Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 26/08/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT ngày 26/08/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 07/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 26-8-2025
V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp
nuôi con và chia tài sản sau khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Thu Lan
Bà Bùi Thị Hồng Ánh
- Thư phiên tòa: Trà Thảo Vân Linh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Nguyễn Thị
Kim Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 21/7 26/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 03/2025/TLPT-
HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, về việc: Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con và chia tài sản sau khi ly hôn.
Do Bản án dân sự thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Tòa án nhân
dân khu vực 6 – Quảng Ngãi) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 61/2025/QĐ-PT ngày
28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bạch Thị Tuyết L, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T,
B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Tấn T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn G, B, huyện B
(nay là xã B), tnh Quảng Ngãi.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn Q, sinh năm
1976 và Phạm Thị S, sinh năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn N, B, tỉnh Quảng
Ngãi.
- Người kháng cáo: Ông Lê Tấn T là bị đơn.
(L, ông T mặt tại phiên tòa; ông Q, S đề nghị xét xử vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đngày 28/3/2023, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
22/4/2024; trong quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn Bạch Thị
Tuyết L trình bày:
ông Tấn T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly
hôn sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2022/QDST-HNGĐ ngày
21/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Tòa án
nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi). Theo Quyết định thì bà và ông T thỏa thuận
bà nuôi dưỡng cháu Lê Bạch T1, sinh ngày 27/8/2007 và ông T nuôi dưỡng cháu
Bạch Kỳ D, sinh ngày 22/12/2015. Tuy nhiên, hiện nay ông T bỏ bê, không
quan tâm, chăm sóc cháu D, thường xuyên đi nhậu say sỉn làm ảnh hưởng đến
tâm lý của cháu.
Sau khi ly hôn, ông Lê Tấn Thường trực T2 nuôi dưỡng cháu Lê Bạch Kỳ
D và sinh sống tại Thôn G, xã B, huyện B (nay là xã B), tỉnh Quảng Ngãi. Bà
đến thăm nom cháu D tại nhà ông Tấn T, nhưng bị ông T ngăn cản nên
phải đến thăm cháu tại trường học. cũng thường xuyên mua quần áo đồ
dùng sinh hoạt cho cháu.
Xét thấy ông T không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Bạch
Kỳ D; làm ảnh hưởng đến tâm lý, ảnh hưởng đến việc học hành của cháu, nên bà
yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cháu Bạch
Kỳ D, sinh ngày 22/12/2015 cho trực tiếp nuôi dưỡng; bà không yêu cầu ông
Lê Tấn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, trong thời kỳ hôn nhân ông Tấn T các tài
sản chung sau: Thửa đất số 121, tờ bản đồ số 21, diện tích 148,32m
2
(viết tắt
thửa 121) 01 căn nhà cấp IV, tường xây gạch, đà gỗ, mái lợp ngói + tôn, nền
gạch men, diện tích xây dựng 120,97m
2
; mái hiên trước nhà đà gỗ, mái lợp tôn,
nền xi măng, có diện tích 22,11m
2
; nhà vệ sinh tường xây gạch, mái đổ đanh dày
0,5cm, diện tích xây dựng 5,6m
2
gắn liền với đất tại thôn G, xã B, huyện B (nay
B), tỉnh Quảng Ngãi; thửa đất số 26, tờ bản đs61, diện tích 538,95m
2
(viết tắt thửa 26) thửa đất số 37, tờ bản đồ số 61, diện tích 534,65m
2
(viết
3
tắt thửa 37) cùng tọa lạc tại thôn N, B, huyện B (nay B), tỉnh Quảng
Ngãi. thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kết
quả thẩm định giá tài sản của Công ty CP Đ1.
Nay, bà yêu cầu Toà án giải quyết chia đôi giá trị tài sản theo kết quả
thẩm định giá tài sản của Công ty CP Đ1 gồm: Thửa 26, thửa 37, thửa 121 và tài
sản trên thửa 121.
yêu cầu dược nhận hai thửa 26 37; bà đồng ý giao thửa 121 căn
nhà cấp IV cùng toàn bộ công trình trên thửa 121 cho ông T quản lý, sử dụng.
Ông T phải thanh toán lại cho bà giá trị chênh lệch tài sản.
Đối với các tài sản khác gồm: 01 cây mít trên thửa 121; tường rào kéo
lưới B40, 96 cây keo, 10 trụ tông trên thửa 26 01 căn nhà cấp IV không
còn giá trị sử dụng, 30 cây keo, 05 trụ bê tông, tường rào kéo lưới B40 trên thửa
37, bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
rút yêu cầu khởi kiện chia đôi giá trị của xe ô nhãn hiệu: Chiến
thắng, LOẠI XE: tải, màu sơn: Xanh, tải trọng: 6.200kg, biển kiểm soát: 76C
047-79 mua năm 2016, hiện có giá trị 150.000.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Tấn T trình bày:
Ông Bạch Thị Tuyết L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận
tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2022/QĐST- HNGĐ ngày
21/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Tòa án
nhân dân khu vực VI– Quảng Ngãi). Theo Quyết định thì ông vàL thỏa thuận
ông trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bạch Kỳ D, sinh ngày 22/12/2015, còn L
trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Bạch T1, sinh ngày 27/8/2007. Sau khi lyn, ông
vẫn thường xuyên quan tâm, chăm c chu đáo cho cháu D, luôn đảm bảo tốt
nhất cho cháu cả về mặt vật chất, lẫn tinh thần cũng như trong việc học tập. Nay
L yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu được nuôi cháu D thì
ông không đồng ý.
Về tài sản chung, trong thời kỳ hôn nhân ông và bà L các tài sản chung
gồm: Thửa 26 và thửa 37. Ông đồng ý chia đôi hai thửa đất nêu trên.
Đối với thửa 121 căn nhà cấp IV, tường xây gạch, đà gỗ, mái lợp ngói
+ tôn, nền gạch men, diện tích xây dựng 120,97m
2
; mái hiên trước nhà đà gỗ,
mái lợp tôn, nền xi măng, có diện tích 22,11m
2
; nhà vệ sinh tường xây gạch, mái
đổ đanh dày 0,5cm, diện tích xây dựng 5,6m
2
tài sản của ông trước khi kết
hôn với L nên ông không đồng ý chia đôi giá trị tài sản nêu trên. Ông không
đồng ý giao hai thửa 26, 37 cho L quản lý, sử dụng; ông chỉ đồng ý chia mỗi
người nhận 01 thửa đất.
4
Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án kết quả thẩm
định giá tài sản của Công ty CP Đ1 ông không có ý kiến gì.
* Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án
nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Tòa án nhân dân khu vực 6
Quảng Ngãi) đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bạch Thị
Tuyết L.
1. Về con chung: Giao cháu Bạch Kỳ D, sinh ngày 22/12/2015 cho
Bạch Thị Tuyết L trực tiếp nuôi dưỡng. L không yêu cầu ông Tấn T cấp
dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản
trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
2. Về tài sản chung:
+ Giao cho Bạch Thị Tuyết L được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số
26, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích
538,95m
2
thửa đất số 37, tờ bản đồ số 61, địa chỉ: Thôn N, B, huyện B,
tỉnh Quảng Ngãi, diện tích là 534,65m
2
.
+ Giao cho ông Tấn T được quyền sở hữu, sử dụng căn ncấp IV,
tường xây gạch, đà gỗ, mái lợp ngói + tôn, nền gạch men, diện tích xây dựng
120,97m
2
; nhà vệ sinh tường xây gạch, mái đđanh dày 0,5cm, diện tích xây
dựng 5,6m
2
gắn liền với quyền sử dụng đất thửa đất số 121, tờ bản đồ số 21, địa
chỉ: Thôn G, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích là 148.32m
2
.
(Có đồ trích do kèm theo bản án đồ này một bộ phận không
thể tách rời bản án dân sự sơ thẩm).
3. Ông Lê Tấn T phải thối lại cho bà Bạch Thị Tuyết L giá trị tài sản được
chia với số tiền 163.159.000 đồng
4. Ông Lê Tấn T, bà Bạch Thị Tuyết L có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan có
thẩm quyền đăng quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
5
5. Đình chỉ xét xử yêu cầu của Bạch Thị Tuyết L vviệc yêu cầu chia
½ gtrị của xe ô nhãn hiệu: Chiến thắng, loại xe: tải, màu sơn: Xanh, biển
kiểm soát: 76C 047-79 có giá trị 150.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, nghĩa vụ thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 24/10/2024, ông Tấn T đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm: Sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là bà Bạch Thị Tuyết L.
* Tại phiên a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát
biểu ý kiến vviệc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa, đương sự kể từ khi Tòa án
cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều
đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định là hợp lệ theo các Điều
272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều
309, Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn, giữ nguyên quyết định của bản án thẩm s 10/2024/HNGĐ-ST ngày
30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba đối với phần yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; sửa một phần bản án số
10/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba đối với
phần chia tài sản chung theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
tại phiên tòa phúc thẩm về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi (nay
Tòa án nhân dân khu vực 6 Quảng Ngãi) xét xử vụ án nêu trên, ông Tấn
T vắng mặt tại phiên tòa. Ngày 10/10/2024 Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện việc
niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Ngày 24/10/2024, ông Lê Tấn T
đơn kháng cáo còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Tấn T về việc yêu cầu được nuôi dưỡng con
chung là cháu Lê Bạch Kỳ D, Hội đồng xét xử nhận thấy:
6
[2.1] Bạch Thị Tuyết L ông Tấn T đều nguyện vọng được
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bạch Kỳ D. Đây nguyện
vọng chính đáng, vừa thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ cũng quyền lợi của
người làm cha, làm mẹ. Tuy nhiên, việc giao con chung cho bên nào trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng thì phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, trường
hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
[2.2] Xét về điều kiện nuôi con: Bạch Thị Tuyết L trình bày làm
nghề thợ may, có thu nhập trung bình từ 6.000.000 đến 8.000.000 đồng/tháng và
có nhà ở ổn định tại thôn T, xã B, tỉnh Quảng Ngãi. Còn ông Lê Tấn T m nghề
lái xe ô tô tải chở cây keo, thu nhập hàng tháng không cố định. Theo kết quả xác
minh của trưởng thôn Giá Vực, đại diện Hội liên hiệp phụ nữ B (bút lục số
127–128) xác nhận: Ông T làm nghề lái xe, thường xuyên đi từ sáng đến tối mới
về nhà nên phải nhờ người quen đưa đón cháu D đi học chăm lo việc ăn
uống, sinh hoạt của cháu D vào buổi trưa. Tại Biên bản lấy lời khai của cháu
Bạch Kỳ D (bút lục số 89), cháu D cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ
Bạch Thị Tuyết L. Sau khi ly hôn, L vẫn thường đến thăm nom, chăm
sóc cháu D. Mặt khác, cháu D con gái đang lứa tuổi dậy thì nên cần sự bảo
ban, chăm sóc, hướng dẫn của người mẹ. Từ những căn cứ đã phân tích trên,
việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bạch Thị Tuyết L,
thay đổi người trực tiếp nuôi con giao cháu Bạch Kỳ D cho L trực tiếp
nuôi dưỡng căn cứ. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về việc
thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Lê Tấn T.
[3] Xét kháng cáo của ông Lê Tấn T về tài sản chung:
[3.1] Theo Biên bản làm việc ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi Văn bản số 212/UBND ngày 12/8/2025, UBND B, tỉnh
Quảng Ngãi xác định:
- Về nguồn gốc thửa 121, tờ bản đsố 21, B: Do chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) nên UBND B chưa
xác minh rõ nguồn gốc thửa 121. Tuy nhiên tại sổ mục năm 2014 của UBND
B thể hiện người đăng khai thửa 121 ông Tấn T, mục đích sử
dụng đất là ONT. Thửa 121 đã được ông T sử dụng ổn định, phù hợp quy hoạch,
hiện không ai tranh chấp nên đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ (trừ phần đất
thuộc phần hành lang giao thông). Sau khi Tòa án ban hành bản án, người được
giao quyền quản lý, sử dụng đất đơn đăng ký, khai cấp GCNQSDĐ t
UBND B tiến hành xem xét cấp GCNQSDĐ theo đúng trình tự, thủ tục của
pháp luật.
7
- Về nguồn gốc thửa đất s37, tờ bản đồ số 61, B: Tại quyển sổ mục
đất đai số 003, đã được Phó Giám đốc Sở T7 ngày 17/10/2014, quy chủ
thửa số 37, tờ bản đồ số 61, diện tích 570,8m
2
cho ông Đinh Văn Q. Hiện nay
người đang quản lý, sử đất ông Tấn T. Theo hồ địa chính đo đạc theo
dự án Vlap thì mục đích sử dụng thửa 37 chỉ đất trồng cây hằng năm (BHK).
Tuy nhiên, theo hồ địa chính điện tử thì mục đích sử dụng thửa 37 gồm đất
tại nông thôn (ONT) và đất trồng cây hằng năm (BHK). Do đó, UBND xã B xác
định mục đích sử dụng thửa 37 theo hồ địa chính điện tử. Hạn mức đất khi
cấp GCNQSDĐ tại vị trí thửa 37 hiện nay 400m
2
. Thửa 37 phù hợp quy
hoạch, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử
dụng đất.
- Về nguồn gốc thửa đất s26, tờ bản đồ số 61, B: Tại quyển sổ mục
đất đai số 003, đã được Phó Giám đốc Sở T7 ngày 17/10/2014, quy chủ
thửa số 26, tờ bản đồ số 61, diện tích 2.483m
2
cho hộ ông Đinh Văn Q, mục đích
sử dụng đất trồng cây lâu năm (LNK). Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay ông T
sử dụng ổn định diện tích 534,65m
2
thuộc một phần thửa 26; diện tích phần đất
còn lại của thửa 26 do hộ Nguyễn Thị T3 đang sử dụng. Theo hiện trạng tại
thực địa thì thửa 37 và thửa 26 liền kề nhau nhưng không có ranh giới.
[3.2] Tại Biên bản làm việc ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi, ông Văn Viết Đ Thị N trình bày: Phần đất phía Tây của
thửa 121 ông, bà đã cho ông Lê Tấn T nên vợ chồng ông không có tranh chấp gì
đối với phần đất này, ông T có quyền đăng ký kê khai để được cấp GCNQSDĐ.
[3.3] Tại biên bản làm việc ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi, ông Đinh Văn Q và bà Phạm Thị S trình bày:
Năm 2011, ông chuyển nhượng một mảnh đất cho Bạch Thị
Tuyết L ông Tấn T với giá 15.000.000 đồng; hai bên lập Giấy
chuyển nhượng đất đ ngày 12/7/2011, giấy viết tay không công chứng,
chứng thực. Ông T, L đã trả cho ông 12.000.000 đồng, còn 3.000.000
đồng chưa trả vì hai bên thỏa thuận sau khi làm GCNQSDĐ tông T, L
sẽ trả đủ cho ông, bà. Tuy nhiên nay Bạch Thị Tuyết L yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung sau khi ly hôn nên ông, yêu cầu Tòa án buộc ông T, L, mỗi
người phải trả cho ông, số tiền 1.500.000 đồng. Hiện nay, mảnh đất chưa
được cấp GCNQSDĐ. Khi chuyển nhượng đất, mảnh đất chưa có số thửa nên tại
Giấy chuyển nhượng đất đề ngày 12/7/2011, hai bên thỏa thuận chuyển
nhượng mảnh đất: Chiều rộng hết đất, dài hết đất; phía Đông giáp đất ông
L1-Thơm; phía Tây giáp đất ông D1; phía Bắc giáp đường đi; phía Nam giáp
ruộng Phạm Thị N1; diện tích đất không xác định. Ông, chuyển nhượng
toàn bộ mảnh đất ông, bà đang sử dụng. Do đó, hiện nay ông, không sử dụng
8
diện tích đất liền kề với mảnh đất ông, đã chuyển nhượng cho ông T,
L. Nguồn gốc mảnh đất của cha S khai hoang; đến năm 1998 đã chỉ cho
ông, quản lý, sử dụng, nhưng không lập giấy tờ gì. Ông, sử dụng đất đến
năm 2011 thì chuyển nhượng cho ông T, L. Do đó, mảnh đất tài sản của
ông, bà không phải tài sản của hộ gia đình nên các con ông, bà là anh Đinh Công
T4 và chị Đinh Thị T5 T6 không có quyền lợi gì đối với mảnh đất nêu trên.
Ngày 15/8/2025, Bạch Thị Tuyết L đã trả số tiền 3.000.000 đồng cho
ông Q, bà S; có biên bản giao nhận tiền giữa các bên. Như vậy, ông T và bà L đã
thanh toán đủ số tiền nhận chuyển nhượng mảnh đất cho ông Q, S. Tại phiên
tòa phúc thẩm, L không yêu cầu giải quyết số tiền 1.500.000 đồng đã
thanh toán cho ông Q, S thay cho ông T, do đó Hội đồng xét xkhông xem
xét.
[3.4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Tấn T và Bạch Thị Tuyết L thỏa
thuận được với nhau về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn. Cụ thể: ông T
nhận thửa đất số 121, tờ bản đồ số 21 (trừ diện tích đất thuộc hành lang giao
thông) và tài sản gắn liền với thửa đất là căn nhà cấp IV, tường xây gạch, đà gỗ,
mái lợp ngói + tôn, nền gạch men, diện ch xây dựng 120,97m
2
; nhà vệ sinh
tường xây gạch, mái đổ đanh dày 0,5cm, diện tích xây dựng 5,6m
2
, địa chỉ tại
thôn G, B, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 148.32m
2
; một phần thửa đất số 26,
tờ bản đồ số 61, diện tích 538,95m
2
, địa chỉ tại thôn N, B, tỉnh Quảng
Ngãi. Bạch Thị Tuyết L nhận thửa đất số 37, tờ bản đồ số 61, diện tích
534,65m
2
tại thôn G, xã B, tỉnh Quảng Ngãi. Ông T, bà L không phải thanh toán
giá trị chênh lệch.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thẩm
định giá tài sản 27.400.000 đồng; ông T, L phải chịu tương ứng với phần
tài sản được chia, cụ thể ông T phải chịu số tiền 19.279.000 đồng, L phải
chịu 8.121.000 đồng. Bà L đã nộp tạm ứng và chi xong số tiền 27.400.000 đồng,
do đó ông T phải hoàn trả cho bà L số tiền 19.279.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự thẩm: Ông Tấn T phải chịu 300.000 đồng đối
với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con án phí đối với phần tài sản
chung được chia là 48.582.000 đồng [36.000.000 đồng + 12.582.000 đồng (3%
x 419.394.000 đồng)].
Bạch Thị Tuyết L phải chịu án phí phần tài sản chung được chia
24.545.000 đồng [20.000.000 đồng + 4.545.000 đồng (4% x 113.635.000 đồng)]
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 11.200.000 đồng
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0003082 ngày 06/4/2023
500.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002953 ngày
9
06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba (nay Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 6, tỉnh Quảng Ngãi); bà L còn phải nộp 12.845.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tấn T phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004821 ngày 17/02/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba (nay là Phòng Thi hành án dân s
khu vực 6, tỉnh Quảng Ngãi).
[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 300 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Điều 58, 59 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 5,
Điều 29, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn đối với việc yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Công nhận sự thỏa thuận của bà
Bạch Thị Tuyết L và ông Tấn T tại phiên tòa phúc thẩm đối với phần chia tài
sản chung sau khi ly hôn; Sửa một phần bản án thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST
ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
(nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi):
1. Giao cháu Lê Bạch Kỳ D, sinh ngày 22/12/2015 cho bà Bạch Thị Tuyết
L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục. L không yêu cầu ông Tấn T
cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Ông Tấn T quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Bạch Thị Tuyết L vviệc chia
½ gtrị của xe ô nhãn hiệu: Chiến thắng, loại xe: tải, màu sơn: Xanh, biển
kiểm soát: 76C 047-79 có giá trị 150.000.000 đồng.
3. Công nhận sự thỏa thuận bà Bạch Thị Tuyết L ông Tấn T tại
phiên tòa phúc thẩm về việc chia tài sản chung sau khi ky hôn:
[3.1] Giao cho Bạch Thị Tuyết L được quyền quản lý, sử dụng đối với
thửa đất số 37, tờ bản đồ số 61, địa chỉ tại thôn N, B, tỉnh Quảng Ngãi, diện
tích là 534,65m
2
.
10
[3.1] Giao cho ông Tấn T được quyền quản lý, sdụng đất đối với
thửa đất số 121, tbản đồ số 21 quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất
121 là căn nhà cấp IV, tường xây gạch, đà gỗ, mái lợp ngói + tôn, nền gạch men,
diện tích xây dựng 120,97m
2
; nhà vệ sinh tường xây gạch, mái đổ đanh dày
0,5cm, diện tích xây dựng 5,6m
2
, địa chỉ tại thôn G, xã B, tỉnh Quảng Ngãi, diện
tích là 148.32m
2
; một phần thửa đất số 26, tờ bản đồ số 61, diện tích là
538,95m
2
, địa chỉ tại thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Ông Tấn T Bạch Thị Tuyết L quyền, nghĩa vụ đến quan
thẩm quyền đăng quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
5. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc thẩm
định giá tài sản 27.400.000 đồng; ông T, L phải chịu tương ứng với phần
tài sản được chia, cụ thể ông T phải chịu số tiền 19.279.000 đồng, L phải
chịu 8.121.000 đồng. Bà L đã nộp tạm ứng và chi xong số tiền 27.400.000 đồng,
do đó ông T phải hoàn trả cho bà L số tiền 19.279.000 đồng.
6. Về án phí dân sự thẩm: Ông Tấn T phải chịu 300.000 đồng đối
với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và án pđối với phần tài sản
chung được chia là 48.582.000 đồng.
Bạch Thị Tuyết L phải chịu án phí phần tài sản chung được chia
24.545.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là
11.200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003082
ngày 06/4/2023 và 500.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0002953 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Quảng Ngãi); L còn phải nộp
12.845.000 đồng.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tấn T phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004821 ngày 17/02/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba (nay là Phòng Thi hành án dân s
khu vực 6, tỉnh Quảng Ngãi). Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
8. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
9. Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
11
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án;
thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 6 – Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 6, tỉnh
Quảng Ngãi;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Hoa
Tải về
Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT Bản án số 07/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất