Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 08/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | HOàng Đức H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 08/2024/HSST
Ngày 28/02/2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Huyền
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Diện và bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện
B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Trương
Thị Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B – tỉnh Bắc
Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/HSST ngày 01 tháng
02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 16
tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Đức H. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06/01/1990 tại huyện Ngân
Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc
Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn D và bà Nông Thị
H; có vợ là Trương Thị N và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2014
Công an thị trấn N, huyện N xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản. Đã thi hành xong.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 28/10/2023 Công an xã L, huyện B
phát hiện Hoàng Đức H trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn có
biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra H tự giác giao nộp 01 gói
nhỏ được gói bằng giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, tiếp bên trong được gói bằng
giấy hai mặt màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng. Tiến hành thử phản ứng
nhanh phát hiện chất ma túy đối với số chất có trong 01 gói nhỏ trên, kết quả thử
phản ứng trùng với đặc trưng phản ứng của chất ma túy heroin. Sau khi thử phản ứng,
số chất màu trắng có trong 01 gói nhỏ trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu
2
“H”.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành cân số chất
màu trắng có trong 01 gói nhỏ thu giữ của Hoàng Đức H có khối lượng là 0,13g
(không phẩy một ba gam). Sau khi cân toàn bộ số chất màu trắng trên được gói trong
mảnh giấy màu trắng và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” để gửi giám định.
Ngày 29/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bạch Thông tiến hành khám xét
chỗ ở của Hoàng Đức H. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số: 343/KTHS ngày 03/11/2023 của phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: - Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký
hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là
Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) và Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 25/8/2002 của chính phủ quy định
các danh mục chất ma túy và tiền chất. - Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký
hiệu GĐ có khối lượng là 0,13g (không phẩy một ba gam).
Quá trình điều tra Hoàng Đức H khai: Bản thân sử dụng và nghiện chất ma túy
từ năm 2012, 01 gói nhỏ mà Công an thu giữ của H vào ngày 28/10/2023 là ma túy
Heroine. Nguồn gốc số ma túy có được là vào khoảng hơn 14 giờ ngày 28/10/2023 H
ở cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn (H đang điều trị tại bệnh viện) thì gặp một
người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ có biểu hiện sử dụng ma túy, qua nói
chuyện H cùng người này thống nhất cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng. Người
đàn ông điều khiển xe mô tô chở H đi đến khu vực xã L, huyện B thì H xuống xe và
đưa cho người này số tiền 100.000đ, khoảng năm phút sau người này quay lại đưa
cho H 01 gói nhỏ chất ma túy và cùng nhau đi ra khu vực chợ L thuộc thôn B thì H
xuống xe. Trong lúc đợi người đàn ông H đi mua nước quay ra thì bị Công an xã L
bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSBT ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn truy tố đối với Hoàng Đức H về
tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ
luật hình sự.
* Điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine,...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định
truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật và tội danh như đã viện dẫn ở trên và đề
nghị: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp
dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38/BLHS xử phạt bị
cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi
hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng Điều
47/BLHS; Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng
3
gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T193” bên trong là mẫu chất phong bì ký
hiệu “GĐ” còn lại có 0,09g (không phảy không chín gam) cùng phong bì bao gói cũ
mẫu hoàn trả sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01
mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, 01 mảnh giấy hai mặt màu trắng cùng phong
bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H”. Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm
cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, không có khiếu nại về hành
vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và xin được giảm
nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh
tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự,
thủ tục qui định của Bộ luật hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa người tham
gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung, tại phiên tòa xác định: Do bản thân sử dụng và nghiện chất
ma túy nên hồi 16 giờ 50 phút ngày 28/10/2023 bị cáo Hoàng Đức H đã có hành vi
tàng trữ trái phép 0,13 gam chất ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản
thân và bị Công an xã L kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xét thấy lời khai nhận của bị
cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ qui định tại điểm c
khoản 1 Điều 249/BLHS thấy việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Đức H về tội: Tàng
trữ trái phép chất ma túy, là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính
sách quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an tại địa
phương. Cần được xử lý nghiêm bằng hình phạt pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị
cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
cáo: Không có tình tiết tăng nặng; được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn
khai báo” qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo có ông nội được nhà
nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.
[4]. Trong vụ án có người đàn ông lạ mặt điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi
mua ma túy đồng thời đưa ma túy cho bị cáo vào ngày 28/10/2023 tại thôn B, xã L.
Do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh.
[5]. Vật chứng: 01 phong bì niêm phong kí hiệu “T193” bên trong là mẫu chất
phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,09g (không phẩy không chín gam) cùng phong bì, bao

4
gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong
có 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, 01 mảnh giấy hai mặt màu trắng cùng
phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H”. Tất cả đều không có giá trị sử dụng – tịch
thu tiêu hủy.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, qua
xác minh tại địa phương không có tài sản riêng nên không áp dụng.
[7]. Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở địa bàn có điều kiện
kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí (có đơn xin
miễn án phí).
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
* Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm
phong kí hiệu “T193” bên trong là mẫu chất phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,09g
(không phẩy không chín gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định;
01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng loại
giấy vệ sinh ; 01 mảnh giấy hai mặt màu trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu ký
hiệu “H”. (Tất cả vật chứng, tình trạng, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng
giữa Công an – Chi cục thi hành án dân sự huyện B).
* Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Đức H.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND huyện;
- VKSND tỉnh;
- CA huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp;
- Bị cáo;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Triệu Thị Huyền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm