Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 07/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bn án s: 07/2026/DS-PT
Ngày 15 - 01 - 2026
V/v “Tranh chấp kiện đòi
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Sâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đinh Huy Lưỡng.
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Nam Tùng - T, Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trsở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai ván thụ số 104/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 10
năm 2025 về việc Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s119/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12
năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 115/QĐ-PT ngày 31/12/2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức Ph, sinh năm 1985; Địa chỉ: tổ dân phố L,
phường ĐM, tỉnh Bắc Ninh, (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn AB, BL, tỉnh
Ninh Bình, (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trương Thị Nh, sinh năm 1989; Địa chỉ: tổ dân phố KLH, phường VH,
tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt).
- Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1969; Địa chỉ: thôn AB, BL, tỉnh Nình
Bình. (có đơn xin vắng mặt).
4. Người làm chứng: Anh Hắc Ngọc H, sinh năm 1980. Hiện đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG. (vắng mặt).
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph.
6. Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2024, bản tự khai, trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph trình y:
Anh Ph quen biết chị Trương Thị Nh và anh Phạm Văn N thông qua việc
kinh doanh buôn bán đất. Qua nhiều ln tiếp xúc thì anh Ph được biết là anh N có
đất phân thuộc dự án khu đô thị LT, TA, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
(sau đây gọi tắt là dự án LT) và dự án khu dân cư thương mại và CV - Thanh Hoá
(sau đây gọi tắt CV - Thanh Hóa) để bán, do anh N đầu mối phân phối đất
của anh Hắc Ngọc H, anh H Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty cphần
đầu tư Mr là chủ đầu tư các dự án đó. Sau đó anh Ph và chị Nh đề nghị anh N bán
cho anh Ph chị Nh 70 đất của dán LT, được anh N đồng ý và hẹn ngày
19/4/2021 gặp nhau tại trụ sở Công ty cphần đu tư Mr (sau đây gọi tắt là Công
ty Mr) để làm thủ tục mua bán.
Ngày 19/4/2021 khi gặp nhau tại trụ sở Công ty Mr, anh Ph chị Nh đã
thống nhất thỏa thuận với anh N vviệc anh N bán cho anh Ph chị Nh 70
đất thuộc dự án LT; việc thỏa thuận chỉ nói miệng với nhau kng lập thành
văn bản. Sau đó anh N và chị Nh bảo anh Ph chuyển 10 tỷ đồng cho anh N là tin
đặt chỗ mua 35 đất thuộc dán LT. Anh Ph đã chuyển tiền cho anh N số tiền
10 tỷ đồng từ tài khoản của anh Ph tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
số 19188013566666 tên chủ tài khoản Nguyễn Đức Ph sang tài khoản của anh N
tại Ngân hàng Vietinbank số 018 352 36789 mang tên Phạm Văn N; chị Nh
chuyển cho anh N 09 tỷ. Tổng cộng 19 tỷ đồng, anh N chuyển cho anh H 12 tỷ
đồng, 07 tỷ đồng còn lại anh N hưởng. Sau đó anh N dẫn anh Ph chị Nh đến
gặp anh Hắc Ngọc H để ký hợp đồng. Anh N, anh H nói là dự án chưa hoàn thành
cần phải bảo mật thông tin nên chỉ 01 người đứng ra ký, anh Ph đồng ý để một
mình chNh hợp đồng. Do đó, chị Nh anh H đã thoả thuận mua 70
đất dự án LT thông qua anh N. Sau khi nhận được tiền, anh N anh H không
làm thủ tục chuyển nhượng 70 đất thuộc dán LT theo thỏa thuận cho anh Ph
chị Nh, anh Ph tìm hiểu thì được biết anh H không phi chủ đầu của d
án LT, anh H không đất tại dự án LT để bán, do đó, anh Ph chị Nh yêu cầu
anh H và anh N trả li tiền. Anh H hiện đã bị xét xử hình sự về tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và anh N là bị hại trong vụ án của anh H.
Do liên quan đến anh H đã nhận tiền của anh Ph thông qua anh N, nên
anh Ph công nhận stiền được đối trừ với anh N như sau:
Lần 1: Ngày 15/10/2022 anh Phạm Văn Thân (là anh trai anh N) đã chuyển
khoản cho anh Ph số tiền 300.000.000 đồng là để khắc phục trả cho anh N.
Lần 2: Ngày 08/02/2023 anh Ph nhận ttài khoản của anh Phạm Văn N
800.000.000 đồng theo văn bản thỏa thuận s2803 ngày 08/02/2023 dự án CV -
Thanh Hóa.
3
Lần 3: Ngày 28/3/2023 anh Ph nhận từ tài khoản của anh Phạm Văn N
2.137.500.000 đồng theo văn bản thỏa thuận 2803 ngày 08/02/2023 dự án CV -
Thanh Hóa.
Lần 4 : Chị Nh chuyển khoản cho anh Ph 3.000.000.000 đồng.
Tổng số tiền anh Ph công nhận anh N đã trả lại là: 6.237.500.000đ; stiền
còn lại anh N chưa trả anh Ph 3.672.500.000đồng.
Anh Ph đề nghị a án giải quyết: buộc anh N phải trả cho anh Ph số tiền
3.672.500.000đồng, không yêu cầu anh N phải trả lãi số tiền này. Do trước khi
khởi kiện anh Ph không gặp được chị Nh nên không xác định được số tiền anh H
và anh N khắc phục hậu quả. Sau khi gặp chị Nh tại Tòa án và đối chiếu tài khoản
thì anh Ph thống nhất với chị Nh về số tiền chị Nh đã chuyển cho anh Ph để khắc
phục hậu quả việc mua đất của dán LT. Như vậy, anh Ph xác định anh N khắc
phục hậu quả bằng cách chuyển khoản 2.937.500.000 đồng để anh Ph được mua
đất tại dự án CV - Thanh Hóa chị Nh đã chuyển khoản cho anh Ph stiền
4.250.000.000 đồng (đây tiền anh H, anh N khắc phục hu quả việc mua 70
đất dự án LT ngày 19/4/2021) 300.000.000 đồng anh Thân chuyển cho anh Ph
(thay anh N để khắc phục hậu quả).
Do vậy, đối trừ thì anh N đã trả cho anh Ph 7.487.500.000 đồng. Anh Ph yêu
cầu anh N phải trả cho anh Ph số tiền còn lại 2.512.500.000 đồng không
yêu cầu phải trả lãi số tiền này.
Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Văn N
bày như sau:
Ngày 18/3/2021 anh N Cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
1803-CK Hợp đồng vay vốn số 1803/2021/MRC-HDVV với Công ty cphần
đầu tư Mr (viết tắt là Công ty Mr) do ông Hắc Ngọc H Chủ tịch Hội đồng quản
trị để mua của Công ty Mr 300đất thuộc dự án LT. (Các văn bản này kèm theo
phiếu thu cùng toàn bộ giấy tờ liên quan anh N đã nộp cho quan cảnh sát
điều tra Công an tỉnh Bắc Giang để phục vụ cho việc xử lý hình sự đối với Hắc
Ngọc H).
Đến giữa tháng 4 năm 2021, qua các mối quan hệ xã hội, chị Trương Thị Nh
tìm gặp anh N và đặt vấn đề anh N chuyển nhượng lại một số đất thuộc dán
LT cho chị Nh. Sau khi gặp nhau trao đổi qua điện thoại, thì anh N chị Nh
thống nhất anh N chuyển nhượng cho chị Nh 70 đất thuộc d án LT và hẹn
nhau đến trụ sở Công ty Mr để làm hợp đồng cho chị Nh. Khoảng 14 giờ ngày
19/4/2021 anh N mặt tại trụ sở Công ty Mr, địa chỉ tại s180, TDH, phường
TH, quận Cầu Giấy, Nội gặp chị Nh; đi cùng chị Nh anh Thịnh (chồng
chị Nh) một người nữa chị Nh giới thiệu tên Ph bạn làm ăn cùng với
chị Nh. Lúc này anh N mới biết anh Ph, trước đó thì anh N không quen biết anh
Ph. Tại trụ sở Công ty Mr, thì chỉ anh N chị Nh thảo luận đi đến thống
nhất anh N nhượng lại cho chị Nh 70 lô đất của dự án LT, với điều kiện
Công ty Mr hợp đồng trực tiếp với chị Nh và chị Nh người đứng tên trong
4
hợp đồng; giá trị của việc chuyển nhượng là 19 tỷ đồng bao gồm 12 tỷ đồng tiền
đóng vào Công ty đặt chỗ và 07 tỷ đồng tiền lãi anh N được hưởng. Sau đó chị
Nhunng chuyển khoản cho anh N 09 tỷ đồng anh Ph chuyển khoản cho anh N
10 tỷ đồng. Anh N thắc mắc hỏi chị Nh sao anh Ph lại chuyển khoản cho anh N
10 tỷ đồng, thì chị Nh nói với anh N chcần biết anh N đã nhận đủ số tiền
19 tỷ đồng tách hợp đồng ra cho chị Nh được; còn ai chuyển tiền cho anh N
thì kng quan trọng. Khi chị Nh nói như vậy, thì anh Ph không có ý kiến gì, nên
anh N ng chấp nhận. Sau đó anh N dẫn mọi người đi gặp anh Hắc Ngọc H để
hợp đồng; khi gặp anh H thì chỉ anh H một mình chị Nh đã Cam kết
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1904-CK Hợp đồng vay vốn số
1904/2021/MRC-HDVV và Phụ lục về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
19-04/PL ngày 19/4/2021 về việc Công ty Mr chuyển nhượng cho chị Nh 70
đất thuộc dự án LT, lúc này anh Thịnh, anh Ph đi cùng đều biết và nhất trí không
ai ý kiến gì. Sau đó anh N đã chuyển khoản cho anh H 12 tỷ đồng tiền chị Nh
đặt chỗ mua 70 đất của dán LT. Đến giữa năm 2022 do Công ty Mr không
thực hiện đúng theo như hợp đồng đã ký với chị Nh, thì chị Nh đã đòi Công ty Mr
phải thanh hợp đồng và đòi anh H trả lại tiền. Sau đó anh H trả lại cho chị
Nh 06 tỷ đồng một số mảnh đất dán CV - Thanh Hóa trị giá 6,5 tỷ đồng.
Còn lại số tiền 10 tỷ 100 triệu đồng, anh N đã phải đứng ra trả cho chị Nh bằng
7.000m
2
đất Phú Quốc chị Nh đã viết giấy xác nhận đã trả đủ số tiền 19 tỷ
đồng đặt chỗ mua 70 lô đất dự án LT, không thắc mắc hay khiếu nại gì.
Nay anh Ph khởi kiện đòi anh N số tiền 10 tỷ đồng, do anh Ph chuyển vào
tài khoản của anh N để mua đất dán LT; Quan điểm anh N không đồng ý,
giữa anh N và anh Ph không có bất cứ một giao dịch nào từ hợp đồng mua bán 70
đất dán LT cho đến hợp đồng dự án CV - Thanh Hóa, anh N hoàn toàn
không liên quan.
Đối với số tiền 10 tỷ đồng anh Ph chuyển vào tài khoản của anh N cùng với
việc vợ chồng chị Nh, anh Th chuyển cho anh N 09 t đồng, thì anh N và Công ty
Mr đã hoàn trhết li cho chị Nh, chị Nh là người đứng tên trên hợp đồng
mua 70 đất của dán LT. Nếu anh Ph không mua được đất của dán LT, thì
anh Ph phải đòi chị Nh chứ không phải đòi anh N, số tiền 19 tỷ đồng anh N
nhận từ chị Nh đặt chỗ mua 70 đất, đã được anh N cùng Công ty Mr đã thanh
toán và trả hết cho chị Nh; ngày 18/6/2023 chị Nh đã viết giấy xác nhận công nợ
ghi nhận anh N đã trả chị Nh toàn bộ số tiền 19 tỷ đồng mà chị Nh chuyển khoản
cho anh N để mua 70 lô đất của dự án LT.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị Nh trình bày: Chị
Nh quen biết anh Nguyễn Đức Ph thông qua việc môi giới bất động sản. Trước
ngày 19/4/2021 chị Nh anh Ph không quen biết anh N, thông qua một người
tên T, thì chNhanh Ph được biết thông tin là anh Phạm Văn N là người đứng
ra phân phối bán đất nền của dán khu đô thị LT, TA, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang (nay Bắc Ninh). Chị Nh anh Ph thống nhất cùng nhau góp
5
tiền đặt mua 70 lô đt của khu đô thị LT của anh N; mi người góp một nửa tiền.
Sau đó chị Nh liên lạc với anh N được anh N i đồng ý bán cho 70 đất tại
Dự án LT. Hai bên thống nhất gặp nhau tại trụ sở Công ty Mr là chủ đầu tư dự án
LT để thực hiện giao dịch. Ngày 19/4/2021 chị Nh cùng chồng anh Tạ Tiến
Thịnh, anh Ph anh T (người môi giới) đến gp anh N như đã hẹn. Tại đây chị
Nh anh Ph cùng trao đổi với anh N hai bên đi đến thống nhất anh N sẽ
bán cho chị Nh anh Ph 70 lô đất của dự án LT thỏa thuận trả tiền theo tiến
độ của dự án; trước mắt chị Nh anh Ph phải đặt cọc cho anh N 19 tỷ đồng,
trong 19 tỷ đồng này chị Nh được biết bao gồm 12 t đồng tiền nộp vào Công ty
Mr là chủ đầu tư dự án LT để đặt chỗ và 07 tỷ đồng tiền lãi anh N được hưởng
do bán lại 70 đất cho chị Nh. Ngoài 19 tỷ đồng chuyển cho anh N, thì chị Nh,
anh Ph anh T thống nht chị Nh anh Ph phải trả cho anh T tiền công môi
giới 2,1 tỷ đồng, tương đương 30 triệu đồng/01 lô. Sau đó chị Nh chuyển
khoản tiền đặt cọc cho anh N 09 tỷ đồng anh Ph chuyển khoản tiền đặt cọc
cho anh N là 10 tỷ đồng; còn tiền công môi giới của anh T thì chNh trả anh T 02
tỷ 50 triệu đồng và anh Ph trả anh T 50 triệu đồng (chị Nh trả anh T bằng chuyển
khoản, còn anh Ph trả anh T bằng hình thức gì thì chị Nh không rõ).
Như vậy, trong tổng s21,1 tỷ đồng mua đất, thì chị Nh và anh Ph mỗi
người trả một nửa. Sau khi chị Nh và anh Ph chuyển tiền cho anh N, thì anh N
giải thích Công ty Mr do anh Hắc Ngọc H làm giám đốc mới chủ đầu thực
sự của dự án LT; anh N người mua của anh H và bán lại cho chị Nh và anh Ph;
nhưng hợp đồng phải với anh H. Chị Nh anh Ph đồng ý, nên anh N
dẫn chị Nh anh Ph đi gặp anh H đchị Nh anh Ph hợp đồng mua 70
đất với anh H. Khi gặp anh H thì anh H nói với chị Nh anh Ph do dự án
đang trong quá trình hình thành, nên không ký hợp đồng đặt cọc với nhiều người.
Chị Nh và anh Ph thống nhất chị Nh sẽ là người đứng tên ký hợp đồng mua 70
đất của dự án LT với Công ty Mr. Sau đó chị Nh đã hợp đồng với anh H bằng
hình thức Cam kết chuyển nhượng QSDĐ và Hợp đồng vay vốn, nhưng thực chất
đây là tiền đặt cọc để giữ chỗ mua 70 lô đất, vì lúc đó chị Nh và anh Ph được anh
H cung cấp dự án mới được phê duyệt, lập bản đồ 1/500 chưa được phép bán.
Thực chất tổng giá trị của hợp đồng chị Nh và anh Ph mua 70 lô đất của dự án LT
70 tỷ đồng, tương đương 01 tỷ đồng/01 lô; chị Nh anh Ph phải trả trước 12
tỷ đồng để đặt cọc giữ chỗ (số tin này anh N người chuyển cho anh H anh
N đã nhận 19 tỷ đồng từ chị Nh anh Ph); số tiền 58 tỷ đồng còn lại của hợp
đồng thì chị Nh anh Ph sau này sẽ thanh toán trực tiếp cho anh H theo tiến độ
hoàn thành của dự án LT.
Sau khi chị Nh đứng ra ký hợp đồng đặt cọc giữ chỗ mua 70 lô đất của dự án
LT, thì anh Ph có nói với chị Nh là phải tách hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của
mỗi bên trong giao dịch. Chị Nh đồng ý và cùng anh Ph liên hệ với anh H để làm
thủ tục tách hợp đồng. Đến ngày 08/6/2022 thì chị Nh, anh Ph và anh H đã làm
thủ tục tách hợp đồng, theo đó chị Nh đứng hợp đồng mua 35 đất anh Ph
6
đứng hợp đồng mua 35 đất. Việc chị Nh anh Ph tách hợp đồng không liên
quan với anh N. Sau khi chị Nh anh Ph tách hợp đồng, thì hợp đồng không
được thực hiện, do anh H không phải là chđầu dán LT; chị Nh anh Ph
yêu cầu anh H trả lại tiền. Anh H nhất trí trả lại chị Nh và anh Ph 19 tỷ đồng. Anh
H nêu phương án trả là trả một phần bằng tiền một phn trả bằng đất tại dán
khu dân CV, tỉnh Thanh Hóa. Chị Nhanh Ph đồng ý. Do đó, anh H làm thủ
tục chuyển cho chị Nh 05 đt chuyển cho anh Ph 04 lô đất tại CV - Thanh
Hóa. Đồng thời anh H chuyển vào tài khoản cho chị Nh số tiền 8.850.000.000
đồng. Sau khi nhận được số tiền từ anh H, thì chị Nh đã chuyển cho anh Ph một
nửa 4.425.000.000 đồng. Chị Nh xác định số tiền này của anh N anh H
chuyển để khắc phục việc mua bán 70 lô đất dự án LT không thành.
Chị Nh xác định trong số tiền 10 tỷ đồng anh Ph chuyển cho anh N, thì
01 tỷ đồng tiền trả công môi giới cho anh T, còn lại 09 tỷ đồng tiền đặt
cọc. Sau khi việc mua bán đất không thành, anh H anh N đã khắc phục trả cho
anh Ph 4.425.000.000 đồng và 04 đất thuộc dự án Khu dân cư thương mại CV,
tỉnh Thanh Hóa tổng trị glà 2.937.500.000 đồng; ngoài ra anh Ph còn nhận
của anh Phạm Văn Thân (anh trai của anh N) số tiền 300.000.000 đồng; Tổng
số tiền anh Ph đã nhận từ anh H và anh N (thông qua chị Nh) 4.425.000.000
đồng + 2.937.500.000 đồng + 300.000.000 đồng = 7.662.500.000 đồng.
Nay anh Ph khởi kiện anh N đòi tiền do vic mua bán đất không thành, chị
Nh quan điểm : Sau khi sự việc xảy ra thì chị Nh đã cùng anh H anh N
khắc phục trả anh Ph tổng số tiền 7.662.500.000 đồng. Số tiền còn lại coi n
đây làm ăn buôn bán thua lỗ. Bản thân chị Nh cũng bị thua lỗ như anh Ph,
nhưng chị Nh không kiện anh H, anh N để đòi lại tiền, do vy chị Nh xác định
không liên quan đến việc anh Ph kiện anh N. Do điều kiện xa, đi lại khó khăn
cũng như công việc, chị Nh đề nghị Tòa án cho chị Nh vng mặt trong quá trình
Tòa án giải quyết.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Thân trình bày:
Anh Thân anh trai của anh Phạm Văn N. Anh Thân quen biết chị Trương
Thị Nh anh Nguyễn Đức Ph qua các lần chị Nh anh Ph về nhà anh N chơi,
nhà anh Thân gần nhà anh N. Ngày 15/10/2022 anh Ph gặp anh Thân hỏi
vay 300.000.000đồng. Do tin anh Ph người quen biết anh N, nên anh Thân đã
đồng ý cho anh Ph vay số tiền 300.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản;
việc anh Thân cho anh Ph vay tiền hai bên chỉ nói miệng với nhau chuyển
khoản không lập thành văn bản giấy tờ . Một thời gian anh Thân gọi điện
thoại cho anh Ph để đòi tiền, nhưng anh Ph không trả. Sau đó anh Ph khởi kiện
anh N đđòi tiền mua bán đất cho rằng số tiền 300.000.000đồng anh Thân
chuyển khoản cho anh Ph để trả nợ thay cho anh N. Anh Thân không đồng ý,
anh Thân không liên quan đến việc làm ăn của anh N. Nay quan điểm của
anh Thân số tiền 300.000.000 đồng anh Thân đã chuyển khoản cho anh Ph
vay, anh Thân (là anh trai anh N) anh Thân cho lại anh N; anh N toàn quyền
7
quyết định số tiền 300.000.000 đồng này; việc anh N đòi lại hay không đòi lại
anh Ph trả số tiền nàydo anh N quyết định. Do công việc nên anh Thân đề nghị
xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
Tại bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Ninh Bình đã quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều 26; Điều 35; các điểm
a, c khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Lut phí l phí s 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 ca Quc hi khóa
13 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca anh Nguyễn Đức Ph v
vic yêu cu Tòa án buc anh Phạm Văn N tr li s tin 2.512.500.000 đồng
trong tổng số 10.000.000.000 đồng anh Ph chuyển khoản cho anh N ttài
khoản của anh Ph tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam số
19188013566666 tên chủ tài khoản Nguyễn Đức Ph sang tài khoản của anh N tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam số 018 352 36789
mang tên Phạm Văn N vào ngày 19/4/2021, để cùng chị Trương Thị Nh mua lại
quyền đặt chỗ mua 70 lô đất thuộc dự án khu đô thị LT, xã TA, huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang.
2. Án pdân sự thẩm: Anh Nguyễn Đức Ph phải chịu 82.250.000 đồng.
Chuyển 57.380.000đồng tiền tạm ứng án panh Ph đã nộp tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Bình Lục, tỉnh Nam theo Biên lai số 000651 ngày
01/11/2024 thành án phí dân sự thẩm anh Ph phải nộp. Anh Nguyễn Đức Ph
phải tiếp tục nộp 24.870.000 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 01/10/2025 anh Nguyễn Đức Ph đơn kháng cáo toàn bộ Bản án
thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh
Bình với lý do: Tòa án sơ thẩm đánh giá chứng cứ và giải quyết không đúng pháp
luật, xác định quan hệ pháp luật không đúng, dẫn đến hu quả bác yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của nguyên
đơn. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày
19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình theo hướng “Chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh N phải trả cho nguyên đơn
số tiền còn lại 2.512.500.000 đồng”.
Ngày 03/10/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh
Bình, Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS kháng nghị Bản án dân
sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 -
Ninh Bình, với lý do: Công ty Mr do anh Hắc Ngọc H, chủ tịch hội đồng quản trị
đại diện, không phải chủ đầu dự án khu đô thị LT, cũng kng tham gia
hợp tác đầu dự án này, nên Công ty Mr do anh H chủ tịch hội đồng quản trị
8
đại diện không có đất ở dự án để bán, việc anh H đưa ra thông tin bán đất là hoàn
toàn sai sự thật (anh H đã bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Vì vậy, các
giao dịch đặt chỗ, đặt cọc, mua bán giữa anh H, anh N, chị Nh, anh Ph liên quan
đến các lô đt của dự án LT, đều các giao dịch hiệu do bị lừa dối, không có
đối tượng của hợp đồng. Do các giao dịch đều là hợp đồng vô hiệu, vì vậy số tiền
anh N, anh H đã nhận của anh Ph thì phải hoàn trả lại cho anh Ph. Cụ thể anh N
phải trả anh Ph 4 tỷ, anh H phải trả anh Ph 6 tỷ. Anh Ph xác nhận anh N, anh H
đã thanh toán trả anh Ph thông qua chị Nh số tiền 7.487.500.000đồng, nhưng tài
liệu trong hồ vụ án chưa thu thập đầy đủ chứng cứ xác định trong số tiền trên
thì anh N trả bao nhiêu, anh H trả bao nhiêu? Tòa án thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của anh Ph đòi tài sản anh N không căn cứ, không xác
minh thu thập đầy đtài liệu, chứng cứ là Giấy chứng nhận đăng kinh doanh
đối với Công ty Mr đxác định cách tham gia tố tụng của Công ty do người
đại diện hợp đồng giao dịch với anh N, chNh, anh Ph. Trong vụ án này anh
Ph chị Nh thỏa thuận mua đất của anh N chuyển toàn bộ tiền đặt chcho
anh N. Sau đó chị Nh hợp đồng với Công ty Mr do anh H đại diện, anh H đã
nhận tiền của chị Nh và anh Ph thông qua anh N, nên anh H phải nghĩa vụ tr
lại tiền cho anh Ph và chị Nh khi hợp đồng vô hiệu. Anh H cũng đã thực hiện việc
trả lại tiền tài sản cho chị Nh, anh Ph. Tòa án thẩm không đưa anh H o
tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đưa
anh H tham gia với tư cách là người làm chứng là không đúng. Bản án sơ thẩm đã
vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, thu thập đánh giá chứng cứ không đầy
đủ, không đúng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các đương sự. Đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph vẫn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo của mình, đề nghị hội
đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh
Ph.
Bị đơn anh Phạm Văn N vẫn giữ quan điểm của mình, không đồng ý yêu cầu
khởi kiện của anh Ph, đề nghị HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân n tỉnh Ninh Bình giữ nguyên nội dung quyết định
kháng nghị. Đề nghị HĐXX phúc thẩm Hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo
thủ tục sơ thẩm.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát
biu quan điểm v vic gii quyết v án như sau: Việc tuân theo pháp lut t tng
ca Thm phán, Hội đng xét xử, Thư ký phiên tòa và ca những người tham gia
t tng trong quá trình gii quyết v án giai đoạn xét x phúc thm đã thc hin
đầy đủ, đúng quy định ca B lut T tng dân s;
V quan điểm gii quyết v án: Đề ngh Hi đồng xét x căn cứ khoản 3
Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
9
định về án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận kháng ngh ca Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 6 - Ninh Bình. Hủy bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025
Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Ninh Bình để giải quyết lại ván theo thủ tục thẩm; Yêu cầu anh
Nguyễn Đức Ph sẽ được Tòa án sơ thẩm xem xét giải quyết; Về án phí dân sự phúc
thẩm: anh Nguyễn Đức Ph không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qutranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của
Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Đức Ph Quyết định kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình được làm trong thi hn lut định;
hình thc, nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị đúng theo quy định tại Điều 272,
Điu 273, Điều 276, Điều 278, Điều 279 280 ca B lut T tng dân s, nên
được xét x theo trình t, th tc phúc thm.
[1.2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Đức Ph kháng
cáo toàn bộ bản án thẩm; Viện trưởng Vin kim sát nhân dân khu vc 6 - Ninh
Bình kháng ngh bản án sơ thẩm. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án thẩm theo nội
dung đơn kháng cáo của người kháng cáo kháng ngh ca Vin kim sát nhân
dân khu vc 6 - Ninh Bình.
[1.3] Về s tham gia t tng ti phiên tòa phúc thm: Những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo: ông Phạm Văn Thân vắng mặt (có
đơn xin xét xử vng mt), chị Trương Thị Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần
thứ hai mà vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt theo quy định
pháp lut.
[2]. Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo, kháng ngh:
[2.1] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án xác định: anh Ph chị Nh quen biết nhau mối quan hệ kinh doanh buôn
bán bất động sản, thông qua người n là T. Chị Nh biết anh N đất thuộc dự án
LT để bán, chị Nh liên lạc với anh N hỏi mua đất thì được anh N đồng ý. Sau đó
chị Nh anh Ph bàn bạc, thống nhất cùng nhau góp vốn mua 70 đất tại dự án
LT, chị Nh anh Ph phải trả cho anh T tiền môi giới 2,1 tỷ đồng, tương ứng 30
triệu đồng/lô. Theo thỏa thuận hẹn ngày 19/4/2021 chị Nh cùng chồng là anh Tạ
Tiến Thịnh, anh Ph và (anh T là người môi giới) đến gặp anh N tại trụ sở Công ty
Mr, (anh N giới thiệu Công ty Mr chủ đầu dán LT). Tại đây anh N mới
biết anh Ph. Sau đó chị Nh, anh N đã thống nhất thỏa thuận anh N chuyển nhượng
10
lại quyền mua 70 lô đất của dự án LT cho chị Nh với giá 19 tỷ đồng; trong đó bao
gồm 12 tỷ đồng nộp vào Công ty Mr chủ đầu tư dự án LT để đặt chỗ; 07 tỷ
đồng tiền lãi của anh N do bán lại quyền đặt chỗ mua đất; đồng thời chị Nh sẽ
trực tiếp hợp đồng với Công ty Mr để làm căn cứ tiếp tục đóng tiền theo tiến
độ dự án với mức giá 01 tỷ đồng/lô. Sau khi thống nhất với anh N xong, chị Nh
bảo anh Ph chuyển khoản 10 tỷ đồng vào tài khoản của anh N, số tiền còn lại chị
Nh chuyển cho anh N 09 tỷ đồng. Theo lời chị Nh thì anh Ph đã chuyển tiền cho
anh N 10 tỷ đồng từ tài khoản của anh Ph tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam số 19188013566666 tên chủ tài khoản Nguyễn Đức Ph sang tài khoản
của anh N tại Ngân hàng Vietinbank số 01835236789 mang tên Phạm Văn N.
Sau khi anh N nhận đủ số tiền 19 tỷ đồng, anh N dẫn chị Nh cùng anh Thịnh, anh
Ph, anh T đi gặp anh Hắc Ngọc H (anh N giới thiệu là Chủ tịch Hội đồng quản trị
Công ty Mr), để chị Nh hợp đồng với Công ty Mr. Khi gặp anh H chỉ chị
Nh người trực tiếp với anh H những văn bản bao gồm: Cam kết chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số 1904-CK Hợp đồng vay vốn số
1904/2021/MRC-HDVV và Phụ lục về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đt số
19-04/PL về việc Công ty Mr chuyển nhượng cho chị Trương Thị Nh 70 đt
thuộc dán LT, tất cả các văn bản cùng ngày 19/4/2021. Sau đó anh N đã
chuyển cho anh H 12 tỷ đồng tiền đặt chỗ mua 70 đất chị Nh đã kết
với anh H. Giữa anh Ph và anh N không văn bản thỏa thuận vvic anh N
chuyển nhượng QSDĐ cho anh Ph.
[2.2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vc 6 - Ninh Bình:
do: Tòa án thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ph kiện
đòi tài sản đối vi anh N không căn cứ; không đưa anh H vào tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, mà đưa anh H là người
làm chứng không đúng. Do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập
đánh giá chứng cứ không đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
đương sự. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xtheo hướng Hủy bản án dân sự
thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình giải quyết
lại theo thủ tục sơ thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ
trong hồ ván, lời khai của các đương sự khẳng định anh Ph và chị Nh ng
chung nhau góp vốn làm ăn, theo yêu cầu của chị Nh thì anh Ph đã chuyển vào tài
khoản cho anh N là 10 tỷ đồng, chị Nh chuyển cho anh N 09 tỷ đồng, để cùng chị
Nh mua 70 lô đất tại dự án LT. Sau khi nhận số tiền 19 tỷ đồng, anh N đã chuyển
12 t đồng vào Công ty Mr cho anh H, số tiền 07 tỷ đồng anh N được hưởng do
bán lại quyền đặt chỗ mua 70 đất. Anh Ph chị Nh đã thống nhất chị Nh
người đại diện cho anh Ph trong việc ký hợp đồng mua lại quyền đặt chỗ mua 70
đất tại dự án LT với anh H. Sau đó anh Ph yêu cầu chị Nh là phải tách hợp
đồng để đảm bảo quyền lợi của mỗi bên trong giao dịch. Đến ngày 08/6/2022 chị
Nh, anh Ph, anh H đã làm thủ tục tách hợp đồng, mỗi người đứng hợp đồng 35 lô
11
đất (anh Ph 35 lô, chị Nh 35 lô), việc tách hợp đồng không liên quan đến anh N
bán lại quyền đặt chỗ mua 70 lô đất tại dán LT với chNh.
Sau khi biết anh H không phải là chủ đầu không có đất tại dự án LT để
chuyển nhượng như đã thỏa thuận, tchị Nh anh Ph đã yêu cầu anh H, anh N
trả lại tiền. Anh H, anh N đã khắc phục hậu quả bng việc chuyển nhượng 09
đất tại CV - Thanh Hóa (chị Nh 05 lô, anh Ph 04 lô) chuyển trả tiền cho chị
Nh, chNh đã có Giấy xác nhận nợ ngày 18/6/2023 anh N đã khắc phục xong hậu
quả toàn bộ số tiền anh N đã nhận 19 tỷ đồng của chị Nh ngày 19/4/2021 vviệc
mua 70 đất tại dự án LT. Hơn nữa anh H xác định đã khắc phục xong hậu quả
việc nhận tiền của anh Ph chị Nh trong việc chuyển nhượng 70 lô đất ti dự án
LT.
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án các đương sự khẳng định giao dịch mua
bán 70 đất ti dự án LT giữa chị Nh Công ty Mr liên quan đến yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Trong qtrình giải quyết vụ án Tòa án cấp thẩm
đã đưa anh H vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan. Nhưng sau khi thu thập được tài liệu chứng cứ, lời khai của các đương
sự anh H chị Nh, thì Tòa án thẩm xác định anh H tham gia tố tụng với
cách người làm chứng, không đưa anh H tham gia tố tụng với cách
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chính xác. Tuy nhiên, qtrình
giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm anh Ph thừa nhận anh Ph chỉ
khởi kiện anh N yêu cầu anh N trả số tiền do anh Ph đã chuyển cho anh N. Do
vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đây là vụ kiện đòi tài sản giữa anh Ph khởi kiện yêu
cầu anh N hoàn trả số tiền còn thiếu; đồng thời anh Ph cũng không yêu cầu
giải quyết trách nhiệm đối với anh H phải trả. Do đó, căn cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Phạm vi khởi kiện, quyền quyết định
tự định đoạt của đương s“Đương sự quyền quyết định việc khởi kiện, yêu
cầu Tòa án giải quyết. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu của đương sự chỉ giải quyết trong phạm vi khởi kiện, yêu
cầu đó”.
Như vậy, Tòa án cấp thẩm đã thụ vụ án về tranh chấp kiện đòi tài sản
và đã xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ. Viện kiểm sát cho rằng Tòa án
cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa thu thập tài liệu chứng cứ
và không đưa anh H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải hủy bản
án thẩm để đưa anh H vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vì không làm thay đổi bản chất vụ án. Vì đâyvụ án kiện đòi
tài sản, mà nguyên đơn anh Ph khởi kiện bị đơn anh N, anh Ph yêu cầu
anh N phải hoàn trả số tiền còn thiếu, chứ không yêu cầu anh H phải trả. Hơn nữa
trong vụ án này chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm của anh H,
anh N trong việc chuyển nhượng 70 lô đất của dự án LT.
12
Do đó, căn cứ vào phạm vi khởi kin, Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu của
đương sự. Nếu anh Ph xét thấy không đảm bảo, ảnh hưởng đến quyền lợi của
mình trong việc chung nhau góp vốn cùng chị Nh mua 70 đất tại dự án LT
ngày 19/4/2021, thì anh Ph yêu cầu chị Nh xem xét trách nhiệm của người đại
diện, nếu anh Ph chNh kng thống nhất được cách giải quyết xảy ra
tranh chấp, thì anh Ph quyền khởi kiện chị Nh, Công ty Mr theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: anh Ph yêu cầu Tòa án phúc
thẩm sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ph, buộc anh N
phải trả cho anh Ph số tiền còn lại 2.512.500.000 đồng. Anh Ph cho rằng ngày
19/4/2021 anh Ph đã chuyển khoản 10 tỷ đồng vào tài khoản của anh N để cùng
chung với chị Nh đặt chỗ mua 70 lô đất của dán LT; khi ký hợp đồng chị Nh
người đại diện ký hợp đồng với anh H. Do anh H, anh N không có đất để bán, nên
anh N phải trách nhiệm trả lại anh Ph số tiền này. Anh Ph xác định anh N đã
trả được số tiền 7.487.500.000đồng (bao gồm chị Nh đã trả cho anh Ph
4.250.000.000 đồng; anh H trả bằng 04 đất tại dự án CV - Thanh Hóa trị giá
2.937.500.000 đồng anh Thân (anh trai anh N) chuyển khoản 300.000.000
đồng). Do vậy, số tiền còn thiếu là 2.512.500.000đồng, anh N phải có trách nhiệm
trả cho anh Ph số tiền này.
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ tài liệu trong hồ lời trình bày của
các đương sự xác định: chị Nh anh Ph thống nhất cùng nhau chung góp vốn
mua 70 đất tại dán LT, mỗi người bỏ ra 1/2 trị giá 70 lô đất. Sau khi thống
nhất, anh Ph chuyển khoản cho anh N 10 tđồng, chị Nh chuyển anh N 09 tỷ
đồng, tổng số tiền 19 tỷ đồng tiền đặt chỗ mua 70 đất tại dự án LT. Ngày
19/4/2021 khi ký Hợp đồng với anh Hắc Ngọc H-Chủ tịch hội đồng quản trị Công
ty Mr, chỉ mình ch Nh đứng ra hợp đồng với anh H; Cam kết chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số 1904-CK Hợp đồng vay vốn số
1904/2021/MRC-VV và Phụ lục về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
19-04/PL, tất cả các n bản ngày 19/4/2021 đều thể hiện nội dung Công ty
Mr chuyển nhượng cho chị Nh 70 đất tại dán LT. Mặc anh Ph cũng có
mặt tại thời điểm chNh hp đồng, nhưng anh Ph không cùng chị Nh vào
các văn bản này. Điều này thể hiện anh H xác định tại thời điểm hợp đồng
ngày 19/4/2021 chị Nh, anh Ph là người góp vốn với nhau để mua 70 lô đất ti d
án LT và chị Nh là người đại diện ký hợp đồng mua 70 lô đất.
Sau khi chNh hợp đồng với Công ty Mr, một thời gian sau thì anh Ph
yêu cầu chị Nh tách hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của anh Ph. Sau khi chị Nh
anh Ph thỏa thuận tách hợp đồng thì hơn một năm sau ngày 08/6/2022 anh Ph
đã ký với Công ty Mr các văn bản gồm: Cam kết chuyển nhượng quyền sdụng
đất số 0806-CK; Hợp đồng vay vốn số 0806/2022/MRC-HDVV; Phụ lục về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Giấy biên nhận tiền số 39/2022/GBNT. Tất
cả các văn bản đều thể hiện nội dung Công ty Mr chuyển nhượng cho anh Ph 35
13
đất của dán LT anh Ph đã nộp tiền 06 tỷ đồng đặt chđể mua 35 đất
thuộc dán LT của Công ty Mr chị Nh 35 lô. Sau khi phát hiện anh H cùng
Công ty Mr không phải chủ đầu dự án LT, không đất đchuyển nhượng
như đã thỏa thuận, thì anh Ph chị Nh đã yêu cầu anh H, anh N trách nhiệm
trả lại tiền. Do đó, anh H và anh N đã cùng nhau khắc phục hậu quả bằng việc trả
tài sản chuyển trả tiền. Tuy nhiên, anh H anh N chỉ khắc phục hậu quả
chuyển tiền trả cho chị Nh với do chị Nh mới người đứng ra thỏa thuận
hợp đồng mua bán 70 đất của d án LT với anh H, sau đó chNh mới chuyển
tiền cho anh Ph. Chị Nh thừa nhận anh H, anh N đã khắc phục hậu quả bằng việc
trả bằng đất tại CV-Thanh a chuyển tin cho chị Nh, anh N anh H đã
khắc phục xong hậu qu; điều này thhiện bằng Giấy xác nhận công nợ ngày
18/6/2023 do chị Nh lập xác nhận anh N đã khắc phục xong toàn bộ số tiền anh N
đã nhận 19 tỷ đồng của chị Nh vào ngày 19/4/2021 về việc mua bán 70 lô đất của
dán LT. Ngoài ra, anh H cũng xác định bản thân anh H đã khắc phục xong hậu
quả việc anh H nhận tiền của chị Nh, anh Ph trong việc chuyển nhượng 70 đt
của dự án LT. Điều này cũng thể hiện việc anh Ph, chị Nh, anh N, anh H đều mặc
nhiên thừa nhận chị Nh người đại diện thay mặt anh Ph để giải quyết hậu quả
của việc mua bán đất của dự án LT. Mặc dù biết anh H không đất dự án LT để
bán anh H đang bị tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử về hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản liên quan đến đất dự án LT, nhưng anh Ph, chị Nh không
yêu cầu đề nghị gì các quan thẩm quyền xem xét trách nhiệm của anh H
trong việc anh H, chủ tịch HĐQT công ty hợp đồng cũng như việc cam kết
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Ph chị Nh mỗi người 35 lô đất của
dự án LT.
Đối với số tiền 300 triệu đồng anh Ph xác định anh Phạm Văn Thân là anh
trai anh N chuyển cho anh Ph để khắc phục hậu quả cho anh N do bán 70 đất
của dự án LT cho anh Ph không thành. Việc này anh Thân không thừa nhận, anh
Thân xác định do quen biết anh Ph thông qua anh N, do tin tưởng anh Ph hỏi vay
tiền, nên anh Thân chuyển khoản cho anh Ph vay số tiền 300 triệu đồng. Đồng
thời anh Thân đã có văn bản cho anh N số tiền này, quá trình giải quyết tại Tòa án
anh N không yêu cầu giải quyết việc này, do vậy Tòa án không giải quyết việc
anh Thân chuyển khoản cho anh Ph 300 triệu đồng với mục đích gì giải quyết
số tiền này như thế nào. Nếu sau này các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện
giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
Đối với việc anh Ph xuất trình 02 Giấy biên nhận tiền để chứng minh anh N
chuyển cho anh Ph 2.937.500.000 đồng để anh Ph được mua đất tại dán CV -
Thanh Hóa, nhằm để khắc phục hu quả của việc mua bán đất dán LT. Hội
đồng t xử xét thấy: 01 Giấy biên nhận tiền ngày 08/02/2023 thể hiện của
Công ty Mr bên giao tiền là anh H Minh Ngọc, bên nhận tiền là anh Ph số tiền
800.000.000 đồng, do nhận theo thỏa thuận giữa Công ty Mr anh H Minh
Ngọc, (tiền từ tài khoản của anh N). Tuy nhiên, anh H xác định không biết H
14
Minh Ngọc” là ai; Giấy biên nhận tiền thứ 2 là giấy biên nhận ngày 28/3/2023 thể
hiện giấy này của ng ty Mr bên giao tin anh Nguyễn Đức Ph, bên
nhận tiền Công ty Mr, stiền 2.137.500.000 đồng, do nhận theo thỏa thuận
giữa Công ty Mr anh Nguyễn Đức Ph, (tiền từ tài khoản của anh N). Như vậy,
các giấy biên nhận tiền ngày 08/02/2023 ngày 28/3/2023 chỉ thể hiện việc anh
Ph nhận tiền, giao tiền với Công ty Mr, không chứng minh được giữa anh Ph
anh N trực tiếp phát sinh giao dịch chuyển tiền qua tài khoản để thể hiện việc
anh N đã khắc phục hậu quả giao dịch mua 70 lô đất tại dự án LT ngày 19/4/2021
với chị Nh cho anh Ph.
Ngoài ra anh Ph không chứng minh được giữa anh Ph và anh N thỏa
thuận bằng văn bản vviệc anh N chuyển nhượng quyền sử dụng đất của dán
LT cho anh Ph. Anh Ph cũng không chứng minh được anh N là người yêu cầu
anh Ph chuyển khoản cho anh N 10 tỷ đồng để đặt cọc mua đất của dự án LT vào
ngày 19/4/2021. Việc anh Ph chuyển khoản 10 tỷ đồng cho anh N là theo yêu cầu
của chị Nh để cùng chị Nh chung nhau góp mua 70 lô đất dự án LT. Bản thân anh
Ph và chị Nh đều thừa nhận chị Nh anh Ph mỗi người góp 1/2 số tiền để đặt
cọc mua đất. Việc mua bán đất thì chị Nh người đứng ra thay mặt anh Ph để
tiến hành thỏa thuận với các bên liên quan trong việc mua bán đất tại dự án LT.
Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xác định: anh Ph chị Nh
cùng nhau góp tiền để mua lại quyền đặt chỗ mua 70 của dự án LT (chị Nh,
anh Ph mỗi người góp 1/2 giá trị hợp đồng), như vậy, anh Ph và chị Nh có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau trong giao dịch. Việc anh Ph chuyển khoản 10 tỷ đồng từ tài
khoản của anh Ph vào tài khoản của anh N thật, nhưng đó theo yêu cầu
của chị Nh chứ không phải yêu cầu của anh N; mục đích anh Ph chuyển tiền cho
anh N để góp tiền cùng chị Nh mua lại quyền đặt chỗ 70 lô đất của dự án LT từ
anh N. Trong 10 tỷ đồng một phần tiền nộp vào Công ty Mr một phần
tiền anh N được hưởng lãi khi bán lại đất. Do đó, giữa anh Ph anh N không
bất kỳ thỏa thuận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay giao dịch mua
lại quyền đặt chỗ 70 đất của dán LT. Sau khi vic mua bán 70 đất của d
án LT không thành, thì anh H, anh N đã khắc phục hậu quả đối với chị Nh.
Mặc dù anh Ph không có văn bản ủy quyền nào cho chị Nh là người đại diện
cho anh Ph, nhưng khi giao thì chỉ có mình chị Nh đứng ra trao đổi, thỏa thuận
các văn bản. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Ph thừa nhận anh Ph chị Nh thống
nhất để mình chị Nh đứng ra đại diện hợp đồng với anh H. Sau khi chị Nh
c văn bn mua 70 đất của dán LT với anh H ngày 19/4/2021 thì đến ngày
08/6/2022 giữa anh Ph và chị Nh thống nhất tách hợp đồng để anh Ph, chị Nh mỗi
người đng tên hợp đồng mua 35 đất của dán LT. Điều này thể hiện anh
Ph đã công nhận giao dịch mua lại quyền đặt chỗ mua 70 đất của dự án LT
chị Nh đã thỏa thuận với anh N hợp đồng với anh H vào ngày 19/4/2021.
Do đó, giao dịch mua lại quyền đặt chỗ mua 70 lô đất của dự án LT mà chị Nh đã
thỏa thuận với anh N đã làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của nời đại diện chị
15
Nh người được đại diện anh Ph. Điều này cũng được thể hiện quá trình khắc
phục hậu quả thì anh H anh N chlàm việc với chị Nh chuyển trả tiền cho
chị Nh, sau đó chị Nh chuyển lại tiền cho anh Ph (điều này anh Ph và chị Nh thừa
nhận). vậy, nếu anh Ph thấy rằng mình bị thiệt hại về quyền lợi trong việc
chung nhau góp vốn cùng chị Nh mua 70 lô đất của dự án LT vào ngày 19/4/2021
thì anh Ph yêu cầu chị Nh xem xét trách nhiệm của người đại diện; nếu anh Ph
chị Nh không thống nhất được thì anh Ph quyền khởi kiện chị Nh theo quy
định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh Ph về vic buộc anh N trả lại số tiền còn thiếu 2.512.500.000
đồng là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của anh Ph không
được chấp nhận.
[2.4] Do đó, nội dung kháng nghị Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm không phù hp với nhận định
của Hội đồng xét xử, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[2.5] Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Hội đồng xét xử phúc thẩm: Giữ nguyên bản án dân s thẩm số
13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 6 - Ninh Bình.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng o anh Nguyễn Đức Ph
không được chấp nhận, nên anh Ph phải chịu 300.000đồng án phí phúc thm theo
quy đnh ti khon 1 Điu 148 B lut T tng dân s khoản 1 Điều 29 Ngh
quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng n sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đức Ph Kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 19/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Nguyễn Đức Ph phải chịu án phí dân sự phúc thẩm300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Nguyễn
Đức Ph đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số
0001702 ngày 14/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
16
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, (ngày
15 tháng 01 năm 2026).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều
7a, Điều 7b Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND khu vực 6 - Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Phòng GĐKT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Tòa Dân sự;
- Lưu HCTP.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Thị Sâm
Tải về
Bản án số 07/2026/DS-PT Bản án số 07/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2026/DS-PT Bản án số 07/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất