Bản án số 08/2023/DS-ST ngày 22/02/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2023/DS-ST ngày 22/02/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ) |
| Số hiệu: | 08/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN P Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 08/2023/DS-ST
Ngày: 22/02/2023
V/v tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Hùng Phước
2. bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Thảo, là Thư ký tòa án của Tòa án
nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ tham
gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền, Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố
Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2022/TLST-DS
ngày 14
tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp Hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng
đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 194/2022/QĐXXST-DS
ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Huỳnh Trung Q, sinh năm 1964, địa chỉ: ấp A, xã G,
huyện P, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: ông Võ Hà T2, sinh năm 1991,
địa chỉ: X khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ (theo văn bản ủy
quyền ngày 17/6/2021) – Có mặt.
Bị đơn: ông Lý Văn T, sinh năm 1974, địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, thành
phố Cần Thơ – Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1982
Địa chỉ: Z đường N, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
2. bà Hà Thị E, sinh năm 1963 – Vắng mặt
3. bà Huỳnh Thị Thúy K, sinh năm 1991 – Vắng mặt
- 2 -
Cùng địa chỉ: ấp A, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp cho bà E, bà K: ông Võ Hà T2, sinh năm 1991,
địa chỉ: X khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ (theo văn bản ủy
quyền ngày 12/12/2022) – Có mặt.
4. Văn phòng Công chứng J
Địa chỉ: W đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn – ông Huỳnh Trung Q trình bày: vào tháng 7/2020 ông
vay của ông Lý Văn T số tiền 2.000.000 đồng, ông đưa ông T giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS05925 cấp ngày 23/10/2019 để làm tin. Đầu tháng
8/2020 ông liên hệ ông T trả tiền vay thì ông T yêu cầu ông đến Văn phòng
Công chứng J để trả tiền và sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông. Tuy nhiên, do ông say rượu nên đã ký một văn bản mà không biết nội dung
và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Cuối tháng 9/2020 ông T khởi
kiện đòi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông mới biết
bị lừa dối ký hợp đồng. Ông đã gởi đơn tố cáo nhưng Công an cho rằng tài sản
chưa bị chiếm đoạt nên không khởi tố vụ án. Ông khởi kiện yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 giữa ông và ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn S trình bày: vào
ngày 13/01/2010 ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông
Huỳnh Trung Q diện tích 286m
2
với giá 90.000.000 đồng, đến ngày 05/9/2019
ông nhận chuyển nhượng thêm phần đất này ngang 06m dài đến kênh thủy lợi.
Hai bên có lập giấy tay, chưa làm thủ tục tách thửa sang tên. Ông không có ý
kiến trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông Q với ông T, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: quá trình chuẩn bị xét xử
Thẩm phán thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng; tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ quy định về
quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Q với ông T ngày 07/8/2020 về chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự, tự nguyện giao kết, có công chứng, nguồn gốc đất của ông Q nhận thừa
kế; về nội dung hợp đồng không trái mục đích, thời hạn, chủ sử dụng đất. Sau
khi ký hợp đồng thì ông Q giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T không
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, không có chứng cứ thể hiện việc giao nhận
tiền, không có thỏa thuận về nhà, cây trồng, tài sản gắn liền với đất, một phần
- 3 -
đất đã chuyển nhượng cho ông Sáu từ năm 2019. Vì vậy, bản chất giao dịch giữa
ông Q và ông T là vay tiền, nguyên đơn khởi kiện có căn cứ, đề nghị tuyên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2021 ông Huỳnh Trung Q yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 giữa ông và ông
Lý Văn T; ông T có nơi cư trú tại ấp B, xã G, huyện P, vì vậy Tòa án nhân dân
huyện P đã thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
để giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Bị đơn Lý Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham
dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải, do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử
ngày 13/01/2023, ngày 22/02/2023 nhưng bị đơn không đến tham dự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét
xử xét xử vắng mặt các đương sự này.
[3] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 giữa ông
Q và ông T được công chứng tại Văn phòng Công chứng J đúng hình thức theo
quy định pháp luật. Ông T từng khởi kiện yêu cầu ông Q giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và thửa đất nhưng sau đó không nộp tạm ứng án phí nên Tòa
án nhân dân huyện P đã trả lại đơn khởi kiện. Sau đó ông Q khởi kiện yêu cầu
hủy hợp đồng vì ông cho rằng giữa hai bên không có giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
[4] Ông Q khai tháng 7/2020 ông vay của ông T số tiền 2.000.000 đồng và
giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05925 cho ông T để làm tin sẽ trả
nợ. Ngày 07/8/2020 ông trả số tiền 10.000.000 đồng cho ông T nhưng ông T yêu
cầu ông đến Văn phòng Công chứng J, do ông đã uống rượu nên ký tên để lấy
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không biết là ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với giá 300.000.000 đồng. Văn phòng Công chứng J
từ chối tham gia tố tụng nên không xác định được thời điểm ông Q ký hợp đồng
có đang say rượu, có được giải thích về quyền và nghĩa vụ khi ký hợp đồng hay
không? Tuy nhiên, theo hợp đồng thì hai bên tự thực hiện việc thanh toán số tiền
300.000.000 đồng, Văn phòng Công chứng không chứng kiến. Tại đơn khởi
kiện ngày 07/9/2020 ông T nêu đã giao tiền đầy đủ nhưng không cung cấp biên
nhận việc giao số tiền này. Mặt khác, hợp đồng có thỏa thuận ông Q giao thửa
đất 440 và giấy tờ về quyền sử dụng đất cho ông T vào thời điểm sau khi ký hợp
- 4 -
đồng; nhưng thực tế ông T lại giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại
cho ông Q. Như vậy, lời khai của nguyên đơn là có cơ sở về việc ông trả tiền và
nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[5] Ông Q thừa nhận có việc vay tiền của ông T và giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông T, nhưng hiện nay ông T vắng mặt trong các lần hòa
giải, xét xử nên không cung cấp giấy tờ, biên nhận chứng minh giao dịch giữa
hai bên. Ngày 07/8/2020 ông T ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nhưng không xem đất thực tế, không xác định được ranh giới, mốc giới thửa đất,
tài sản trên đất…, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn chưa đăng ký
tại cơ quan đăng ký đất đai nên vẫn chưa có hiệu lực. Việc ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q với ông T là giả tạo nhằm che giấu một giao
dịch khác giữa hai bên, vì vậy hợp đồng này vô hiệu.
[6] Do ông T không có ý kiến hay văn bản thể hiện yêu cầu giải quyết hậu
quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử dành quyền khởi kiện cho đương
sự khi có yêu cầu.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn chịu án phí không giá ngạch đối với
hợp đồng vô hiệu và chi phí đo đạc, định giá.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 124, Điều 500, Điều 503 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
188, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020
giữa ông Huỳnh Trung Q với ông Lý Văn T vô hiệu.
Ổn định cho ông Huỳnh Trung Q quyền sử dụng đất thửa 440, tờ bản đồ số
16, diện tích 1.182,2m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05925
cấp ngày 23/10/2019 cho ông Huỳnh Trung Q. Đất tại ấp A, xã G, huyện P,
thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 51/TTKTTNMT ngày
10/8/2022 của Trung Tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần
Thơ).
Tách phần giải quyết bồi thường thiệt hại đối với hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 giữa ông Huỳnh Trung Q với ông Lý Văn T

- 5 -
do vô hiệu thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu khởi kiện.
Chi phí đo đạc, định giá: bị đơn nộp 5.000.000 đồng; nguyên đơn đã đóng
tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 5.000.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn nộp 300.000 đồng. Nguyên đơn được nhận
lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0007094 ngày 14/01/2022
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm
yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận
: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
-
Các đương sự;
- TAND Tp. Cần Thơ;
- VKSND H. P;
- THA H. P;
- Lưu (HS - 2b).
Liêng Thị Hồng Hoa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm