Bản án số 10/2020/HS-PT ngày 12/02/2020 của TAND tỉnh An Giang về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2020/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 10/2020/HS-PT ngày 12/02/2020 của TAND tỉnh An Giang về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 10/2020/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2020/HS-PT
Ngày: 12 02 2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Chấn;
Bà Ngô Ngọc Phỉ.
- Thư phiên tòa: La Hồng Ngân Thư Tòa án Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét
xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 237/2019/TLPT-HS ngày 31
tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo Hồ Văn S và Trần Đức N do có kháng cáo
của các bị cáo Hồ Văn S Trần Đức N đối với Bản án hình sự thẩm số:
48/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị Tân
Châu, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Hồ Văn S (Minh T), sinh năm 1981; nơi trú: ấp T, T, thị T,
tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ
Văn Q, sinh năm 1948 bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1950 (chết); vợ
Thị H, sinh năm 1974 06 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ sinh năm
2012; Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo ti ngoi và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn S: Bà Lê Hồ Bích H Trợ giúp viên
pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).
2. Trần Đức N (N Đầu Bò), sinh năm 1985; nơi trú: ấp T, T, thị
T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam, con ông
Trần Văn T, sinh năm 1954 (chết) Phạm Thị N, sinh năm 1956; vợ
Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1987 (đã ly hôn); Tiền án: không; Tiền sự: Ngày
04/01/2017, bị Công an thị Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 2.500.000 đồng
về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa nộp phạt; Nhân thân: năm 2003 đã bị
2
Công an huyện Tân Châu (nay thị Tân Châu) quản theo Nghị định
19/CP về hành vi Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 05/8/2006, bị Tòa án nhân
dân thị Tân Châu, xử phạt 02 năm vtội “Cố ý gây thương tích” 01
năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hình phạt 03 năm , đã
chấp hành xong ngày 06/4/2009 được xóa án tích; Bcáo ti ngoi mặt
tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức N: Ông Trần Phước T Trợ giúp
viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị hại:
+ Ông Hồ Văn S (Minh T), sinh năm 1981. Nơi trú: ấp T, T, th
T, tỉnh An Giang (có mặt).
+ Ông Trần Đức N (N Đầu Bò), sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã T, thị
xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
(Trong vụ án, bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 10/01/2019 sau khi uống rượu xong, Trần Đức N
nhớ lại việc vào ban đêm, Hồ Văn Quốc E (là con của Hồ Văn S) thường xuyên
điều khiển xe môtô chạy trên đường khu dân cư lô 19, thuộc ấp T, xã T, thị xã T,
điều khiển xe chạy rất nhanh, xe môtô nổ rất lớn tiếng làm cho mẹ của N
không ngủ được, nên N muốn đánh Quốc E để cảnh cáo. Sau đó, N đi bộ đến
nhà của anh Văn D để tìm Quốc E (Quốc E àm thuê cho D). Tại đây, N thấy
Quốc E đang nằm ngủ trong nhà, N liền đi đến dùng tay đánh vào mặt đầu
của Quốc E nhiều cái, xong, N bỏ đi về nhà, còn Quốc E không nói gì, mà lấy xe
đạp đi về nhà. Khi về đến nhà, Quốc E kể lại sự việc trên cho Hồ Văn S chị
Võ Thị H (là cha, mẹ của Quốc E) biết, rồi Quốc E điều khiển xe đạp đi đến nhà
của D để làm thuê, riêng S chị H chuẩn bđi đến nhà của Nguyên để hỏi
nguyên nhân N đánh Quốc Em. Tại đây, anh Văn T đang làm thuê cho nhà
của S nghe sự việc trên, nên anh T đi cùng với vợ chồng S đến nhà của N. Lúc
này, N đang nằm trong nhà, thấy nhiều người đang đi về hướng nhà mình,
nên N nghĩ Quốc E về nhà kêu người đến đánh N để trả thù, N liền lấy một cây
búa cán bằng gỗ, kích thước 29 x 4 x 2 cm, phần đầu búa kích thước 11x5 cm,
sắc bén một cạnh, cạnh còn lại có dạng hình chữ nhật kích thước 2,5 x 2cm dùng
để chặt củi, cầm trên tay rồi đi về hướng những người đang đi đến nhà của N.
Khi đến trước cửa nhà của ông Trương Văn L (cách nhà N khoảng 20 mét), N và
S gặp nhau, S hỏi N sao đánh Quốc E hoài hai bên xảy ra cự cãi qua lại với
nhau. Lúc này, N đang cầm búa trên tay, N liền giơ n chém nhiều cái o
người của S, bị N chém bị thương, S đánh lại N hai bên giằng co qua lại với
nhau, N ngã xuống đống cây gần lề đường. Lúc này, S liền giật cây búa trên tay
N, S dùng búa chém nhiều cái vào người của N. Thấy vậy, mọi người xung
3
quanh đến can ngăn S và N, chém N xong, S cầm cây búa trên đi về nhà. Sau đó,
S N được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực thị Tân Châu để
điều trị vết thương, do vết thương nặng nên N được chuyển đến Bệnh viện Đa
khoa khu vực tỉnh tại thành phố Châu Đốc để tiếp tục điều trị vết thương.
Ngày 24/7/2019, HVăn S đơn yêu cầu xử hình sđối với Trần
Đức N.
Ngày 16/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, đã
khởi tố Hồ Văn S, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 30/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, đã
khởi tố Trần Đức N về tội “Cố ý gây thương tích”.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- Một cây búa cán bằng gỗ, kích thước 29 x 4 x 2cm, phần đầu búa kích
thước 11x5cm, sắc bén một cạnh, cạnh còn lại có dạng hình chữ nhật kích thước
2,5 x 2 cm, có tổng trọng lượng là 420 gram.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y vthương tích số 113; 114 ngày
22/4/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, kết luận:
- Hồ Văn S, sinh năm 1981. Tổng tỉ lệ tổn thương thể, do thương tích
gây nên hiện tại là: 07%, không gây cố tật;
- Trần Đức N, sinh năm 1985. Tổng tỉ lệ tổn thương thể, do thương
tích gây nên hiện tại là: 18%, gây cố tật nhẹ.
Cáo trạng số 43/CT-VKSTC ngày 18 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát
nhân dân thị Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Hồ Văn S về tội Cố
ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm
2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, truy tố bị cáo Trần Đức N về tội “Cố ý
gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm
2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019
của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức N và bị cáo Hồ Văn S phạm tội “Cố ý gây
thương tích”;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình s năm 2015 được sửa đổi, bsung năm 2017 đối với bị Trần
Đức N;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38 B luật Hình s năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hồ
Văn S.
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Đức N 01 (một) năm tù, thời hạn tính tngày chấp hành
án.
4
- Bị cáo Hồ Văn S 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấpnh án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ
thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/11/2019, bị cáo Hồ Văn S đơn kháng cáo với nội dung: xin
được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
Ngày 08/11/2019, bị cáo Trần Đức N kháng cáo với nội dung: xin được
hưởng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt là cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
các bị cáo đều trình bày sau phiên tòa thẩm đã tự nguyện khắc phục hậu quả:
bị cáo S đã bồi thường thiệt hại cho bị cáo N 02 triệu đồng; bị cáo N đã bồi
thường thiệt hại cho bị cáo S 01 triệu đồng. Đồng thời, cả hai bị cáo đều xin Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Ncung
cấp chứng cứ có cha ruột là ông Trần Văn T là thương binh hạng 4/4.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên a phát biểu
quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Các bị cáo Hồ Văn S và Trần Đức
N kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai
nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của chính các bị cáo giai đoạn điều
tra, xét xử thẩm các chứng cứ khác trong hồ vụ án. Đủ căn cứ xác
định: các bị cáo đã có hành vi ng cây búa hung khí nguy hiểm gây thương
tích cho nhau, cụ thể: S bị tỉ lệ thương tật là 7% N bị tỉ lệ thương tật 18% cho
nhau. Cấp thẩm đã xét xcác bị cáo tội Cố ý gây thương tích” đánh g
đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân để xét xử bị cáo S 02 (hai) năm tù bị
cáo N 01 (một) năm tù phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi
phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo S vẫn kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo; bị cáo N xin hưởng hình phạt thấp nhất
cải tạo không giam giữ các bị cáo xuất trình tình tiết: các bị cáo đã tự nguyện
bồi thường thiệt hại cho nhau sau phiên tòa thẩm (bị cáo S bồi thường số tiền
02 triệu đồng, bị cáo N bồi thường s tiền 01 triệu đồng); xin giảm nhẹ hình phạt
cho nhau. Ngoài ra, bị o N cung cấp chứng cứ Giấy chứng nhận thương binh
hạng 4/4 của cha bị cáo ông Trần Văn T. Đây được xem những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh để giảm nhẹ một phần hình phạt cho c
bị cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng t xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c
khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Văn S Trần Đức N, sửa bản án hình sự
sơ thẩm về phần hình phạt của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
5
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình snăm 2015 được sửa đổi, b sung năm 2017. Xử phạt:
Bị cáo Trần Đức N từ 06 tháng đến 09 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2
Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự m 2015 được sửa đổi, b sung năm
2017. Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng về
tội “Cố ý gây thương tích”.
Các phần quyết định khác của bản án hình sthẩm không kháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn S ý kiến: không tranh luận với
Kiểm sát viên về tội danh; chỉ nêu những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh sự
cho bị cáo như: bị cáo nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, chấp hành tốt
chính sách pháp luật của địa phương, phạm tội lần đầu, thuộc thành phần lao
động nghèo, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế, sự việc xảy ra
phần lỗi của bị cáo N xuất phát từ hành vi sai trái của bị cáo N đã đánh con
bị cáo trước và mục đích của bị cáo tìm bị cáo N chỉ để trao đổi, nếu ngày xảy ra
sự việc bị cáo N khỏe thì bị cáo đã bị hại trong vụ án; bị cáo thành khẩn khai
báo ăn năn hối cải; sau phiên tòa thẩm đã tự nguyện khắc phục bồi thường
thiệt hại cho bị cáo N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị cáo S giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo
theo quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bsung năm
2017, để tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc gia đình.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức N ý kiến: Về trách nhiệm hình
sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho bị cáo như: hoàn cảnh gia đình nghèo, học thức thấp; bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo S cũng là bị hại trong vụ án đã xin giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo; bị cáo đã tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị cáo S
01 triệu đồng; cha của bị cáo có thời gian tham gia Cách mạng và được cấp giấy
chứng nhận thương binh, mẹ bị cáo bị bệnh phổi cần được sự chăm sóc của bị
cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo không yêu cầu giải quyết. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất vị đại diện Viện
kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
Kiểm sát viên có ý kiến tranh luận:
- Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo S đề nghị cho bị cáo
được hưởng án treo: Hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn trong
đời thường nhưng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là y búa gây thương
tích cho bị cáo N tỉ lệ thương tích 18% nên khung hình phạt bị cáo phải chịu
trách nhiệm hình sự từ 2 năm đến 5 năm tù. Viện kiểm sát đã xem xét các
tình tiết giảm nhẹ tch nhiệm nh sự, cũng như đánh giá tính chất, mức độ
hành vi phạm tội của bị cáo nên đã đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo S.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-TP
6
ngày 15/5/2018, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời
gian để răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo thành công n tốt, nên bị cáo S
không đủ điều kiện được hưởng án treo.
- Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo N: đã thống nhất quan
điểm của Kiểm sát viên đã trình bày nên không ý kiến tranh luận, vmức
hình phạt sẽ do Hội đồng xét xử quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bcáo Hồ Văn S Trần Đức N kháng cáo
trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo
để giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc
thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị o cũng đồng thời bị hại
trong giai đoạn điều tra tại phiên tòa thẩm, phù hợp với Biên bản khám
nghiệm hiện trường, đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, Giấy chứng nhận
thương tích số 05/CN ngày 01/4/2019, Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể
ngày 28/3/2019, Kết luận giám định pháp y về thương tích số 113/19/TgT số
114/19/TgT cùng ngày 22/4/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, phù hợp
với lời khai ca người làm chứng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ
vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: c bị cáo Hồ Văn S, Trần Đức N đã có hành
vi dùng cây búa hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nhau với tỷ lệ
thương tổn thương thể của Hồ Văn S 07%, tỷ lệ thương tổn thương thể
của Trần Đức N là 18%.
[3] Căn cứ vào quy định của pháp luật thành vi của các bcáo Hồ Văn
S, Trần Đức N đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, cấp sơ thẩm xét
xử các bị cáo về tội danh này, bị cáo Hồ Văn S theo quy định tại điểm đ khoản 2
Điều 134 bị cáo Trần Đức N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ
luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoàn toàn có n cứ,
đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Hồ Văn S Trần Đức N, Hội
đồng xét xử nhận thấy: các bcáo người đã tởng thành, đầy đủ năng lực
chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc nên làm không nên làm,
nhưng các bị cáo không m được điều đó đã sử dụng cây búa hung khí
nguy hiểm tấn công nhau vì lý do mâu thuẫn trong cuộc sống khi bị cáo S đi tìm
bị cáo N để hỏi nguyên nhân đánh con của bị cáo S, đã gây thương tích cho
nhau. Hành vi của c bcáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác
được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây tâm hoang
mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải mức hình phạt nghiêm để
giáo dục, răn đe bị cáo phòng ngừa chung cho hội. Cấp thẩm đã đánh
giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, khi quyết định hình
7
phạt đã xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân: các bị
cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải; xuất thân từ thành
phần lao động nghèo, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn
chế; bị cáo S nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự. Riêng đối với bị cáo N
không tiền án, tuy nhiên nhân thân xấu: năm 2003 bị Công an huyện Tân
Châu (nay thị Tân Châu) quản theo Nghị định 19/CP vhành vi “Gây
rối trật tự công cng”; Ngày 05/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị Tân Châu xử
phạt 02 năm về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm tù về tội Chống người
thi hành công vụ”, tổng hình phạt 03 năm , bcáo đã chấp hành xong
được xóa án tích; ngoài ra bị cáo N còn 01 tiền sự vào ngày 04/01/2017, bị
Công an thị n Châu, xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương
tích” chưa nộp phạt; được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo S 02
(hai) năm bị cáo N 01 (một) năm phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm
hôm nay các bị cáo kháng cáo: bị cáo N xin hưởng mức thấp nhất khung hình
phạt cải tạo không giam giữ bị cáo S xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng
án treo. Xét thấy, các bị cáo đều thống nhất trình bày sau phiên tòa sơ thẩm đã tự
nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho nhau: bị cáo S đã bồi thường cho bị
cáo N số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bị cáo N đã bồi thường cho bị o
S số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) các bị cáo cũng chính các bị hại
trong vụ án đã xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau. Ngoài ra, bị cáo N có cung cấp
tài liệu chứng cứ mới thể hiện Giấy chứng nhận thương binh của cha ruột bị cáo
ông Trần Văn T thương binh lao động hạng 4/4. Đây những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cấp thẩm chưa xem xét áp dụng cho c bị cáo quy
định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được
sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm
nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa, cũng như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo S, bị cáo
N.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo S, cũng ý
kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo S; yêu cầu kháng cáo xin được
hưởng hình phạt cải tạo không giam gicủa bị cáo N: Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy trong vụ án này các bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm để gây
thương tích cho nhau chỉ mâu thuẫn trong cuộc sống mà cách xử sự không
hợp ; riêng bị cáo N nhân thân xấu 01 tiền sự. Ngoài ra, xét thấy tình
hình hiện nay các thanh thiếu niên thường giải quyết các mâu thuẫn bằng các
hung khí nguy hiểm diễn biến ngày càng gia tăng. Để đảm bảo an ninh, trật tự,
an toàn hội ý thức chấp hành pháp luật của người dân, cũng như nhằm
giáo dục, răn đe phòng ngừa chung cho hội, cần cách ly các bị cáo ra khỏi
đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.
vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không đủ điều kiện để cho bị cáo S hưởng án
treo bị cáo N được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định
khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng
8
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo Điều 36 Bộ luật
Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng
cáo giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt
của Tòa án nhân dân thị Tân Châu, tỉnh An Giang như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Không chấp nhận kháng
cáo xin được hưởng án treo của bcáo S xin được hưởng hình phạt cải tạo
không giam giữ của bị cáo N.
[6] Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bcáo Hồ Văn S
Trần Đức N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp
luật.
[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ
Văn S và Trần Đức N, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt của Tòa án
nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hồ Văn
S kháng cáo xin hưởng mức thấp nhất khung nh phạt cải tạo không giam
giữ của bị cáo Trần Đức N.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều
51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, b sung năm 2017 đối với
bị cáo Trần Đức N;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều
51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, b sung
năm 2017 đối với bị cáo Hồ Văn S;
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Đức N 06 (sáu) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”, thời
hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Bị cáo Hồ Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Cố ý gây
thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h
khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
9
Về án phí: Bị cáo Hồ Văn S bị cáo Trần Đức N không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án nh sự thẩm số 48/2019/HSST
ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị Tân Châu, tỉnh An
Giang không kháng cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND cấp cao (1);
- VKSND tỉnh An Giang (2);
- TAND thị xã Tân Châu (2);
- Công an thị xã Tân Châu (1);
- Cục THADS tỉnh An Giang (1);
- Chi cục THADS thị xã Tân Châu (1);
- Bị cáo, bị hại (2);
- Trại tạm giam (1);
- Phòng KTNV và THA (1);
- PV 27 (1);
- Sở Tư pháp (1);
- Văn phòng (2);
- Lưu (2).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
10
Thái Văn Chấn Ngô Ngọc Phỉ
Phạm Thị Minh Châu
11
Tải về
Bản án số 10/2020/HS-PT Bản án số 10/2020/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất