; không thừa nhận nông Trần
Văn L1 và chị Nguyễn Thị H2.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L chị
Nguyễn Thị H2 trình bày: Anh chị người bán vật liệu tôn sắt, sơn cho ông T,
T2 tnăm 2018. lúc ông T, lúc T2 liên hệ để mua vật liệu mua
nhiều lần. Anh không biết ông T, T2 mua vật liệu đxây dựng công trình
chung hay không. Anh L, chị H2 xác định ông T, T2 còn nợ tiền tôn thép
15.000.000 đồng, yêu cầu ông T, bà T2 trả số tiền này và không yêu cầu trả lãi.
5. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T7 do ông
Nguyễn Đại T2 Nguyễn Thị O chủ trình bày: Từ năm 2021-2023 ông T
mua vật liệu xây dựng của Công ty TNHH T7 để đúc cột nhà xưởng, cống để bán.
Hai bên lập bảng đối chiếu công nợ, xác định ông T còn nợ 172.692.400 đồng.
Những lần lấy vật liệu, ông T T2 đều cùng nhau trực tiếp gặp trao đổi
chốt số lượng các loại vật liệu. Nay xác định ông T, T2 n nng ty TNHH
T7 số tiền 172.692.400đồng, yêu cầu ông T, T2 trstiền nợ này không
yêu cầu trả lãi.
6. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đình P trình bày:
Năm 2010, ông P cho ông T, T2 vay 7000 Eur tương đương 180.000.000đồng,
không thỏa thuận lãi suất, khi đó ông P đang ở nước ngoài gửi tiền về cho ông T,
hai bên không thiết lập văn bản gì. Sau đó, ông T bà T2 bán vườn sim đã trả cho
ông P stiền 100.000.000đồng, còn nợ lại 80.000.000đồng. Việc vay nợ này
không người nào khác biết. Nguồn tiền cho vay do ông P tích lũy được
không liên quan đến người khác. Ông P xác định ông T, T2 còn nợ số tiền
80.000.000 đồng, yêu cầu ông T, T2 trả khoản nợ này không yêu cầu trả lãi.
7. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A trình y: Căn cứ Hợp đồng
tín dụng số 2315LAV202300174 ngày 13/3/2023 ông T, T2 vay số tiền
700.000.000 đồng của Ngân hàng A - Chi nhánh Đ, mục đích vay tiền để chăn
nuôi, thời hạn vay 05 năm, lãi suất 12%/ năm. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu ni sản
khác gắn liền trên đất số BN 834448 do UBND thị C cấp ngày 13/3/2013, tại
thửa số 15, tờ bản đồ s01, diện tích 349m
2
. Ông T, T2 đã trả số tiền lãi đến
ngày 31/12/2025 và còn nợ số tiền gốc là 414.700.000đồng, A yêu cầu ông T
T2 trả số tiền gốc trên và số tiền lãi phát sinh sau ngày 31/12/2025 theo hợp đồng
5
tín dụng, nếu ông bà không trả đúng hạn theo hợp đồng thì Agribanh có quyền x
lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
8. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Tổng hiện trạng quyền sử dụng đất ông T, bà T2 đang quản lý sử dụng
là 3.737,1m
2
.
Tài sản trên đất gồm: 01 nhà ba tầng xây dựng năm 2009 diện tích 64,3m
2
;
01 nhà mái bằng cạnh nhà ba tầng xây năm 2009 diện tích 5,7m
2
; 01 công trình
phụ cạnh nhà mái bằng diện tích 61,1m
2
; 01 lán tôn diện tích 34,7m
2
; 01 lán tôn
trước cửa nhà 3 tầng ra ngoài cổng có diện tích 328,6m
2
; 01 nhà kho giáp đường
quốc lộ 37 diện tích 50,7m
2
xây năm 2014; 01 sân bê tông giáp công trình
phụ diện tích 302,4m
2
; 01 lán tôn cạnh chuồng chim diện tích 15,6m
2
; 01 chuồng
chim lợp tôn diện tích 158,2m
2
; 01 chuồng giáp nhà ông X diện tích 74,5m
2
;
01 nxưởng diện tích 708m
2
; 01 đoạn tường xây giáp đường tông chiều
dài (27,65 x 6,22)m; 01 đoạn tường giáp nhà C; 01 đoạn tường giáp nhà ông
H3; 01 đoạn tường giáp nhà ông K, ông P1. Ngoài ra đương sự không có yêu cầu
đối với cây cối trên đất.
Về giá quyền sử dụng đất: Đoạn từ Hồ Côn S1 đến ngã 3 A thuộc KDC C,
phường C vtrí 1 đối với đất là 14.760.000 đồng/1m
2
, 20m một vị trí. Vị trí 2
đất ở là 7.450.000 đồng/1m
2
. Đất vườn là 85.000 đồng/1m
2
.
Tổng giá trị tài sản nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất
1.384.564.000đồng. Ông T, bà T2 không yêu cầu định giá các tài sản khác.
9. Kết quả xác minh tại UBND phường T:
Thửa đất A, khoảnh 4, tiểu khu E, khu vực Đường N, KDC T, phường
C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải
Phòng), diện tích 0,1174 ha, thời hạn giao khoán 20 năm để sử dụng vào mục
đích khoán trồng cây ăn quả đã được giao khoán cho bên nhận khoán là ông
Nguyễn Văn T theo Hợp đồng khoán số: 75/HĐ-CAQ ngày 07/5/2020. Tại hợp
đồng thể hiện, nếu bên ông T thay đổi loài cây trồng, chuyển quyền nhận khoán,
thừa kế, cho, tặng phải được snhất trí của UBND phường hướng dẫn làm thủ
tục. Nếu cơ quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi đất khoán để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, dân sinh, kinh tế, hội thì được đền bù tài sản trên đất bên
nhận khoán đã đầu tư theo quy định pháp luật. Việc đền bù tài sản trên đất là đối
với cây trồng đã đăng nhận giao khoán. Tuy nhiên, trên đất này, gia đình
ông T đã xây dựng nhà 3 tầng kiên cố và các công trình phụ. Việc xây dựng diễn
ra từ năm 2009, thời điểm đó thửa đất này thuộc quyền quản lý của Ban Quản lý
rừng nên nếu quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi đất khoản để sử dụng vào
mục đích quốc phòng, dân sinh, kinh tế, xã hội thì không được đền bù với tài sản
các công trình trên đất. Hợp đồng giao khoán này chấm dứt khi hết hạn hoặc
khi ông T nhu cầu chấm dứt và có thể tiếp tục bàn giao nhận khoán cho bà T2.
Đối với thửa đất rừng, tại thửa số 10 tbản đồ số 2 diện tích 1.522m
2
. Thửa
đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn
H4 ngày 23/11/1994, thời hạn sử dụng đất 50 năm, mục đích sử dụng đất trồng
6
rừng. Căn cứ thời điểm chuyển nhượng của ông T và ông H4, theo quy định tại
Điều 188 Luật đất đai năm 2013, ông H4 thể chuyển nhượng thửa đất rừng này
cho ông T. Trong quá trình sử dụng, ông T đã xây dựng nhà ởng là vi phạm
mục đích sử dụng. Do đó, nếu quan Nnước thẩm quyền thu hồi đất trồng
rừng để sử dụng vào mục đích quốc phòng, dân sinh, kinh tế, hội tkhông
được đền với tài sản là các công trình trên đất. Ông T thể liên hệ với
quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nếu hai bên đầy đủ hợp đồng chuyển nhượng, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên
để đảm bảo thi hành án và còn trong thời hạn sử dụng đất.
Đối với thửa đất ở số 15 tờ bản đồ số 1, diện tích 349m
2
địa chỉ phường C,
thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn
Thị T1 vào ngày 13/3/2013. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh (nay
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng) tiến hành thẩm định, đo vẽ hiện trạng
đất, hiện thửa đất này dôi 5,9m
2
diện tích sai số trong quá trình đo vẽ. Đối
với hai thửa đất rừng có diện tích sai số là do quá trình đo vẽ trước đây thủ công,
tính theo kích thước cây trồng. Hiện các thửa đất này không tranh chấp với các
thửa đất xung quanh và đã có ranh giới đất với các hộ xung quanh.
Thửa đất rừng nhận khoán của UBND phường đất rừng nhận chuyển
nhượng của ông Nguyễn Văn H4 thì ông T, bà T1 đều thể chuyển nhượng,
chuyển người nhận khoán nếu ông T T1 thỏa thuận được với nhau và phải
đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục sang tên.
10. Tại bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 10/2025/HNGĐ-ST ngày
18/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau khi ly hôn của ông T.
Xác định tài sản chung của ông T và bà T1 gồm: Thửa đất số 15 tờ bản đồ
số 1 tại tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng trị giá 2.965.166.500đồng;
01 thửa đất rừng, tại thửa số 10 tờ bản đồ số 2 diện tích 1522m
2
được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H4 trị giá
168.691.000đồng. Tài sản trên đất của ông T bà T1 là: 1.384.564.000đồng.
Tổng giá trị tài sản chung của ông T, bà T1 là 4.518.421.500 đồng.
Chia cho ông T bà T1, mỗi người được hưởng 1/2 diện tích đất tại thửa số
15 tbản đồ 01, cụ thể bà T1 178,2m
2
đất (trong đó 100m
2
đất 78,2m
2
đất
vườn) trị giá 1.482.647.000đồng; ông T 176,7m
2
(trong đó 100m
2
đất và 76,7m
2
đất vườn) trị giá 1.482.519.000đồng.
Chia cho ông T 01 thửa đất rừng, tại thửa số 10 tờ bản đồ số 2 diện tích
1522m
2
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn
H4, thời hạn sử dụng 50 năm trị giá 168.691.000đồng.
Giao cho bà T1 quản lý, sử dụng thửa đất rừng Lô A, khoảnh 4, tiểu khu E
khu vực đường N.
7
Giao cho T1 tài sản trên thửa đất rừng Lô A, khoảnh 4, tiểu khu E khu
vực đường N gồm: 01 nhà 3 tầng, 01 nhà 1 tầng, 01 công trình phụ cạnh nhà mái
bằng, 01 nhà kho giáp đường QL 37; ½ diện tích nhà mái tôn giáp QL 37(diện
tích 25,35m
2
); ½ diện tích lán tôn trước nhà 3 tầng(164,3m
2
); lán tôn (15,4m
2
),
lán tôn(34,7m
2
); sân tông, lán tôn cạnh chuồng chim; chuồng chim; chuồng gà;
T5 giáp nhà ông V2, tường giáp nhà ông P1. Tổng trị giá tài sản là:
923.627.000đồng.
Giao cho ông T tài sản trên thửa đất rừng nhận chuyển nhượng của ông H4
tại thửa số 10 tờ bản đồ số 02 gồm: 01 nhà xưởng xây dựng năm 2018; ½ diện
tích nhà mái tôn giáp QL 37 (diện tích 25,35m
2
), ½ diện tích lán tôn trước nhà 3
tầng(164,3m
2
); đoạn ờng xây giáp đường bê tông; tường tông giáp nhà bà C;
tường bê tông giáp nhà ông H5 bà K. Tổng trị giá tài sản là: 460.937.000đồng.
Tổng giá trị tài sản bà T1 được hưởng: 2.406.274.000đồng(Hai tỉ bốn trăm
linh sáu triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn đồng); Tổng giá trị tài sản ông T được
hưởng: 2.112.147.000đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị T1 trả chênh lệch giá trị tài sản cho ông Nguyễn Văn
T là 147.063.500đồng.
- Về chia hiện vật:
Giao cho ông T được quyền shữu, quản lý, sử dụng 1/2 diện tích đất tại
thửa số 15 tbản đồ 01 176,7m
2
đất(trong đó 100m
2
đất ở, 76,7m
2
đất vườn)
có kích thước theo các cạnh từ điểm A12B3B2B4A12.
Giao cho T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng 1/2 diện tích đất tại
thửa số 15 tbản đồ 01 178,2m
2
đất(trong đó 100m
2
đất ở, 78,2m
2
đất vườn)
có kích thước theo các cạnh từ điểm B4B2B1A13B4.
Giao cho T1 tiếp tục quản thửa đất rừng nối liền với đất A,
khoảnh 4, tiểu khu E khu vực đường N, tổ dân phố T, phường P, diện tích
1397,6m
2
được UBND phường T giao khoán theo hồ sơ giao khoán, thời hạn 20
năm theo các cạnh từ điểm
B3A11A10A9A8A7A6A23A22A21A20A18A17A16A15A14B1B2B3 tài sản
trên thửa đất này.
Giao ông T tiếp tục quản thửa đất rừng tại thửa số 10 tờ bản đồ số 2 diện
tích 1984,6m
2
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn
Văn H4, thời hạn sử dụng 50 năm theo các cạnh từ điểm
A6A23A24A1A2A3A4A5A6 và các tài sản trên thửa đất này.
(Có sơ đồ chia đất kèm theo).
Khi bản án hiệu lực pháp luật, đương sự được giao quản lý, sử dụng,
định đoạt quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án, quyền đề nghị quan
nhà nước có thẩm quyền đăng ký và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và hồ giao khoán theo quy định của pháp luật và phải thực hiện các nghĩa
vụ tài chính về đất (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Đối với tài sản đang thế chấp tại A, ông T bà T1 được quyền liên hệ với cơ
8
quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã kết với Ngân
hàng.
Ông T T1 có nchung gồm: Nợ A số tiền 414.700.000đồng; nợ ông P
số tiền 50.000.000đồng; nợ Công ty TNHH T7 (gồm ông G O) stiền
172.692.400đồng.
Xác định ông Nguyễn Văn T nợ riêng ông Nguyễn Đình P2 số tiền
30.000.000đồng, nợ riêng anh Nguyễn Văn L chị Nguyễn Thị H2 số tiền
15.000.000đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn T Nguyễn Thị T1 trách nhiệm liên đới
thanh toán trả nợ A số tiền gốc 414.700.000 đồng. Phân chia ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị T1 mỗi người phải trả số tiền 207.350.000đồng.
Kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi thi hành án xong, ông T bà T1 còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2315LAV202300174 ngày 13/3/2023.
Trường hợp ông Nguyễn Văn T Nguyễn Thị T1 không thực hiện
nghĩa vthanh toán nợ, Ngân hàng quyền yêu cầu quan Thi hành án dân
sự phát mại tài sản đảm bảo Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01, diện tích 349m
2
theo giấy CNQSD đất số BN
834448, số vào sổ cấp GCN: CH 07920 do UBND thành phố C cấp ngày
13/3/2013 theo Hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất đã ký giữa các bên.
Trường hợp stiền thu được từ i sản bảo đảm không đủ để thanh toán
khoản nợ, ông Nguyễn Văn T Nguyễn Thị T1 vẫn phải tiếp tục trả số nợ
gốc lãi n lại cho đến khi thanh toán hết nợ cho A, trường hợp tài sản phát
mại còn thừa thì trả lại cho người thế chấp tài sản.
Buộc ông Nguyễn Văn T Nguyễn Thị T1 trách nhiệm liên đới
thanh toán trả nợ Công ty TNHH T7 (ông G bà O) số tiền gốc 172.692.400đồng,
phân chia ông T, bà T1 mỗi người phải thanh toán trả số tiền 86.346.200đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn TNguyễn Thị T1 có trách nhiệm liên đới trả
nợ ông Nguyễn Đình P2 số tiền gốc 50.000.000 đồng, phân chia ông T, T1 mỗi
người phải trả số tiền 25.000.000đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn T trách nhiệm thanh toán trả ông Nguyễn Đình
P2 số tiền 30.000.000đồng, thanh toán trả anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị
H2 số tiền 15.000.000đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu
cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì
phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành theo quy định tại
Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
9
11. Ngày 03/9/2025, bị đơn Nguyễn Thị T1 kháng cáo đề nghị hủy bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên u cầu khởi kiện; đề nghị không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn; trường hợp bị đơn đồng ý, nguyên đơn sẽ nhận phần tài sản cấp
sơ thẩm chia cho bị đơn và sẽ trả chênh lệch giá trị tài sản cho bị đơn theo bản án
sơ thẩm.
Bị đơn ginguyên yêu cầu kháng cáo xác định không đồng ý chia tài
sản mong muốn để lại tài sản chung cho các con. Ngoài khoản nợ A
130.000.000đồng nợ Công ty TNHH T7, bị đơn không đồng ý trả các khoản nợ
nào khác.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát vviệc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án
sơ thẩm, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà T1 trong hạn luật định và đã nộp tạm ng
án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xem xét nội dung kháng cáo của bà T1:
[2.1] Về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất:
- Về quyền sử dụng đất, quyền nhận khoán đất:
+ Quyền sử dụng thửa đất số 15 tờ bản đồ số 01 diện tích 349m
2
(trong đó
200m
2
đất ở, 149m
2
đất LNK), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tên ông T T1. Kết quả đo vẽ hiện trạng xác định diện ch thửa đất là
354,9m
2
, tăng 5,9m
2
; địa phương đương sự xác định diện tích sai số trong
quá trình đo vẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa các hộ liền kề không
tranh chấp về ranh giới. Do vậy, cấp sơ thẩm xác định diện tích thửa đất theo
diện tích hiện trạng là 354,9m
2
trong đó 200m
2
đất ở, 154,9m
2
đất LNK là có căn
cứ, giá trị thửa đất là 2.965.166.500đồng.
+ Quyền sử dụng thửa đất số 10 tờ bản đồ số 02, diện tích 1.522m
2
, mục
đích sử dụng đất trồng rừng, thời hạn sử dụng 50 năm, đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H4 ngày 23/11/1994. Lời khai của
ông T, T1 và vợ chồng ông H4 đều xác định vợ chồng ông H4 chuyển nhượng
cho ông T, bà T1 thửa đất từ năm 2016, vợ chồng ông H4 đã nhận đủ tiền, ông T
T1 đã nhận đất sử dụng từ đó đến nay. UBND phường T xác định tại thời điểm
2016, theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, vợ chồng ông H4 có
quyền chuyển nhượng thửa đất rừng này cho ông T, bà T1. Như vậy, mặc dù hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên chưa hoàn thiện vhình thức
nhưng các bên đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ theo hợp đồng, bên chuyển
nhượng đã nhận đủ tiền, bên nhận chuyển nhượng đã nhận đất, cấp sơ thẩm nhận
định hợp đồng chuyển nhượng hiệu lực xác định quyền sử dụng thửa đất
10
trên là tài sản chung của ông T, T1 để phân chia là phù hợp quy định tại khoản
2 Điều 129 Bộ luật Dân sự. Kết quả thẩm định tại chỗ xác định diện tích hiện
trạng thửa đất 1.984,6m
2
, tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
462,6m
2
, địa phương và đương sự xác định diện tích đất tăng do sai số đo đạc vì
trước đây giao đất đo thủ công, các hộ liền kề không tranh chấp ranh giới, mốc
giới. Do vậy, cấp thẩm xác định diện tích thửa đất 1.984,6m
2
là tài sản chung
của ông T, bà T1 là có căn cứ; giá trị quyền sử dụng đất là 168.691.000đồng.
+ Quyền sử dụng đất tại Lô A, khoảnh 4, tiểu khu E khu vực đường N, khu
dân cư T, phường C, thành phố C diện tích 0,1174ha (1.174m
2
), là đất rừng được
Ban Quản rừng giao khoán trồng cây ăn quả theo Hợp đồng khoán số 75/HĐ-
CAQ ngày 07/5/2020. Tuy người đứng tên trên hồ sơ giao khoán là ông T nhưng
thực tế cả ông T và bà T1 đều sử dụng đất nhận khoán, nên xác định người nhận
khoán là vợ chồng ông T và bà T1. Kết quả thẩm định tại chỗ xác định diện tích
hiện trạng thửa đất là 1.397,6m
2
tăng so với hồ nhận khoán 223,6m
2
. Theo quy
định của Luật Lâm nghiệp, Hợp đồng khoán, diện tích đất trên thuộc quyền
quản lý của Ban Quản lý rừng, nay chuyển giao cho UBND phường T, ông T
T1 chỉ có quyền trồng, chăm sóc cây trên đất thu hoa lợi và đóng sản lượng hàng
năm cho UBND phường nên cấp thẩm xác định quyền sử dụng diện tích đất
rừng này không phải tài sản chung của ông T T1 sở. Ông T, bà T1
không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các cây trồng trên đất nên không đặt ra
giải quyết. Khi phân chia tài sản, Tòa án giao cho ai quyền nhận khoán thì người
đó có trách nhiệm làm thủ tục với bên giao khoán để thực hiện quyền nhận khoán
theo quy định.
Các quyền sử dụng đất và quyền nhận khoán nêu trên tài sản phát sinh
trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của ông T, bà T1.
- Về tài sản trên đất:
01 nba tầng xây dựng năm 2009 diện tích tầng 1 64,3m
2
, tầng 2+ 3
128,6m
2
; 01 nhà 1 tầng xây năm 2009 diện tích 55,7m
2
; 01 công trình phụ cạnh
nhà mái bằng diện tích 61,1m
2
; 01 lán tôn diện tích 34,7m
2
; 01 lán tôn trước cửa
nhà 3 tầng ra ngoài cổng diện tích 328,6m
2
; 01 nhà kho giáp đường quốc lộ 37
diện tích 73,4m
2
; 01 nhà mái tôn giáp QL 37 diện tích 50,7m
2
; 01 sân
tông giáp công trình phụ diện tích 30,24m
2
; 01 lán tôn cạnh chuồng chim diện tích
15,6m
2
; 01 chuồng chim lợp tôn diện tích 158,2m
2
; 01 chuồng gà giáp nhà ông X
diện tích 74,5m
2
; 01 nhà xưởng diện tích 708m
2
; 01 đoạn tường xây giáp đường
tông chiều dài 33,87m; tường tông cốt thép, cao 3,0m, dày 7cm, cột
tông cốt thép; 01 đoạn giáp nhà ông K, ông V2 xây gạch chỉ, cột tông, tường
110m, cao 4m, cột cao 5m, khoảng cách 3,5m/1 cột, dài 82,35m; 01 đoạn tường
giáp nhà ông P1 xây gạch chỉ, cột tông, tường 110mm, cao 4m, cột 0,22
x0,22x5(m), khoảng cách 3,5m/1 cột, dài 55,44m; 01 tường bê tông cốt thép giáp
nhà C dày 7cm, cao 3,0m, cột tông kích thước 0,2x0,2x4, dài 59,53m; 01
tường bê tông giáp nhà ông H5, K dài 82,05m; 01 n tôn giáp nhà ông Phương
diện T6 15,4m
2
. Đây là các tài sản được ông T, T1 xây dựng trong thời kỳ hôn
11
nhân nên tài sản chung của vợ chồng. Tổng giá trị nhà ở, công trình, vật kiến
trúc trên đất là 1.384.564.000đồng.
Đối với nhà ba tầng các công trình, vật kiến trúc ông T, T1 y
dựng trên đất nhận khoán vi phạm nghĩa vụ của bên nhận khoán. Đối với các
công trình, nhà xưởng ông T, T1 xây dựng trên diện tích đất rừng vi phạm
mục đích sử dụng đất. Việc xử hành vi xây dựng nhà ở, công trình trên đất
không đúng mục đích thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
và bên giao khoán đất. Do vậy, Tòa án phân chia nhà ở, ng trình, vật kiến trúc
trên đất cho ông T, bà T1. Khi nào cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai hoặc cơ
quan thẩm quyền xử hành vi xây dựng trái quy định thì ông T, T1 phải
chấp hành.
Đối với các tài sản khác 01 xe cẩu dài, 01 xe ô tô Van, 01 máy xúc 30 đã
hỏng, 20 vỏ khuôn cống, 02 máy cẩu dàn, 01 máy phát điện và toàn bộ cây trồng
trên đất, ông T và bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem
xét giải quyết.
[2.2] Về các khoản nợ.
- Đối với khoản nợ A và tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ: Ông T, bà T1
A thống nhất ông còn nợ A số tiền gốc theo Hợp đồng tín dụng số
2315LAV202300174 ngày 13/3/2023 414.700.000đồng tiền lãi theo hợp
đồng tính từ ngày 01/01/2026. Đây nghĩa vụ chung, nên ông T T1 phải
liên đới thực hiện. Nghĩa vụ trả nợ trên của ông T, T1 được đảm bảo bởi tài
sản là quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01 nêu trên theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 2315LCL202300148 ngày 13/3/2023 giữa ông T,
T1 A. Do vậy, trường hợp ông T, T1 không thực hiện hoặc không thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, A quyền phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ gốc,
nợ lãi theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì
ông T, T1 vẫn phải liên đới thanh toán cho A đến khi tất toán khoản vay.
Trường hợp tài sản phát mại sau trả nợ cho A còn thừa thì được trả lại cho ông T,
T1 theo tỉ lệ tài sản Tòa án đã phân chia.
- Đối với khoản nợ Công ty TNHH T7 (chủ sở hữu là vợ chồng ông T1, bà
O). Đây khoản ntừ năm 2021-2023, ông T mua vật liệu xây dựng của Công
ty T7 đđúc cột nxưởng, cống kinh doanh. Hai bên đã lập bảng đối chiếu công
nợ xác định ông T còn nợ 172.692.400đồng. Những lần lấy vật liệu, ông T và bà
T1 đều cùng nhau trực tiếp gặp trao đổi và chốt số lượng các loại vật liệu. ng
ty TNHH T7 đều hóa đơn chứng từ đầy đủ nên cấp sơ thẩm xác định ông T,
T1 nợ Công ty TNHH T7 172.692.400đồng và buộc ông bà liên đới trả khoản nợ
này là có căn cứ. Ý kiến của bà T1 về nội dung này không được chấp nhận.
- Đối với khoản nợ anh L, chị H6 số tiền 15.000.000đồng, ông T trình bày
nợ tiền sắt làm chuồng chim nhưng ông T không xuất trình hóa đơn chứng từ. Bà
T1 không thừa nhận khoản nợ này. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T xác định khoản
nợ này nợ riêng của ông T nên cấp thẩm buộc ông T trách nhiệm thanh
toán khoản này cho anh L, chị H6 là có căn cứ.
12
- Đối với khoản nợ của ông Nguyễn Đình P2: Ông T, bà T1 đều thừa nhận
nợ ông P2 nhưng T1 chthừa nhận vay của ông P2 số tiền 50.000.000đồng.
Ông P2, ông T cũng không xuất trình tài liệu chứng cứ khoản nợ này là nợ chung
giữa ông T, T1. Tại phiên tòa thẩm, ông T xác định 30.000.000đồng là nợ
riêng của ông T đối với ông P2 nên cấp thẩm xác định khoản nợ chung của ông
T T1 số tiền 50.000.000 đồng, buộc ông bà liên đới trả cho ông P2; buộc ông
T trả nợ cho ông P2 30.000.000đồng còn lại là phù hợp.
[2.3] Về phân chia tài sản chung và nợ:
Các tài sản chung và nợ chung của ông T, bà T1 đều hình thành trong thời
kỳ hôn nhân, cấp sơ thẩm xác định ông T, T1 mỗi người được hưởng ½ tài sản
phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ chung ông T phải trả các khoản nợ
riêng là phù hợp. Sau khi ông T, bà T1 ly hôn (tháng 9/2024), T1 các con
tại nhà 3 tầng, quản công trình chuồng trại trên thửa đất nhận khoán, ông T
tại nhà xưởng trên thửa đất rừng nhận chuyển nhượng của ông H4. Đối với thửa
đất ở có nhà kho và nhà mái tôn, không có công trình kiên cố. Ông T, bà T1 đều
nhu cầu về đất ở và không thửa đất ở nào khác. Cấp thẩm chia cho ông
T, T1 đều được sử dụng đất trong đó, thửa đất chia đôi, giao cho T1 quyền
nhận khoán thửa đất nhận khoán của UBND phường T trên đất có nhà ở, giao cho
ông T quyền sử dụng thửa đất rừng nhận chuyển nhượng của ông H4 trên đất có
các công trình, nhà xưởng là đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, bảo vệ quyền
của người phụ nữ trong vụ án phù hợp quy định về điều kiện tách thửa đất ở theo
Quyết định số 158/2025/-UBND ngày 12/9/2025 của UBND thành phố H.
[2.4] Về tiền thẩm định và định giá: Ông Nguyễn Văn T tự nguyện nộp cả
tiền thẩm định, định giá 12.600.000đồng, không yêu cầu T1 trả nên không
đặt ra xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí thẩm: Ông T T1 đều phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm đối phần tài sản được chia và các khoản nợ phải trả theo quy định tại Điều
147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2.6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định toàn bộ kháng
cáo của bị đơn Nguyễn Thị T1 không căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản
án thẩm. Tuy nhiên, do cấp thẩm tuyên án điểm chưa ràng nên cấp
phúc thẩm sửa lại cách tuyên cho phù hợp.
[3] Về án phí phúc thẩm: T1 kháng cáo không được chấp nhận nên phi
chịu án pdân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH:
13
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên Bản án
hôn nhân và gia đình thẩm số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.
Căn cứ Điều 29, Điều 33, Điều 59, Điều 60, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia
đình; khoản 2 Điều 129, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 148
Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau khi ly hôn của ông
Nguyễn Văn T.
1.1. Xác định tài sản chung của ông Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1
gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 15 tờ bản đồ số 01 diện tích 354,9m
2
(gồm 200m
2
đất ở, 154,9m
2
đất LNK) tại tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng trị giá
2.965.166.500đồng; quyền sử dụng thửa đất rừng, tại thửa số 10 tờ bản đồ số 02
diện tích 1.984,6m
2
tại tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng trị giá
168.691.000đồng; tài sản là nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất của ông T,
T1 trị giá 1.384.564.000đồng; quyền nhận khoán trồng cây ăn quả thửa đất tại
A, khoảnh 4, tiểu khu E khu vực đường N tại tổ dân phố T, phường T, thành ph
Hải Phòng diện tích 1.397,6m
2
theo Hợp đồng khoán số 75/HĐ-CAQ ngày
07/5/2020. Tổng giá trị tài sản chung của ông T, bà T1 là 4.518.421.500 đồng.
1.2. Chia cho ông T các tài sản sau:
- Quyền sử dụng 176,7m
2
đất nằm trong thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01 tại
tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng (gồm 100m
2
đất 76,7m
2
đất
LNK) trị giá 1.482.519.000đồng được xác định bởi các điểm từ A12, B3, B2, B4
đến A12 trên sơ đồ kèm theo bản án.
- Quyền sử dụng diện ch đất rừng tại thửa số 10, tờ bản đồ s02 tại tổ dân
phố T, phường T, thành phố Hải Phòng trị giá 168.691.000đồng được xác định
bởi các điểm từ A6, A23, A24, A1, A2, A3, A4, A5 đến A6 các tài sản trên
thửa đất này trên sơ đồ kèm theo bản án.
- Quyền sở hữu các tài sản trên đất được giao gồm: 01 nhà xưởng y dựng
năm 2018; ½ diện tích nhà mái tôn giáp QL 37(diện tích 25,35m
2
), ½ diện tích
lán tôn trước nhà 3 tầng (164,3m
2
); đoạn tường xây giáp đường tông; tường
tông giáp nhà bà C; tường tông giáp nhà ông H5 bà K. Tổng trị giá tài sản trên
đất là: 460.937.000đồng. Đối với nhà xưởng, công trình, vật kiến trúc xây dựng
trên đất rừng tại thửa số 10 tờ bản đồ số 02 khi nào cơ quan quản lý Nhà nước về
đất đai hoặc quan khác thẩm quyền xử hành vi xây dựng trái phép thì ông
T phải chấp hành theo quy định.
Tổng gtrị tài sản ông T được giao sử dụng, sở hữu 2.112.147.000đồng.
1.3. Chia cho bà T1 các tài sản sau:
+ Quyền sử dụng 178,2m
2
đất nằm trong thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01 tại
tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng (gồm 100m
2
đất 78,2m
2
đất
14
LNK) trị giá 1.482.647.000đồng được xác định bởi các điểm từ B4, B2, B1, A13
đến B4 trên sơ đồ kèm theo bản án.
+ Quyền nhận khoán trồng cây ăn quả thửa đất tại A, khoảnh 4, tiểu khu
E khu vực đường N tại tdân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng diện tích
1.397,6m
2
theo Hợp đồng khoán số 75/HĐ-CAQ ngày 07/5/2020 được xác định
bỏi các điểm từ B3, A11, A10, A9, A8, A7, A6, A23, A22, A21, A20, A18, A17,
A16, A15, A14, B1, B2 đến B3 trên sơ đồ kèm theo bản án. Bà T1 có quyền liên
hệ với bên giao khoán UBND phường T để thực hiện các thủ tục nhận khoán
theo quy định.
- Quyền sở hữu các tài sản trên đất được giao gồm: 01 nhà 3 tầng, 01 nhà 1
tầng, 01 công trình phụ cạnh nhà mái bằng, 01 nhà kho giáp đường QL 37; ½ diện
tích nhà mái tôn giáp QL 37 (diện tích 25,35m
2
); ½ diện tích lán tôn trước nhà 3
tầng(164,3m
2
); lán tôn (15,4m
2
), lán tôn (34,7m
2
); sân tông, lán tôn cạnh
chuồng chim; chuồng chim; chuồng gà; T5 giáp nhà ông V2, tường giáp nhà ông
P1. Tổng trị giá i sản là: 923.627.000đồng. Đối với nhà 3 tầng và các công
trình, vật kiến trúc xây dựng trên diện tích đất nhận khoán tại A, khoảnh 4,
tiểu khu E khu vực đường N khi nào quan quản Nhà nước về đất đai hoặc
quan khác thẩm quyền xử hành vi y dựng trái phép tT1 phải chấp
hành theo quy định.
Tổng giá trị tài sản T1 được giao sử dụng, sở hữu 2.406.274.000đồng.
1.4. Buộc T1 phải trả chênh lệch giá trị tài sản cho ông T số tiền
147.063.250đồng
1.5. Đương sự được giao quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất theo quyết
định của bản án, quyền đề nghị quan nhà nước thẩm quyền đăng
đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ giao khoán theo quy
định của pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đất (nếu có). Đối
với tài sản đang thế chấp tại A, ông T bà T1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà
nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi
thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với A.
2. Về nghĩa vụ trả nợ:
2.1. Buộc ông T T1 trách nhiệm liên đới trả nợ A số tiền gốc
414.700.000 đồng, phân chia ông T, bà T1 mỗi người phải trả số tiền
207.350.000đồng.
Kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi thi hành án xong, ông T bà T1 còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2315LAV202300174 ngày 13/3/2023.
Trường hợp ông T và bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ thanh toán nợ, A quyền yêu cầu quan Thi hành án dân sự phát mại
tài sản đảm bảo là quyền sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01, diện tích 354,9m
2
và tài sản gắn liền với đất tại tổ dân phố T, phường T, thành phố S để thu hồi n
theo Hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất số 2315LCL202300148 ngày
15
13/3/2023 giữa ông T, T1 và A - Chi nhánh Đ. Trường hợp số tiền thu được từ
tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán khoản nợ, ông T và T1 vẫn phải tiếp
tục trả số nợ gốc và lãi còn lại cho đến khi tất toán khoản vay, trường hợp tài sản
phát mại còn thừa thì trả lại cho ông T, bà T1 theo tỉ lệ diện tích đất đã được Tòa
án phân chia.
2.2. Về các khoản nợ khác:
Buộc ông T và bà T1 trách nhiệm liên đới trả nợ Công ty TNHH T7 số
tiền 172.692.400đồng, phân chia ông T, bà T1 mỗi người phải trả số tiền
86.346.200đồng.
Buộc ông T T1 trách nhiệm liên đới trả nợ ông Nguyễn Đình P2
số tiền 50.000.000 đồng, phân chia ông T, T1 mỗi người phải trả số tiền
25.000.000đồng.
Buộc ông T có trách nhiệm trả ông Nguyễn Đình P2 số tiền
30.000.000đồng; trả anh Nguyễn Văn L chị Nguyễn Thị H2 số tiền
15.000.000đồng.
3. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về chi phí tố tụng: Không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu 68.865.437đồng án pchia tài sản
18.184.810đồng án phí giải quyết nợ, tổng 87.050247đồng, đối trừ với số tiền
30.952.000đồng ông T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004224 ngày
15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương
(nay Phòng Thi hành án dân skhu vực 9 - Hải Phòng), ông T còn phải nộp
56.098247đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải chịu nộp 70.215.437đồng án phí chia tài sản
và 15.934.810đồng án phí giải quyết nợ, tổng là 86.150.247đồng.
6. Về án pphúc thẩm: Buộc Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đồng án
phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng T1 đã nộp tạm
ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E, số
0001822 ngày 04/9/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bà T1 đã
nộp đủ án phí phúc thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành
16
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Phòng;
- TAND khu vực 9 - Hải Phòng;
- THADS TP. Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hữu Hiệu
Tải về
Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất