Bản án số 08/2022/HS-PT ngày 26/01/2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 08/2022/HS-PT Quảng Bình
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 08/2022/HS-PT Quảng Bình
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2022/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2022/HS-PT ngày 26/01/2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản |
|---|---|
| Tội danh: | 232.Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Bình |
| Số hiệu: | 08/2022/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lê Văn T về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2022/HSPT
Ngày: 26-01-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trn Hữu Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình
mở phiên toà phúc thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ l số 94/202021/HSPT
ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo Lê
Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2021/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm
2021 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thu, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn T, tên gọi khác: Tồ; sinh ngày 17 tháng 6 năm
1986 tại thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú thôn T, xã S, huyện L, tỉnh
Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P (đã
chết) và bà Thiều Thị Hồng P; vợ Nguyễn Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm
2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, tại Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPVPHC ngày 28/6/2021, Công an huyện Lệ
Thu xử phạt vi phạm hành chính 10.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản
trái pháp luật. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có ngưi có quyền lợi ngha vụ liên quan anh Hồ Văn V, bà
Thiều Thị Hồng P nhưng không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án
không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các ti liu có trong h sơ v án v din bin ti phiên to, ni dung v
án đưc tóm tt như sau:
2
Khoảng 04 gi 10 phút, ngày 18/7/2021, Lê Văn T đang điều khiển xe mô tô
nhãn hiệu Yamaha (không có biển kiểm soát) chở 03 hộp gỗ đi trên đoạn đưng
thuộc thôn H, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình thì bị Công an huyện Lệ Thủy phát
hiện, bắt giữ. Lê Văn T khai số gỗ trên là do T mua của anh Hồ Văn V ở xã N với
giá 2.000.000 đồng để sử dụng.
Theo kết luận của Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình thì ba hộp gỗ trên có
tổng khối lượng thực tế 0,369m
3
. Trong đó có 01 hộp, có khối lượng 0,097 m
3
, tên
gỗ: Hunh, tên khoa học: Heritiera cochincginensis Kost, tên địa phương: Huỵnh
Huẩn, gỗ nhóm III; và 02 hộp có khối lượng 0,272 m
3
(khối lượng cả hai hộp), tên
gỗ: Chủa, tên khoa học: Garuga Pierrei Guill, gỗ nhóm VII. Số gỗ trên thuộc loài
thực vật rừng thông thưng (gỗ thông thưng) theo quy định tại khoản 5 Điều 3
Thông tư số 26/2018/TT-BNNPTNT ngày 18/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn quy định về việc quản l, truy xuất nguồn gốc lâm sản.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2021/HS-ST ngày 16/11/2021 của Toà án
nhân dân huyện Lệ Thu quyết định tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm
quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Căn cứ vào điểm m khoản 1 Điều
232; các điểm i, s, t, khoản 1 Điều 51; Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 46, các điểm a,
b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2, điểm b
khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưng vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà
án. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (bốn) tháng tù. Thi hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày chấp hành án. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử l vật chứng, án phí
và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/11/2021, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc
cải tạo không giam giữ.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Lê Văn T khai nhận do đang cn gỗ để làm khung cữa trong nhà nên
bị cáo đã mua 03 thanh gỗ sau đó vận chuyển về nhà thì bị Công an bắt giữ. Bị cáo
biết việc vận chuyển gỗ là sai nên xin hứa sẽ không tái phạm. Hiện tại bị cáo là lao
động chính trong nhà, phải trực tiếp lao động sản xuất để nuôi vợ và 02 đứa con còn
nhỏ (01 đứa 07 tuổi và 01 đứa 02 tuổi) và chăm sóc mẹ già (bố đã chết); nếu bị cáo
phải đi tù thì các con của bị cáo sẽ không có điều kiện đi học; hiện tại bị cáo đã vay
mượn 10.000.000 đồng để nộp đủ tiền phạt vi phạm hành chính. Do đó bị cáo đề
nghị Tòa án cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để lao động, sản xuất nuôi sống
gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn
T, sửa bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm
bị cáo Lê Văn T đều khai nhận vào ngày 18/7/2021, bị cáo đã mua 03 thanh gỗ của
Hồ Văn V ở xã N, huyện L rồi dùng xe máy chở về nhà để làm khung cửa, trên
đưng chở gỗ về thì bị Công an huyện Lệ Thủy bắt giữ ngưi cùng tang vật.
[2] Theo kết luận của Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình thì 03 hộp gỗ trên
có tổng khối lượng thực tế 0,369m
3
. Trong đó có 01 hộp khối lượng 0,097 m
3
, tên
gỗ: Hunh, tên khoa học: Heritiera cochincginensis Kost, tên địa phương: Huỵnh
Huẩn, gỗ nhóm III; và 02 hộp có khối lượng 0,272 m
3
(khối lượng cả hai hộp), tên
gỗ: Chủa, tên khoa học: Garuga Pierrei Guill, gỗ nhóm VII (Bản án sơ thẩm xác
định 02 hp gỗ ny thuc gỗ nhóm II l không đúng với kt luận của Chi cc kiểm
lâm tỉnh Quảng Bình). Số gỗ trên thuộc loài thực vật rừng thông thưng (gỗ thông
thưng).
[3] Khối lượng gỗ mà bị cáo T vận chuyển trái phép là dưới mức quy định
của điều luật (điểm k khoản 1 Điều 232 của B luật hình sự quy định: Tng trữ, vận
chuyển, ch bin hoặc mua bán trái phép …; từ 20 m
3
đn dưới 40 m
3
gỗ loi thực
vật rừng thông thường). Tuy nhiên do trước đó, vào ngày 01/6/2021 bị cáo T có
hành vi vận chuyển 04 thanh gỗ, bị Công an huyện Lệ Thủy bắt giữ và đã Quyết
định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 10.000.000 đồng. Do đó, hành vi
mua và vận chuyển 0,369 m
3
gỗ (gỗ thông thưng) không có giấy t chứng minh
nguồn gốc hợp pháp ngày 18/7/2021 của bị cáo Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành
“Tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm
m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định
tại các điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là đy đủ và đúng
quy định. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có xuất trình đơn trình bày hoàn
cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; vợ không có việc
làm; 02 đứa con còn nhỏ, đứa lớn 07 tuổi và đứa nhỏ 02 tuổi; bố mất sớm nên bị
cáo phải chu cấp để nuôi mẹ (đơn trình bày có xác nhận của chính quyền địa
phương). Ngoài ra sau khi xét xử sơ thẩm thì bì cáo đã cố gắng vay mượn
10.000.000 đồng để nộp đủ số tiền phạt vi phạm hành chính ln trước (Biên lai thu
tiền số 0796859 ngày 01/12/2021 của Agribank huyện Lệ Thủy). Vì vậy, Hội đồng
xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
đối với bị cáo.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; việc bị cáo bị xử phạt vi phạm hành
chính trước đó là yếu tố định tội chứ không phải là tình tiết tăng nặng; tại giai đoạn
phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, hơn nữa hành vi phạm tội của bị
cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Căn cứ vào tính chất,
mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và các tình tiết giảm
nhẹ mà bị cáo được hưởng cũng như điều kiện bản thân của bị cáo thì thấy không
4
cn thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cn chấp nhận kháng cáo của bị cáo
để sửa bản án sơ thẩm, xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vo điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của B luật
tố tng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa phn hình phạt của Bản án
sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình như sau:
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; các điểm i, s, t, khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưng vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ về
“Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Thi hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Văn T
tính từ ngày U Ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết
định thi hành án và bản sao bản án của Tòa án.
Giao bị cáo Lê Văn T cho U Ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình
giám sát, giáo dục trong thi gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo Lê Văn T có
trách nhiệm phối hợp với U Ban nhân dân xã S trong việc giám sát, giáo dục bị
cáo T.
2. Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày
26 tháng 01 năm 2022).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Bình; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND, VKSND, CA, Chi cục
THADS huyện Lê Thủy;
- PV 06 Công an tỉnh Quảng Bình; (Đã k)
- UBND xã S, huyện L;
- Bị cáo T;
- Lưu: AV; Lưu HS.
Trần Hữu Sỹ
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng