Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 21/05/2025 của TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 21/05/2025 của TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Búk (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 09/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2004 với ông Mai Như M là hợp pháp.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
A ÁN NHÂN DÂN CNG H XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
HUYỆN KRÔNG BÚK Độc lp T do Hnh phúc
TNH ĐẮK LẮK
Bn án s: 09/2024/DS-ST
Ngày: 21/5/2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phn Hi đồng xét x sơ thm gm có:
Thm phán-Ch ta phiên tòa: Ông Lê Anh Thái.
Các Hi thm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Thọ;
2. Ông Y Mưng Niê.
- Thưphiên tòa: Ông Nguyn Quốc Đạt - Thư Tòa án nhân dân huyện Krông
Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại din Vin kim t nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên
t: Ông Y Đum Kpă Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 21 tháng 5 năm 2025, tại tr s a án nhân dân huyện Krông
Búk xét x sơ thm công khai v án th s: 81/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm
2024 v vic; “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử s13/2025/QĐXXST-DS ngày 01/8/2024; Quyết định hoãn
phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 16/4/2025; Quyết định hoãn phiên t số
08A/2025/QĐST-DS ngày 06/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1953 có mặt khi xét xử, vắng mặt
khi tuyên án.
Nơi cư trú: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
+ Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Xuân N, sinh năm 1969 (văn bản
ủy quyền ngày 24/4/2024) có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Mai Như M, sinh năm 1960 mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên
án.
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Hữu L, bà Lưu Thị L vắng mặt.
Nơi cư trú: Buôn M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Y C Niê, sinh năm 1960 –mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
3. Ông Y N Mlô, sinh năm 1954 – vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
4. Bà Lê Thị Phương T vắng mặt.
2
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
+ Đại diện theo uỷ quyền của bà Thảo: Ông Lê Minh T, sinh năm 1964 (văn bản uỷ
quyền ngày 17/4/2024) có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
5. Bà Mai Thị L, sinh năm 1954 – có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Nơi cư trú: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
6. Bà Nguyễn Thị H vằng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khi kin, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên t nguyên đơn ông
Nguyễn Hữu T, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Tô Xuân N trình bày:
Thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ cũ, nay thuộc
tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk của ông Mai Như M, Nguyễn Thị H
(nguồn gốc thửa đất của ông Y H Niê được hợp tác nông nghiệp C cấp ngày
01/6/1995, sau khi được cấp đất ông Y H Niê chuyển nhượng cho ông Trương Hữu L, bà
Lưu Thị L vào ngày 28/9/1995. Đến ngày 16/3/2003 ông L, bà L chuyển nhượng lại cho
ông Mai Như M, bà Nguyễn Thị H).
Ngày 20/4/2004, v chồng ông Mai Như M, bà Nguyn Th H chuyển nhượng li
diện tích đt trên cho v chng ông Nguyn Hu T, Mai Th L. Tt c nhng ln
chuyển nhượng trên các bên ch viết giy tay, không chng thc của quan nhà nước
thm quyn. Sau khi nhn chuyển nhượng diện tích đất nói trên ông M, bà H đã giao
cho ông T, bà L các giy t v ngun gc đất gm: Đơn xin cấp đất th của ông Y H
Niê du xác nhn Hp tác sn xut nông nghip C vào ngày 01/6/1995; Phiếu thu
l phí đt th dấu xác nhn Hp tác sn xut nông nghip C ngày 30/4/1995,
kèm theo là nhng giy chuyển nhượng liên quan đến thửa đt nói trên bàn giao đất
trên thực địa cho ông T, L qun lý, xác định ranh gii vi các h thửa đất lin k.
trí tha đất t cnh: Phía Đông giáp đưng, cnh dài 08m; Phía Tây giáp đưng,
cnh dài 7,80m; Phía Nam giáp đất ông Phạm Văn N, cnh dài 47,5m; Phía Bc giáp đất
bà Đàm Thị L, cnh dài 47,5m.
Đến tháng 10/2023, gia đình ông T, L làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Tuy nhiên đến nay chưa được giải quyết vì do
Thị Phương T tranh chấp với ông T, L đối với thửa đất trên. Sau đó UBND
thị trấn P có mời hai bên liên quan đến để giải quyết hòa giải 02 lần về vấn đề tranh chấp
đối với thửa đất trên nhưng hòa giải không thành. Theo thoả thuận tại giấy nhượng đất
thổ cư ngày 20/4/2004 giữa ông Mai Như M, bà Nguyễn Thị H cùng với gia đình ông T,
bà L đã thoả thuận ông Mai Như M, bà Nguyễn Thị H sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu
tranh chấp. Nhận thấy thửa đất đang btranh chấp, mặt khác ông M và H chưa hoàn
thành thủ tục để ông T, L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. vậy ông
Nguyễn Hữu T khởi kiện ông Mai Như M đến Tòa án yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2004.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà bị đơn ông Mai Như M trình bày:
Vào năm 1995, Hợp tác C chủ trương cấp đất thu lệ phí cấp đất cho nhân
3
dân là người đồng bào dân tộc tại địa phương. Trong đó ông Y H Niê là người được cấp
đất, do không sử dụng nên đến ngày 28/9/1995 ông Y H Niê đã chuyển nhượng lại cho
ông Trương Hữu L và bà Lưu Thị L, địa chỉ: Thôn A, P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Vào ngày 16/03/2003, ông Mai NM nhận chuyển nhượng thửa đất này của ông
Trương Hữu L Lưu Thị L, sau đó đến ngày 20/4/2024 thì ông M chuyển nhượng
thửa đất này cho ông Nguyễn Hữu T ông M có giao cho ông T giấy tờ xin cấp đất
chứng thực của Hợp tác C phiếu thu tiền có chứng thực của Hợp tác C. Thời gian
đó thì thửa đất này không có tranh chấp, hai bên đã thống nhất ranh giới, địa điểm lô đất,
diện tích đất. Hai bên đã nhất trí với nhau lúc đó xung quanh hàng xóm ai cũng biết đất
này là của ông T nhận chuyển nhượng.
Thửa đất trên nay là thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực
bãi gỗ cũ, nay thuộc TDP A, thị trấn P, huyện K, Đắk Lắk. Nay ông Nguyễn Hữu T
khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất lập ngày
20/4/2004, thì ông M xác nhận có bán cho ông Nguyễn Hữu T ông M đồng ý với
yêu cầu của ông T, đề nghị Toà án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 20/4/2004 giữa ông Mai Như M, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn
Hữu T, bà Mai Thị L là hợp pháp..
Quá trình tham gia tố tụng người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Y C
Mlô trình bày:
Vào thời điểm năm 1995, các hộ dân người đồng bào đơn xin cấp đất thổ , Hợp
tác xã sản xuất nông nghiệp C đã xét cấp đợt 2 cho ông Y H Niê vào ngày 01/6/1995.
chứng thực của Ban quản trị HTX C. biên lai thu lệ phí đất chứng thực của HTX C,
vào ngày 30/4/1995 đối với ông Y H Niê (trong hộ khẩu Y M Niê). Sau đó do không
có nhu cầu sử dụng ông Y H Niê có nhờ ông Y C sang nhượng thửa đất được cấp tại bãi
gỗ , nay thuộc Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đăk Lắk cho ông Trương Hữu
L, Lưu Thị L do ông Y H Nkhông biết chữ. Ông Y H Niê đã chết vào năm
2013, ngoài ra ông Y C Mlô không có ý kiến trình bày gì.
Quá trình tham gia tố tụng tại phiên toà ông Minh T người đại diện
theo uỷ quyền của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Phương T
trình bày:
Năm 2006 Lê Thị Phương T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người
đồng bào được cấp tại khu vực bãi gỗ thôn A, P cũ. Người được cấp đất ông Y N
Mlô, trú tại thôn E, P (nay tổ dân phố E, thị trấn P) huyện K, tỉnh Đắk Lắk (thời
điểm này ông Y N bảo vệ P). Để đảm bảo quyền sử dụng đất của mình, T yêu
cầu ông Y N m giấy xin xác nhận đất thổ được cấp. Ngày 26/5/2006, ông Y N
đưa cho T 01 giấy xin xác nhận đất thổ được UBND xã P xác nhận ngày
25/6/2006. Thấy có giấy tờ được chính quyền địa phương xác nhận, bà T chấp nhận việc
chuyển nhượng và hai bên viết giấy tay sang nhượng vào ngày 26/5/2006, được ban thôn
E xác nhận vào ngày 01/6/2006. Do chưa đủ tiền chuyển nhượng, đến ngày 05/6/2006 khi
bà T đưa đủ tiền và ông Y N Mlô đã viết vào giấy chuyển nhượng là đã nhận đủ tiền và
giao trọn quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Phương T.
Do mục đích là mua đất để cho con riêng, tại thời điểm mua nhà nước chưa cho kê
khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi con lớn không sinh sống Đắk Lắk
nên bà Lê Thị Phương T không đi kê khai khi được nhà nước cho kê khai với suy nghĩ là
4
sẽ bán đất cho người khác lấy tiền mua đất chỗ khác cho con do vậy mới phát sinh là đất
của bà T bị người khác nhận nhầm.
Nay ông Nguyễn Hữu T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2004 giữa ông Nguyễn Hữu T ông
Mai Như M đối với thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ
cũ, nay thuộc tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk hiện đang tranh chấp với
bà Lê Thị Phương T. Quan điểm của bà T là đề nghị Toà án căn cứ vào chứng cứ các bên
cung cấp để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Thị Phương T không yêu cầu độc lập đối với hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập ngày 26/5/2006.
Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi nghĩa vliên quan Lưu
Thị L trình bày:
Năm 1995, vợ chồng bà Lưu Thị L, ông Trương Hữu L có mua một thửa đất tại khu
vực bãi gỗ cũ, nay tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk của người đồng báo,
người đại diện bên bán là ông Y C cán bộ của ban quản trị Hợp tác xã, do người đồng
bào không biết chữ nên nhờ ông Y C đại diện bên sang nhượng. Đến năm 2003, do điều
kiện gia đình không nhu cầu sử dụng nên gia đình bà L nhượng lại thửa đất cho ông
Mai Như M, thôn A, xã P (nay là tổ dân phố B, thị trấn P), huyện K, kèm theo toàn bộ
giấy tờ bao gồm: Đơn xin cấp đất thổ cư; Hoá đơn thu lphí đất thổ cư, 400m
2
; Giấy sang
nhượng đất viết tay do bà Lương ký, diện tích đất như sau: dài 50m, ngang 8m, tổng diện
tích đất là 400m
2
. sức khoẻ nên vợ chồng ông Trương Hữu L, Lưu Thị L không thể
đến Toà án được, bà L cam đoan lời khai đúng và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật
về lời khai của mình.
Quá trình tham gia tố tụng người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị H trình bày:
H chồng là ông Mai Như M nhận chuyển nhượng từ ông Trương Hữu L,
Lưu Thị L 01 thửa đất có diện tích 400m
2
, (ngang 8m, dài 50m), toạ lạc tại thôn 13, xã P
(nay là tổ dân phố A, thị trấn P) với giá tiền là 13.000.000 đồng. Sau đó vì điều kiện gia
đình H, ông M chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Hữu T vào ngày 20/4/2004, khi
chuyển nhượng đất lại cho ông T thì H, ông M đã bàn giao giấy tờ liên quan đến
thửa đất cho ông T bao gồm: Đơn xin cấp đất thổ cư; Hoá đơn thu lệ phí đất thổ cư, 400m
2
;
Giấy sang nhượng đất viết tay giữa ông Mai Như M, Nguyễn Thị H với ông Trương
Hữu L, Lưu Thị L; Giấy sang nhượng đất thổ viết tay giữa ông Y H Niê (đại diện
bên bán là ông Y C với ông Trương Hữu L, bà Lưu Thị L).
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan bà Mai Thị L trình bày:
Vào ngày 20/4/004 vợ chồng bà L, ông Nguyễn Hữu T nhận chuyển nhượng lại của
ông Mai Như M, bà Nguyễn Thị H 01 miếng đất ở với diện tích 400m
2
thuộc khu vực bãi
gỗ , nay là tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận chuyển nhượng
vợ chồng ông M, H đã giao toàn bộ giấy tờ có liên quan đến thửa đất, bàn giao đất cho
vợ chồng bà L trên thực địa. Khi chưa kịp làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì gia
đình chuyển chỗ ở nên bị thất lạc giấy tờ, đến năm 2023 thì tìm lại được toàn bộ giấy tờ
liên quan đến mảnh đất nhận chuyển nhượng. Khi vợ chồng ông T, L đi đăng thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Thị Phương T tranh chấp với ông
5
T, L. Nay Mai Thị L yêu cầu Toà án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất ngày 20/4/2004 giữa vợ chồng với vợ chồng ông Mai Như M,
Nguyễn Thị H hợp pháp để vợ chồng bà được đăng ký cấp quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
Ti phiên tòa Kim sát viên đại din Vin kim sát nhân dân huyện Krông Búk phát
biu ý kiến v vic tuân theo pháp lut trong quá trình gii quyết v án ca Thm phán,
Hi thm nhân dân và ca nhng người tham gia t tng.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên
tòa đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng chức năng nhiệm vụ của mình đối trình tự thủ tục của phiên tòa thẩm; đối với
nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đầy đủ quyền
và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 68, 70, 71, 72, 73 và Điều 234 BLTTDS.
Về giải quyết nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên
tòa nhận thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa các bên không
tuân thủ về hình thức theo quy định tại Điều 691 Bộ luật dân sự năm 1995. Tuy nhiên các
bên giấy tờ xác nhận nguồn gốc đất hợp pháp, đất không thuộc trường hợp bị cấm
chuyển nhượng, khi thực hiện hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự,
đã giao đủ tiền chuyển nhượng nhận bàn giao đất trên thực tế. vậy đề nghị Hội đồng
xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2004 giữa ông
Mai Như M, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị L đối với thửa đất số
281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ cũ, nay thuộc tổ dân phố A, thị
trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là hợp pháp.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu trong h sơ v án đã được thm tra ti phiên t
và căn c vào kết qủa tranh lun ti phiên t, Hi đồng xét x nhn định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tơng Hữu L,
Lưu Thị L, bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không
do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về quan hệ pháp lut tranh chấp: Đây là loại việc tranh chấp về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thuc thm quyn gii quyết ca T án theo quy định tại
khoản 3 Điều 26 BLTTDS và loại vic tranh chp này thuc thm quyn gii quyết của
T án nhân dân huyện Krông Búk theo quy định ti điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[3]. V yêu cu của đương sự nhận thấy rằng: Vào ngày 20/4/2004 giữa ông Mai
Như M, bà Nguyễn Thị H cùng với vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị L giấy
sang nhượng đất thổ viết tay, không có chứng thực của quan thẩm quyền đối với
thửa đất số 281, tờ bản đồ s57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gcũ, nay thuộc tổ dân
phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đến tháng 10/2023, ông Nguyễn Hữu Tlàm
thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Tuy nhiên đến
nay chưa được giải quyết do Thị Phương T tranh chấp với ông T về thửa đất
trên. Sau đó UBND thị trấn P có mời hai bên liên quan đến để giải quyết hòa giải 02 lần
6
về việc tranh chấp đối với thửa đất trên nhưng hòa giải không thành. Vì vậy ông Nguyễn
Hữu T khởi kiện ông Mai Như M đến a án yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2004 là hợp pháp.
Về phía bị đơn ông Mai NM và người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn
Thị H công nhận giấy sang nhượng đất thổ ngày 20/4/2004 với bên nhận sang nhượng
là ông Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị L đúng. Ông M, bà H đã bàn giao đất và các giấy tờ
liên quan đến thửa đất cho ông T, bà L. Do tranh chấp nên đến nay ông T, L vẫn
chưa làm thủ tục đăng ký để xin cấp quyền sử dụng đất được. Nay ông M, bà H đề nghị
Toà án công nhận giấy sang nhượng đất thổ cư lập ngày 20/4/2004 là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Phương T cho rằng: Năm 2006 bà
Lê Thị Phương T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Y N Mlô, giấy
xin xác nhận đất thổ được UBND P xác nhận ngày 25/6/2006. Do mục đích
mua đất để cho con ở riêng, tại thời điểm mua nhà nước chưa cho khai cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do vậy mới phát sinh đất của bà T bị người khác nhận nhầm.
Nay ông Nguyễn Hữu T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 20/4/2004 giữa ông Nguyễn Hữu T ông Mai Như
M đối với thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ cũ, nay
thuộc tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk hiện đang có tranh chấp với bà Lê
Thị Phương T. Bà T đề nghị Toà án căn cứ vào chứng cứ các bên cung cấp để giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Giấy sang nhượng đất thổ lập ngày 20/4/2004 giữa
bên chuyển nhượng là Mai Như M, bà Nguyễn Thị H bên nhận chuyển nhượng là ông
Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị L đối với thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gcũ, nay thuộc tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nguồn
gốc của ông Y H Niê (Y M Niê) được Hợp tác xã nông ngiệp C t duyệt cấp vào ngày
01/6/1995. Đến ngày 28/9/1995, ông Y H Niê đã chuyển nhượng diện tích đất được cấp
cho ông Trương Hữu L, bà Lưu Thị L. Ngày 16/3/2003 ông L, bà L chuyển nhượng diện
tích đất này cho ông Mai Như M, giấy sang nhượng đất thổ do Lưu Thị L ký. Tất
cả những lần sang nhượng trên đều được viết giấy tay không có chứng thực của Cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Sau khi chuyển nhượng đất thổ cư vào ngày 28/9/1995, ông Y
H Niê (Y M Niê) đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến thửa đất cho người nhận chuyển
nhượng ông Trương Hữu L, Lưu Thị L, sau đó ông L, bà L giao lại cho ông Mai
Như M. Khi ông M, H chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Hữu T, Mai Thị L thì
đã giao lại toàn bộ giấy tờ có liên quan cho ông T, bà L bao gồm: Đơn xin cấp đất thổ cư
của ông Y H Niê dấu xác nhận Hợp tác sản xuất nông nghiệp C vào ngày 01/6/1995;
Phiếu thu lệ phí đất thổ dấu c nhận Hợp tác sản xuất nông nghiệp C ngày
30/4/1995. Sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 20/4/2004 ông M, H
đã bàn giao đất trên thực địa cho ông T, bà L, ông T đã quản diện tích đất nhận chuyển
nhượng từ năm 2004 cho đến nay.
Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập giữa các bên không
tuân thủ về hình thức theo quy định tại Điều 691 Bộ luật dân sự năm 1995. Tuy nhiên các
bên giấy tờ xác nhận nguồn gốc đất hợp pháp, đất không thuộc trường hợp bị cấm
chuyển nhượng, khi thực hiện hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự,
đã giao đủ tiền chuyển nhượng và nhận bàn giao đất trên thực tế. Vận dụng điểm b.2, tiểu
7
mục 2.3 mục 2 về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân
gia đình thì không coi hợp đồng hiệu do vi phạm hình thức. vậy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24/4/2004 giữa bên chuyển nhượng ông Mai
Như M, bà Nguyễn Thị H bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị
L là hợp pháp.
Về phía Lê Thị Phương T không cung cấp được chứng cứ chứng minh nguồn gốc
đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết ngày 26/5/2006 giữa
bà T và ông Y N Mlô. Tại biên bản hoà giải được lập ngày 13/5/2024 tại UBND thị trấn
P thể hiện ý kiến của ông Y N ông Y N có được cấp đất nhưng ông không xác định
được vị trí được cấp đâu. Do vậy không căn cứ để xác định thửa đất số 281, tờ bản
đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ cũ, nay thuộc tổ dân phố A, thị trấn P,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk là của ông Y N Mlô chuyển nhượng cho bà Lê Thị Phương To
ngày 26/5/2006.
Do bà Lê Thị Phương T không yêu cầu độc lập trong vụ án này nên dành quyền
khởi kiện cho T bằng một vụ án khác đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất lập ngày 25/6/2006 với ông Y N Mlô.
[4]. Về chi phí tố tụng: Chi pxem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng,
nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T tự nguyện chịu. Ông T đã nộp số tiền 2.000.000 đồng chi
phí tố tụng tại Toà án và đã chi phí xong.
[5]. Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm không giá ngạch. Bị đơn ông Mai Như M phải chịu án phí dân sự
thẩm không giá ngạch số tiền 300.000 đồng, ông Mai Như M người cao tuổi nên
được miễn án phí dân sự thẩm phù hợp với khoản 1 Điều 147 BLTTDS; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường v Quc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và l phí a án.
Vì các l trên:
QUYT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b
khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 691 Bộ luật dân sự năm 1995; Khoản 2 Điều 75 Luật đất đai m
1993;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 147 BLTTDS điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng điểm b.2, tiểu mục 2.3 mục 2 về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
Tuyên x:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2004 giữa bên
8
chuyển nhượng ông Mai Như M, Nguyễn Thị H bên nhận chuyển nhượng ông
Nguyễn Hữu T, bà Mai Thị L đối với thửa đất số 281, tờ bản đồ số 57, diện tích 377,5m
2
tại khu vực bãi gỗ cũ, nay thuộc tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk hợp
pháp. Vị trí thửa đất tứa cạnh: Phía Đông giáp đường, cạnh dài 08m; Phía Tây giáp
đường, cạnh dài 7,80m; Phía Nam giáp đất ông Phạm Văn N, cạnh dài 47,5m; Phía Bắc
giáp đất bà Đàm Thị L, cạnh dài 47,5m.
2. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thị Phương T quyền khởi kiện
bằng một vụ án khác đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
25/6/2006 với ông Y N Mlô.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng,
nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T tự nguyện chịu. Ông T đã nộp số tiền 2.000.000 đồng chi
phí tố tụng tại Toà án và đã chi phí xong.
4. Về án phí: Bị đơn ông Mai Như M được miễn nộp án phí dân sự thẩm không
có giá ngạch.
Nguyên đơn quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày k t ngày tuyên
án. Bđơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo án
thẩm trong thời hạn 15 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp
lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện Krông Búk;
- Chi cục THADS huyện Krông Búk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Đã ký
Lê Anh Thái
Tải về
Bản án số 09/2025/DS-ST Bản án số 09/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2025/DS-ST Bản án số 09/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất