Bản án số 08/2020/DS-PT ngày 13/02/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2020/DS-PT ngày 13/02/2020 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 08/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2020/DS - PT
Ngày 13-02-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng giao khoán tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các thẩm phán: 1. Bà Hoàng Lan Phương
2. Bà Lê Thị Dung
- Thư phiên a: Trịnh Thị Dung Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bà Thiều Thị Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm
2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số: 11/2019/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyệnThạch Thành bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 87/2019/QĐ-PT ngày
02 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên C ( Nông trường Q )
Địa chỉ: Đường Nam Đế, Khu đô thị mới Đông Hương, phường Đông
Hương,thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn T chức vụ: Giám đốc Nông
trường Q. Có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Trịnh Xuân L - Sinh năm: 1950.
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
2.2. Anh Nguyễn Danh B - Sinh năm: 1978
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
2.3. Anh Trịnh Xuân L1- Sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
2.4. Anh Nguyễn Văn S - Sinh năm: 1976
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
2.5. Bà Lại Thị T - Sinh năm: 1964
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Vắng mặt.
2
- Người đại diện theo ủy quyn tham gia phiên tòa của bà Lại Thị T: - Ông
Trịnh Huy N – Sinh năm 1960.
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt ( Giấy ủy quyền
ngày 11/9/2019 ).
2.6. Bà Tào Thị C- Sinh năm: 1948.
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyn tham gia phiên tòa của bà Tào Thị C: - Ông
Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1948.
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt ( Giấy y quyền ngày
11/9/2019 ).
2.7. Bà Lê Thị T1 - Sinh năm: 1968
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
2.8. Chị Nguyễn Thị T3 - Sinh năm: 1974
Địa chỉ: Thôn L, Xã M, Thạch Thành, Thanh Hóa. Có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích của bđơn: Ông Đình V Luật sư Công
ty Luật TNHH T thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Tầng 4 Tòa nhà H, số 102 phố T, phưng L, quận Đống Đa, TP Hà Nội.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND M, huyện Thạch
Thành, tỉnh Thanh Hoá. Người đi diện theo pháp luật: Ông Hồng V Chức
vụ: Phó Chủ tịch. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty TNHH
một thành viên C (Nông trường Q ) trình bày:
Nông trường Q được UBND tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 00009/QSDĐ/2760/QĐUB ngày 09/11/2000. Theo đó Nông trường Q
được quyền sử dụng 1396,92 (ha) đất. Năm 2002 thực hiện Nghị định số 01/CP
ngày 04/01/1995 của chính phủ. Nông trường Q thuộc Công ty TNHH một thành
viên C có ký hợp đồng giao nhận khoán đất với các hộ dân. Cụ thể: Hợp đồng giao
nhận khoán đất ngày 24/4/2005 với ông Nguyễn Danh B diện tích đất giao khoán
20.000 m
2
; Hợp đồng giao nhận khoán đất số 3031/HĐK ngày 06/06/2002 với
ThT diện ch đất giao khoán 15.000m
2
; Hợp đồng giao nhận khoán đất số
3003/HĐK ngày 06/06/2002 với bà Lại Thị T diện tích đất giao khoán 18.000 m
2
;
Hợp đồng giao nhận khoán đất ngày 30/01/2005 với anh Trịnh Xuân L1 diện tích
đất giao khoán 8.724 m
2
; Hợp đồng giao nhận khoán đất ngày 24/4/2005 với anh
Nguyễn Văn S diện tích đất giao khoán 10.000 m
2
; Hợp đồng giao nhận khoán đất
số 3007/HĐK ngày 21/03/2005 với ông Trịnh Xuân L2 diện tích đất giao khoán
5.634 m
2
; Hợp đồng giao nhận khoán đất số 3008/HĐK ngày 06/06/2002 với ông
Nguyễn Danh T (chồng Tào Thị C) diện tích đất giao khoán 55.510 m
2
(năm
2003 ông T chia cho T con gái 10.000 m
2
;
năm 2005 chia cho ông B con
trai 20.000 m
2
, chia cho ông S con trai 10.000 m
2
, nông trường thu hồi làm n
văn hóa 1.500 m
2
, ông Tcòn lại 14.010 m
2
. Năm 2010 ông Tchết. Theo hợp đồng
Tào Thị C là vợ của ông Tđược tiếp tục thực hiện hợp đồng diện tích 14.010
m
2
); Hợp đồng giao nhận khoán đất số 3054/HĐK ngày 29/9/2003 với chị Nguyễn
Thị T diện tích đất giao khoán 10.000 m
2
. Khi đó Nông trường trực thuộc UBND
3
tỉnh Thanh Hóa quản lý, là đơn vị hạch toán độc lập. Đất giao khoán cho các hộ
dân là đất thuộc quyn sử dụng của Nông Trường được UBND tỉnh Thanh Hóa cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00009 QSDĐ/2760/QĐUB ngày
09/11/2000 với tổng diện tích toàn Nông trường 1396,92 ha. Năm 2006 Nông
trường Q được UBND tỉnh Thanh Hóa bàn giao về Tập đoàn công nghiệp cao su
Việt nam đ trồng Cao su. Hiện tại ng trường Q trực thuộc Công ty TNHH
MTV cao su Thanh Hóa. Trong quá trình thực hiện hợp đồng giao nhận khoán đến
m 2010, 08 hộ dân đã chấp hành và thực hiện rất tốt trong việc chuyển đổi cây
trồng, các hộ đã cùng Nông trường kiểm hoa màu trên đất, áp giá, nhận tiền hỗ
trợ hoa màu, chuyển đổi trồng cao su đại điền theo quy hoạch kế hoạch của
công ty và nông trường, đã nhn cây giống, vt tư, phân bón tiền công chăm
sóc, công bảo vệ trông coi vườn y đến ngày 30/9/2010. Kể từ thời điểm ngày
30/9/2010 các hộ dân không chấp hành việc tiếp nhận đầu tư, không cho cán bộ
Nông trường vào vườn cây kiểm đánh giá chất lượng vườn cây hàng năm,
không chấp hành việc điều chỉnh lại hợp đồng theo nghị định 135/2005/NĐ
CP ngày 08/11/2005 cho phù hợp thực tế. 08 hộ dân đã vi phạm điều 4 của hợp
đồng hai bên đã cam kết thực hiện là: Nếu vì do nào đó một trong hai
bên muốn sửa đổi, bổ sung hợp đồng thì báo trước cho bên kia biết trước 30 ngày;
Nếu bên nhận khoán từ 1 - 3 lần vi phạm quy trình k thuật thì bên giao khoán
thanh hợp đồng thu hồi lại đất đã giao”. Nay công ty C yêu cầu Tòa án hủy
các hợp đồng giao nhn khoán đất với 8 hộ dân và buộc 8 hộ dân trả lại cho công
ty C diện tích đất toàn bộ cây cao su đã trồng trên đất (cụ thể yêu cầu ông
Nguyễn Danh B trả diện tích 19.600 m
2
; bà Thị T trả diện tích 14.600 m
2
;
Lại Thị T trả diện tích đất giao khoán 20.500 m
2
; Tào Thị C trả diện tích đất
giao khoán 14.400 m
2
(diện tích của Thống Chung tăng so với hợp đồng
là vì khi giao đất cho các hộ, ranh giới giữa các hộ với bờ đường, bờ núi được phân
cách bằng hthống bờ lô. Khi quy hoạch trồng cao su đại điền thì hệ thống b
được tận dụng đtrồng cao su. Do đó, diện ch của các hộ chính diện ch của
số cây cao su mà các hộ đã nhận trồng trên đất (quy chuẩn 555/1ha). Đây ng
diện tích thực tế mà bà Thống và bà Chung đã nhận tiền hỗ trợ hoa u; anh Trịnh
Xuân L1 trả diện tích 8.324 m
2
; anh Nguyễn Văn S trả diện tích 9.600 m
2
; ông
Trịnh Xuân L2 trả diện tích 5.234 m
2
; chị Nguyễn Thị T trả diện tích 9.600 m
2
.
Tại các bản tự khai, văn bản ghi ý kiến tại phiên tòa các bị đơn 8 hộ
dân trình bày:
Đất do các hộ dân được nhà nước giao nhận khoán của Nông trường Q
hợp đồng giao nhận khoán đất với nông trường Q, các hdân chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã chia nhỏ các sổ xanh theo hợp
đồng nhận khoán, thời hạn của hợp đồng nhận khoán vẫn còn do công ty tự ý
chuyn sang trồng cây cao su, việc phá mía trồng cây cao su không đảm bảo đời
sống nên không đồng ý hủy hợp đồng giao khoán đất không đồng ý trả lại đất.
Ngoài ra các hdân còn đòi Công ty Cao su đền thiệt hại về kinh tế trong
những m trồng mía (do chuyển từ trồng mía sang trồng cây cao su), thể chất và
tinh thần. Cụ thể anh Nguyễn Danh B yêu cầu đền 2.737.140.000 đồng,
Thị T yêu cầu đền 2.550.000.000 đồng, Lại Thị Tyêu cầu đền
2.457.840.000 đồng, anh Trịnh Xuân L1 yêu cầu đền bù 1.520.000.000 đồng, anh
4
Nguyễn Văn S yêu cầu đền bù 1.340.640.000 đồng, ông Trịnh Xuân L2 yêu cầu
đền bù 1.520.000.000 đồng, bà Tào Thị C yêu cầu đền bù 2.013.810.000 đồng, chị
Nguyễn Thị T yêu cầu đền bù 1.340.640.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã Thành Mỹ không có ý kiến
gì.
Tại Bản án số 11/2019/DS-ST ngày 27/9/2019 của Tòa án nhân dân
huyện Thạch Thành đã quyết định:
Căn cứ: Điều 388, khoản 4 điều 424 điều 425 Bộ luật dân sự m 2005;
Khoản 3 điều 26, điều 147 và khoản 1 điều 157 BLTTDS; Khoản 2 điều 24, khoản
2 điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định ván phí lệ phí Toà
án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH một thành
viên C (Nông trường Q). Hủy 08 hợp đồng giao nhận khoán đất giữa Nông trường
Q với 08 hộ dân. Cụ thể hủy các hợp đồng sau: Hợp đồng giao nhận khoán đất
ngày 24/4/2005 giữa Nông trường Q với ông Nguyn Danh B; Hợp đồng giao nhận
khoán đất số 3031/HĐK ngày 06/06/2002 giữa Nông trường Q với Thị T ;
Hợp đồng giao nhận khoán đất số 3003/HĐK ngày 06/06/2002 giữa Nông trường
Q với Lại Thị T; Hợp đồng giao nhận khoán đất ngày 30/01/2005 giữa Nông
trường Q với anh Trịnh Xuân L1; Hợp đồng giao nhận khoán đất ngày 24/4/2005
giữa Nông trường Q với anh Nguyễn n S; Hợp đồng giao nhận khoán đất số
3007/HĐK ny 21/03/2005 giữa Nông trường Q với ông Trịnh Xn L2; Hợp
đồng giao nhận khoán đất số 3008/HĐK ngày 06/06/2002 giữa Nông trường Q với
ông Nguyễn Danh T (chồng Tào Thị C); Hợp đồng giao nhận khoán đất số
3054/HĐK ngày 29/9/2003 giữa Nông trường Q với chị Nguyễn Thị T .
2. Buộc 08 hộ dân phải trlại đất đã nhận khoán toàn bộ cây cao su trên
đất cho Công ty TNHH một thành viên C (Nông trường Q ) theo các hợp đồng giao
khoán. Cụ thể như sau: ông Nguyễn Danh B trả diện tích đất 19.600 m
2
; Thị
T trả diện tích đất 14.600 m
2
; Lại Thị Ttrả diện tích đất 20.500 m
2
; Tào Thị
C trả diện tích đất 14.400 m
2
( diện tích thc tế mà Thống Chung đang
làm); anh Trịnh Xuân L1 trả diện tích đất 8.324 m
2
; anh Nguyễn Văn S trả diện
ch đất 9.600 m
2
; ông Trịnh Xuân L2 trả diện tích đất 5.234 m
2
; chị Nguyễn Thị T
trả diện tích đất 9.600 m
2
.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về án phí, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng,
nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của c đương sự theo quy định của pháp
luật.
* Ngày 03/10/2019, bị đơn là ông Trịnh Xuân L2, ông Nguyễn Danh B, ông
Trịnh Xuân L1, ông Nguyễn Văn S, bà Lại Thị T, Tào Thị C , Lê Thị T , bà
Nguyễn Thị T kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án thẩm yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét theo hướng không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn.
* Ngày 10/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyn Thạch Thành kháng nghị
Bản án dân sự thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 27/9/2019 của a án nhân dân
huyện Thạch Thành theo thủ tục phúc thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh
5
Hóa xét xvụ án theo thủ tục phúc thẩm theo hướng hy bản án thẩm để tiến
hành xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không
rút kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án. Viện kiểm sát không rút kháng nghị.
Người bảo vệ quyn lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị HĐXX không
chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn đề nghị HĐXX phúc thẩm
tạm đình chỉ vụ án để thẩm định, định giá tài sản.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải
quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm của HĐXX, thưvà đương sự tuân theo quy
định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 3 Điều 308; Điều 310 BLTTDS
hủy Bản án thẩm do không thu thập đầy đủ chứng cứ. Bị đơn không phải chịu
án phí DSPT. Không chấp nhận đề nghị của nguyên đơn về việc tạm đình chỉ vụ án
để thẩm định, định giá tài sản ảnh hưởng đến quyn kháng cáo của các đương
sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa,
nghe lời trình y của các đương sự ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh
Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét nội dung kháng nghị:
Công ty TNHH một thành viên Công ty C (Nông trường Q) được UBND
tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số
00009/QSDĐ/2760/QĐUB ngày 09/11/2000, được quyn sdụng 1396,92 ha đất.
Năm 2002 ng trường Q đã các hợp đồng giao nhận khoán đất với 8 hộ dân
với tổng din tích đất 101.358m
2
. Theo nguyên đơn khai 8 hộ dân nhận đất của
Nông trường để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trên đất theo quy
hoạch kế hoạch của công ty nông trường, nhận y giống, vật tư, phân n
và tiền công chăm sóc, các khoản nộp nghĩa vụ được tính bằng sản phẩm, nộp bằng
tin mặt... Kể từ ngày 30/9/2010, 8 hộ dân không chấp hành việc tiếp nhận đầu tư,
không cho cán bộ Nông trường vào vườn cây kiểm đánh giá chất lượng vườn
y hàng năm, không chấp hành việc điều chỉnh lại hợp đồng theo nghị định
135/2005/NĐ CP ngày 08/11/2005 cho phù hợp thực tế. Tám hộ dân vi phạm
hợp đồng đã kết. vậy, Công ty TNHH một thành viên C đã m đơn khởi
kiện yêu cầu Tòa án hủy các hợp đồng giao nhận khoán đất với 8 hộ dân và buộc 8
hộ dân trả lại cho Công ty TNHH một thành viên C toàn bộ diện tích đất và toàn bộ
y cao su đã trồng trên đất.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó hủy
08 hợp đồng giao nhận khoán; buộc 08 hộ dân phải trả lại đất đã nhận khoán
6
toàn bộ cây cao su trên đất cho Công ty TNHH một thành viên C theo các hợp
đồng giao khoán. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không thẩm định tại chỗ, định giá tài sản
trên đất, không xác định được tài sn trên đất giao khoán gồm những tài sản do
ai đầu tư, chăm sóc, trị giá bao nhiêu. Tài sản trên đất giao khoán là của riêng bị
đơn hay của toàn hộ gia đình bị đơn. Tại quyết dịnh bản án của cấp thẩm buộc
08 hộ dân phải trả đất toàn bộ cây cao su trên đất nhưng không đưa các thành
viên trong gia đình bị đơn tham gia với tư cách là người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Chưa xác định cụ
thể ranh giới 400m
2
đất số diện tích đất phục vm n trại tạm thời để bảo
vệ sản xuất, cất giữ công cụ… mà Nông trường Q không yêu cầu c hộ dân phải
trả cho Nông trưng. Mặt kc, quyết định của bản án thẩm không sở để
thi hành án.
Do cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên
tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự nên thống nhất
quan điểm của đại diện VKS hủy bản án sơ thẩm; căn cứ Khoản 3 Điều 308, Điều
310 của BLTTDS.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của NQ
326/2016/UBTVQH14 quy định vmức thu, miễn, giảm, nộp quản và sử dụng
án phí lệ phí Tòa án quy định: Đối với những vụ việc đã được thụ để giải
quyết theo thủ tục thẩm hoặc theo thtục phúc thẩm trước ngày 01/01/2017
nhưng sau ngày 01/01/2017 mới giải quyết theo thủ tục thẩm, phúc thẩm thì
các quyết định về án phí, lphí Tòa án được thực hiện theo quy định của Pháp
lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009…”. Vụ án này thụ lý từ năm 2012, nhưng cấp
thẩm căn cứ NQ 326/2016/UBTVQH14 để buộc mỗi bị đơn phải chịu 300.000đ
là không chính xác.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
Các nội dung kháng cáo của bị đơn sẽ được xem xét, giải quyết lại ván
theo thủ tục sơ thẩm.
[3]. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị HĐXX phúc
thẩm tạm đình chỉ ván để thẩm định, định giá tài sn: Xét thấy nếu cấp phúc
thẩm thẩm định, định giá tài sản đang tranh chấp sau đó đưa ra xét xử là mất quyền
kháng cáo của các đương sn HĐXX thống nhất quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát không chấp nhận đề nghị y của người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn.
[4]. Về án phí: Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xử khi giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Viện kiểm sát kháng nghị, bị đơn kháng cáo dẫn đến hủy bản án sơ thẩm nên
bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; căn cứ khoản 3 Điều 148 của
7
BLTTDS. Khoản 3 Điu 29 NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào Khoản 3 Điều 308; Điều 310; khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố
tụng dân sự. Khoản 3 Điều 29 NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Hủy bản án dân sự thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 27 tháng 9 m 2019 của
Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành chuyển hồ vụ án cho a án nhân n
huyện Thạch Thành giải quyết lại theo thủ tc sơ thẩm.
2. Về án phí: Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xử khi giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trịnh Văn L2, anh Nguyễn Danh B, anh Trịnh
Xuân L1, anh Nguyn Văn S, bà Lại Thị T, bà Tào Thị C, bà Lê Thị T, chị Nguyễn
Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn tr lại cho mỗi người
300.000đ theo biên lai thu số 3805, 3806, 3814, 3811, 3812, 3813, 3809 3810
ngày 08/10/2019 của Chi cục THADS huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND cấp cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND huyện Thạch Thành;
- Chi cục THADS huyện Thạch Thành; (đã ký)
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ./.
Lê Thị Thủy
Tải về
Bản án số 08/2020/DS-PT Bản án số 08/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất