Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 26/08/2021 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 26/08/2021 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lệ Thủy (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 10/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ANh D chị T vay tiền của NHTMCP B |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM
HUYỆN LỆ THỦY Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 10/2021/DS- ST
Ngày: 26/8/2021
“ V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY-TỈNH QUẢNG BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Hải Nam
Ông Võ Xuân Toàn
-Thư ký phiên Tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2021/TLST-DS ngày 04/02/2021
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-DS ngày 04/8/2021
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B, địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, 109 T,
quận H, thành phố Hà Hội, đại diện theo pháp luật ông Phạm Doãn S, Tổng Giám
đốc; đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn C, Giám đốc Chi nhánh Quảng
Bình theo Quyết định số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 của Tổng Giám
đốc; người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Duy H, chuyên viên khách
hàng, tổ kinh doanh- Phòng giao dịch huyện L, địa chỉ: Số 134 H, thị trấn K,
huyện L, tỉnh Quảng Bình, theo Giấy ủy quyền số 29/2021/UQ-LV ngày
11/01/2021 của Giám đốc Chi nhánh Quảng Bình, ông H có mặt.
Bị đơn: Vợ chồng ông Trần Ánh D, sinh năm 1977 và bà Lê Thị T, sinh
năm 1979, cùng nơi cư trú: Xóm 1, thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/01/2021, bản tự khai ngày 10/3/2021, đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C cũng như người được ủy
quyền tham gia tố tụng đều trình bày: Ngày 08/8/2017, Ngân hàng TMCP B Chi
nhánh Quảng Bình - Phòng giao dịch huyện L với vợ chồng ông Trần Ánh D và
bà Lê Thị T ký hợp đồng tín dụng số HĐTD 451201735, với tổng số tiền cấp tín
dụng cho vợ chồng ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T 515.000.000 đồng (năm trăm
mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 72 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải
2
ngân, lãi suất 7,69%/năm cố định trong 12 tháng đầu tiên, kể từ ngày bên vay bắt
đầu nhận nợ. Sau thời gian trên thì áp dụng lãi suất thả nổi và điều chỉnh định kỳ
3 tháng/lần, mức lãi suất điều chỉnh không thấp hơn mức lãi suất cho vay tối
thiểu thông thường của Ngân hàng B tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ gốc quá
hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi
suất nợ lãi chậm trả hai bên thỏa thuận 10%/năm; mục đích vay: Thanh toán tiền
mua xe ô tô bán tải theo hợp đồng mua xe ô tô ngày 24/7/2017. Trả nợ gốc được
chia thành 24 kỳ, từ kỳ thứ nhất đến kỳ 12 mỗi kỳ thanh toán số tiền gốc
25.750.000 đồng; từ kỳ 13 đến kỳ 23, mỗi kỳ thanh toán số tiền 17.150.000 đồng,
riêng kỳ cuối cùng khách hàng phải trả 17.350.000 đồng, trả định kỳ hàng tháng
vào ngày mùng 10 của tháng cuối mỗi kỳ, bắt đầu từ tháng 11/2017; trả lãi vào
ngày mùng 10 hàng tháng theo dư nợ thực tế, bắt đầu trả nợ từ tháng 9/2017.
Tài sản bảo đảm khoản vay: Theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày
08/8/2017 ký giữa Ngân hàng TMCP B với vợ chồng ông Trần Ánh D, bà Lê Thị
T là: Xe ô tô bán tải nhãn hiệu CHEVROLET, màu sơn nâu, 5 chỗ ngồi, biển
kiểm soát 73C- 075.89 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013456 do
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 07/8/2017 mang
tên Trần Ánh D; toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị đầu tư
tăng lên của ô tô đã thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp. Tổng giá trị tài sản thế
chấp hai bên thỏa thuận định giá 649.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D, bà T mới chỉ thanh toán được một
phần tiền gốc là 244.321.880 đồng và lãi đến ngày 10/4/2020 nhưng trước đó đã
quá hạn không trả nợ đúng kỳ kể từ ngày 20/02/2019, mặc dù phía Ngân hàng B
đã nhiều lần thông báo, đôn đốc. Do đó, Ngân hàng B đã chuyển sang nợ quá hạn
kể từ tháng 02/2020. Sau khi khởi kiện, ông D, bà T có trả thêm 2 lần 40.000.000
đồng, trừ vào gốc: 27.899.370 đồng, số còn lại trừ vào lãi. Hiện nay, ông D bà T
không thực hiện đúng hợp đồng 242.778.750 đồng tiền gốc; tiền lãi trên nợ gốc
trong hạn 33.165.754 đồng và lãi phát sinh. Do đó, để đảm bảo thu hồi nợ, Ngân
hàng B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T phải trả
cho Ngân hàng B số tiền vay gốc còn lại nói trên và lãi tính đến ngày xét xử gồm:
Lãi trong hạn 33.165.754 đồng, lãi quá hạn 16.323.831 đồng; lãi phạt chậm trả lãi
2.359.982 đồng và tiếp tục chịu lãi trên số tiền gốc chưa thanh toán kể từ khi xét
xử đến khi thi hành xong, theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, đồng
thời yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm mà ông D, bà T đã thế chấp để thu hồi khoản
nợ.
Bị đơn ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T trình bày qua bản tự khai các ngày
10/3/2021, 19/5/2021 và biên bản hòa giải ngày 19/5/2021 cũng như tại phiên
tòa: Ông D, bà T thừa nhận hai vợ chồng có vay của Ngân hàng TMCP B số tiền:
515.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số HĐTD 451201735 ngày 08/8/2017,
về thời hạn và lãi suất đúng như hai bên thống nhất trong hợp đồng và trình bày
của Ngân hàng B, khi vay vợ chồng ông, bà có thế chấp một xe ô tô bán tải nhãn
hiệu CHEVROLET, màu sơn nâu, 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 73C- 075.89 theo
3
giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013456 do Phòng Cảnh sát giao thông Công
an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 07/8/2017 mang tên Trần Ánh D. Trong quá trình
thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông bà đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ
tuy không đúng kỳ như hợp đồng quy định nhưng năm nào vợ chồng ông, bà
cũng có trả cho Ngân hàng. Số còn lại chưa trả được theo yêu cầu của Ngân hàng
là do dịch bệnh, việc làm ăn gặp nhiều khó khăn, do đó, vợ chồng ông, bà đề nghị
Ngân hàng và Tòa án cho ông, bà tiếp tục thực hiện hợp đồng, vì vẫn còn thời
hạn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B buộc vợ chồng
ông Trần Ánh D, bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín
dụng là tranh chấp hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T có địa chỉ cư trú tại xóm 1, thôn Đ, xã P,
huyện L, tỉnh Quảng Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Lệ Thủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Về yêu cầu của nguyên đơn là buộc bị đơn trả đủ nợ gốc, nợ lãi khi án có
hiệu lực pháp luật, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ thì nguyên đơn có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế
chấp, để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với bị đơn. Theo lời trình bày của đại diện
nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án; các chứng cứ, tài liệu có tại
hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa cho thấy, vợ chồng ông
Trần Ánh D, bà Lê Thị T đã ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng B số
HĐTD 451201735 ngày 08/8/2017 với số tiền gốc vay 515.000.000 đồng, thời
hạn 72 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên (ngày giải ngân
08/8/2017), lãi suất 7,69%/ năm, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô, lãi
quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn,
lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm. Đối chiếu hợp đồng tín dụng và các tài liệu chứng
cứ trong hồ sơ vụ án với lời khai của đại diện nguyên đơn, của bị đơn, có căn cứ
xác định ông Trần Ánh D, bà Lê Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng
tín dụng kể từ ngày 20/02/2019, đến tháng 02/2020 Ngân hàng B đã chuyển sang
nợ quá hạn. Trong quá trình hòa giải, Tòa án cũng đã tạo điều kiện về mặt thời
gian để cho vợ chồng ông D, bà T và Ngân hàng thỏa thuận tiếp tục thực hiện
hợp đồng như đề nghị của phía bị đơn nhưng ông D, bà T không thực hiện được
như cam kết trong hợp đồng, tuy có trả được một phần nhưng so với số nợ còn lại
thì quá ít nên Ngân hàng không chấp nhận cho tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hiện
tại số tiền ông D, bà T còn nợ: 294.628.317 đồng, trong đó, tiền gốc còn lại
242.778.750 đồng; lãi trong hạn 33.165.754 đồng, lãi quá hạn 16.323.831 đồng;
4
lãi phạt chậm trả lãi 2.359.982 đồng. Do đó, việc Ngân hàng B yêu cầu buộc bị
đơn phải thanh toán cả gốc và lãi đến ngày xét xử và tiếp tục chịu lãi phát sinh
sau ngày tuyên án cho đến khi thi hành xong khoản tiền gốc là có căn cứ;
Về tài sản bảo đảm khoản vay: Theo hợp đồng thế chấp số: 18/2017/HĐTC
ngày 08/8/2017, được ký kết bởi người có thẩm quyền của Ngân hàng với ông
Trần Ánh D, bà Lê Thị T là bên có nghĩa vụ cam kết với bên có quyền (Ngân
hàng) nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được xử lý hoặc yêu
cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Đây là thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện,
đảm bảo đúng trình tự quy định, nội dung hợp đồng phù hợp với các quy định
của pháp luật có hiệu lực. Căn cứ thời gian vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay
ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là xe ô
tô bán tải nhãn hiệu CHEVROLET, màu sơn nâu, 5 chỗ ngồi, biển kiểm soát
73C- 075.89 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 013456 do Phòng Cảnh sát
giao thông Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 07/8/2017 mang tên Trần Ánh D,
để bảo đảm nghĩa vụ trả khoản nợ của ông D, bà T là có căn cứ.
Từ những nhân định trên, Hội đồng xét xử thấy, cần chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của Ngân hàng B là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.
[3].Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B được chấp nhận nên
không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã
nộp. Bị đơn ông Trần Ánh D, bà Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch tương ứng với số tiền phải trả nợ cho nguyên đơn theo quy định của pháp
luật.
[4].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 317,
318, 320, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
- Buộc ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T phải trả cho Ngân hàng TMCP B
tổng số tiền tính đến ngày xét xử 26/8/2021 là: 294.628.317 đồng, trong đó nợ
gốc 242.778.750 đồng; lãi trong hạn: 33.165.754 đồng; lãi quá hạn: 16.323.831
đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 2.359.982 đồng. Tiền nợ gốc và tiền nợ lãi nói trên
phải trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án
có đơn yêu cầu thi hành án.

5
- Tài sản bảo đảm: Xe ô tô bán tải nhãn hiệu CHEVROLET, màu sơn nâu,
5 chỗ ngồi, biển kiểm soát 73C- 075.89 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số
013456 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày
07/8/2017 mang tên Trần Ánh D và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo đã
thế chấp cho Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số
18/2017/HĐTC/CN Quảng Bình ngày 08/8/2017, là tài sản thế chấp để bảo đảm
nghĩa vụ thi hành án dân sự của ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T. Ngân hàng
TMCP B có trách nhiệm chuyển giao các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp
cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử lý khi có đơn
yêu cầu thi hành án, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thi hành
án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Kế tiếp sau ngày tuyên án sơ thẩm (26/8/2021) bên phải thi hành án tiếp
tục chịu tiền lãi phát sinh đối với khoản nợ gốc chưa thi hành cho đến khi thanh
toán xong theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HĐTD
451201735 ngày 08/8/2017 giữa Ngân hàng TMCP B với ông Trần Ánh D và bà
Lê Thị T.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Ánh D và bà Lê Thị T phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm 14.731.416 đồng; trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng
án phí 7.745.000 đồng (ông Trần Duy H đã nộp) theo biên lai số: 0001176 ngày
29/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dận sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Đại diện nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/8/2021, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Thị Nhàn
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND h. Lệ Thủy;
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Chi cục THADS h. Lệ
Thủy;
- Lưu HS;
- Lưu Vp.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm