Bản án số 06/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 của TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2019/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2019/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2019/DS-ST ngày 16/04/2019 của TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lục Nam (TAND tỉnh Bắc Giang) |
| Số hiệu: | 06/2019/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/04/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | TCDS |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TAND HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HXÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Bản án số 06/2019/DS- ST
Ngày 16/4/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi
quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HXÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Nnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồmcó:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh;
2. Bà Nguyễn Thị Hoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thanh Mai- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 tháng 3 và ngày 12, 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở
Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai
vụ án thụ lý số 43/2017/TLST- DSTC ngày 27 tháng 10 năm 2017 về việc:
Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 62/2018/QĐXX- ST ngày 07 tháng 12 năm 2018, giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị B, sinh năm 1935
Ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. ( Có mặt ).
Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn Liệu, sinh năm 1962
Địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt ).
2. Ông Tăng Văn C, sinh năm 1941
Ủy quyền cho anh Tăng Văn D, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. ( Có mặt )
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1963
2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955
3. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1972
4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972
5. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
2
6. Anh Nguyễn Văn Chức, sinh năm 1970
7. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959
Cùng địa chỉ: Thôn Đ1, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
8. Bà Nguyễn Thị Z, sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn P1, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đều ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972
Địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt ).
9. Ông Nguyễn Văn V1 (tức Nguyễn Thu Thời), sinh năm 1958. (Có mặt
).
10. Bà Dương Thị Hòa, sinh năm 1963
Đều ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Liệu, sinh năm 1962
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. ( Có mặt )
11. Bà Dương Thị Y1, sinh năm 1941
Ủy quyền cho anh Tăng Văn D, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. ( Có mặt ).
12. Anh Tăng Văn D, sinh năm 1975
13. Chị Đào Thị P5, sinh năm 1978
Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. ( Đều có
mặt ).
14. UBND huyện Lục Nam do ông Vũ Công Đ3- Phó trưởng phòng Tài
nguyên và môi trường huyện Lục Nam đại diện theo ủy quyền. ( Vắng mặt ).
15. UBND xã P do ông Vũ Đ3 V3- Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp
luật. ( Vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị B; lời khai tiếp theo và tại
phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T
trình bày: Năm 1989 vợ chồng bà ( Dương Thị B, ông Nguyễn Văn Tưỡng )
được Nhà nước chia cho thửa ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập, thôn
Y, xã P. Năm 1996 vợ chồng bà đã đổi thửa ruộng trên cho ông Nguyễn Văn
Liệu lấy 09 thước đất của ông Liệu thầu của UBND xã P và mua thêm 03 thước
đất do vợ chồng ông Liệu khai hoang ở khu Bờ Suối, thôn Y, xã P để cho vợ
chồng anh T canh tác. Khi đổi hai bên thỏa thuận miệng, không lập văn bản,
T1hạn đổi là 20 năm. Năm 1999 gia đình bà được Nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đất nông nghiệp gồm 08 thửa ruộng, trong đó có thửa số
39, diện tích 215m², khu Chân Đập. Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp, vợ chồng bà đang ở cùng anh Nguyễn Văn N và chung
hộ khẩu, còn các con khác của ông bà đều đã xây dựng gia đình và có phần
ruộng riêng không liên quan gì tới 08 thửa ruộng trên. Sau khi đổi gia đình bà đã
trồng cây ăn quả trên đất đổi của ông Liệu. Năm 1998 vợ chồng bà cho vợ
chồng anh T là con trai ra ở, quản lý, sử dụng trên diện tích đất gia đình bà thầu
của UBND xã và diện tích đất đổi của ông Liệu. Sau khi ra ở, vợ chồng anh T đã
trồng cây ăn quả là na và bòng. Năm 2001, vợ chồng anh T, chị P5 được Nhà
nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích đất này, trong đó có
3
khoảng 72m² do vợ chồng bà mua riêng của ông Liệu. Trên đất năm 2015 anh T
đã xây dựng 01 công trình phụ, 01 nhà bếp. Đất do Nhà nước giao thầu nên vợ
chồng bà cho vợ chồng anh T quản lý, sử dụng đến khi hết T1hạn đổi cho ông
Liệu thì thôi. Việc vợ chồng bà đổi ruộng cho ông Liệu mọi người trong gia đình
bà đều biết và không có ý kiến gì.
Sau khi đổi ruộng cho vợ chồng bà, thửa ruộng số 39, diện tích 215m², khu
Chân Đập, một phần ông Liệu trồng cây ăn quả, một phần ông Liệu đã đổi cho
gia đình ông Tăng Văn C. Việc ông Liệu đổi cho ông C như thế nào gia đình bà
không biết và không được thông báo. Diện tích thửa ruộng số 39 gia đình bà vẫn
đóng thuế hàng năm. Ngày 09/10/2010 chồng bà là ông Nguyễn Văn Tưỡng qua
đời, không để lại di C. Đến năm 2016 hết hạn đổi, ông Liệu đến nhà bà yêu cầu
làm thủ tục sang tên thửa ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập cho ông
Liệu, bà đồng ý với điều kiện ông Liệu phải tiếp tục mua thầu diện tích đất đã
đổi, nhưng ông Liệu không đồng ý nên bà đã làm đơn ra UBND xã P để giải
quyết nhưng không Nnh. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng
chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tưỡng với ông Nguyễn
Văn Liệu. Buộc gia đình ông Nguyễn Văn Liệu, gia đình ông Tăng Văn C trả lại
gia đình bà thửa ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập, thôn Y, xã P và
tháo dỡ toàn bộ tài sản, công trình trên đất. Bà trả lại ông Liệu 275m² đất thầu
khu Bờ Suối, sau khi trừ đi 105,6m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho anh T.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn Liệu
trình bày: Năm 1996 ông Nguyễn Văn Tưỡng sang nhà ông đặt vấn đề đổi ruộng
nhà ông Tưỡng ở khu Chân Đập lấy diện tích đất giao thầu 20 năm của gia đình
ông tại khu Bờ Suối để làm nhà cho con trai là anh Nguyễn Văn T. Hai bên thỏa
thuận ông Liệu lấy thửa ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập của gia
đình ông Tưỡng, ông Tưỡng lấy 12 thước đất giao thầu 20 năm của gia đình ông
tại khu Bờ Suối. Do là anh em họ hàng nên phần chênh lệch diện tích gia đình
ông không có ý kiến gì. Việc đổi ruộng hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập
văn bản, cũng không làm thủ tục sang tên. T1hạn đổi là đổi vĩnh viễn. Khi đổi
ông đã mua thầu 20 năm nên ông Tưỡng phải đóng thuế nông nghiệp của thửa
ruộng số 39 cho đến hết 20 năm thì ông mới phải chịu thuế đất nông nghiệp. Sau
20 năm nếu ai sử dụng phải có trách nhiệm với diện tích đất mình đang quản lý,
sử dụng với nhà nước.
Năm 1999, ông đã đổi cho anh Tăng Văn D là cháu họ ông 100m² đất của
thửa ruộng số 39, khu Chân Đập lấy thửa ruộng cách đó khoảng 100m. Khi ông
đổi ruộng cho anh D gia đình ông Tưỡng đều biết và không có ý kiến gì. Trên
phần diện tích đất đổi của ông, năm 2001 anh D đã xây dựng 01 nhà tạm để cho
bố mẹ anh là ông Tăng Văn C, bà Dương Thị Y1 bán hàng. Diện tích đất còn lại
khoảng 115m² hiện tại ông đang trồng cây ăn quả bao gồm: Chanh, bưởi, na.
Năm 1999 gia đình ông Tưỡng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
bao gồm cả thửa ruộng số 39, diện tích 215m², ông không biết. Phần đất ông đổi
cho ông Tưỡng, anh Nguyễn Văn T là con trai ông Tưỡng đang ở. Trong đó,
một phần anh T đã xây dựng công trình kiên cố trên đất và đã được Nhà nước
4
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà Dương Thị B yêu cầu chấm dứt
hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông và ông Tưỡng đối với thửa
ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập với 12 thước đất giao thầu ở khu
Bờ Suối và buộc gia đình ông và gia đình ông C phải trả lại diện tích đất 215m²,
thửa ruộng 39, khu Chân Đập, ông không đồng ý, vì việc đổi giữa hai bên đã
thực hiện xong và hai bên đều sử dụng ổn từ khi đổi cho tới nay.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền cho bị đơn
là ông Tăng Văn C, anh Tăng Văn D trình bày: Anh là con trai ông Tăng Văn C.
Năm 1999 ông Nguyễn Văn Liệu đổi cho anh 100m² thửa ruộng số 39, khu
Chân Đập lấy thửa ruộng khác ở gần đó. Khi đổi anh có biết diện tích đất trên
ông Liệu đổi với ông Nguyễn Văn Tưỡng. Sau khi anh và ông Liệu đổi ruộng
cho nhau, năm 2001, anh đã xây 01 nhà tạm diện tích khoảng 35m², 01 nhà bếp,
01 khoảng sân nhỏ để bố mẹ anh ra ở, bán hàng tạp hóa. Diện tích đất này chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà Dương Thị B yêu cầu bố
mẹ anh phải trả lại diện tích đất trên và tháo dỡ công trình, tài sản trên đất, anh
không đồng ý, vì anh đổi ruộng với ông Liệu không liên quan tới bà B.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, ông Nguyễn Thu T1trình bày: Ông là con trai thứ hai của bà Dương Thị B
và ông Nguyễn Văn Tưỡng. Năm 1989, bố mẹ ông được nhà nước chia cho thửa
ruộng 39, diện tích 215m², khu Chân Đập. Năm 1996 ông cùng bố ông là ông
Nguyễn Văn Tưỡng trực tiếp sang nhà gặp ông Nguyễn Văn Liệu hỏi đổi thửa
ruộng số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập lấy khoảng 300m² đất bãi thầu của
ông Liệu khu Bờ Suối để cho em trai ông là anh Nguyễn Văn T làm nhà ra ở
riêng. Việc này bà B và các anh chị em trong gia đình ông đều biết. Khi đổi hai
bên thỏa thuận miệng, đổi vĩnh viễn, không lập văn bản. Đến năm 1999, bố ông
được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 08 thửa đất nông
nghiệp, trong đó có thửa ruộng số 39 ở khu Chân Đập. Khi cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất bố mẹ ông đang ở cùng em trai ông là ông Nguyễn Văn N và
chung hộ khẩu, còn ông và những người con khác đã xây dựng gia đình và có
phần ruộng riêng không liên quan gì tới thửa ruộng trên. Việc ông Liệu quản lý,
sử dụng và đổi đất với ông C như thế nào ông không rõ, ông chỉ biết ông C có
quán bán hàng trên một phần diện tích thửa ruộng số 39 khu Chân Đập. Phần đất
ở Bờ Suối bố ông đổi của ông Liệu hiện anh Nguyễn Văn T đang ở. Ngoài diện
tích đất thầu đổi của ông Liệu, bố ông có mua và đổi thêm diện tích đất của một
số hộ gia đình khác nên anh T mới có được diện tích như hiện nay. Phần diện
tích đất đổi cho ông Liệu, gia đình anh T được cấp vào giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất chưa ông không rõ. Ngày 09/10/2010 bố ông là ông Tưỡng qua đời,
không để lại di C. Nay mẹ ông là bà bà Dương Thị B khởi kiện yêu cầu chấm
dứt hợp đồng đổi ruộng giữa bố ông là ông Tưỡng với ông Liệu và buộc gia
đình ông Nguyễn Văn Liệu, ông Tăng Văn C phải trả lại thửa ruộng số 39, diện
tích 215m², khu Chân Đập, ông không đồng ý, vì việc hai bên chuyển đổi đã
xong, hiện nay các bên đã xây dựng nhà cửa nên cần giữ nguyên hiện trạng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T; ông Nguyễn
Văn E, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn
Văn Chức, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Z đều ủy quyền tham gia tố tụng
5
cho anh Nguyễn Văn T và đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện và lời khai của bà
B và anh T.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, chị Đào Thi P5 trình bày: Chị là vợ anh Tăng Văn T, chị nhất trí với ý kiến
do bà B và anh T đã khai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, UBND xã P do ông Vũ Đ3 V3-
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đại diện trình bày: Năm 1994, UBND xã P chủ
trương tận dụng những diện tích đất bỏ hoang, ao, hồ thuộc đất công ích do
UBND xã quản lý giao thầu cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng để
thu tiền làm đường điện lưới trên địa bàn xã. Trên địa bàn thôn Y, UBND xã đã
giao thầu cho khoảng 30 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích là 10.454m² ở
khu Bờ Suối, với T1hạn 20 năm, thu tiền một lần. Trong đó, hộ gia đình ông
Liệu thầu 275m², hộ gia đình ông Nguyễn Văn Tưỡng 232m². Năm 1989 khu đất
trên có Bản đồ đo vẽ tổng thể. Năm 2002, được đo vẽ bổ sung. Khi giao thầu
cho các hộ gia đình, cá nhân năm 1994- 1996, UBND xã không lập sơ đồ đo vẽ
riêng cho từng hộ gia đình, cá nhân. Năm 2001, căn cứ vào nhu cầu sử dụng
thực tế, UBND huyện Lục Nam đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở
cho một số hộ gia đình trên diện tích đất do UBND xã P giao thầu, trong đó có
hộ gia đình anh Nguyễn Văn T với diện tích là 400m². Trong diện tích 400m²
đất ở của hộ gia đình anh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có
một phần là đất UBND xã giao thầu cho ông Liệu, ông Liệu đã đổi cho ông
Tưỡng.
Diện tích đất nông nghiệp tại thửa số 39, diện tích 215m², khu Chân Đập,
thôn Y năm 1999, UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho hộ ông Nguyễn Văn Tưỡng. Nhưng trên thực tế diện tích đất này hiện
gia đình ông Nguyễn Văn Liệu, ông Tăng Văn C đang quản lý, sử dụng. Việc
chuyển đổi đất nông nghiệp giữa ông Nguyễn Văn Tưỡng và ông Nguyễn Văn
Liệu thực hiện như thế nào UBND xã P không nắm được, vì khi các bên thực
hiện chuyển đổi không tới UBND xã P làm thủ tục theo quy định của pháp luật,
khi xảy ra tranh chấp giữa các hộ UBND xã P mới biết. Trên đất, một phần gia
đình ông Nguyễn Văn Liệu đã trồng cây ăn quả, một phần đã đổi cho ông Tăng
Văn C và ông C đã xây dựng 01 ngôi nhà tạm trên đất sử dụng vào mục đích bán
hàng tạp hóa. Việc ông Liệu, ông C chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa được
sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, UBND xã P đã ra thông báo số 27/TB-KPHQ
ngày 17/10/2016 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp
không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Khi nào có bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật, UBND xã sẽ tiếp tục xử lý sau.
Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, UBND
huyện Lục Nam do ông Vũ Công Đ3- Phó phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Lục Nam đại diện theo ủy quyền trình bày: Năm 1994- 1996, UBND xã P
chủ trương tận dụng những diện tích đất nông nghiệp dôi dư trên địa bàn xã cho
các hộ gia đình, cá nhân thầu để lấy tiền làm đường điện lưới. UBND xã P đã
giao thầu cho gần 30 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 10.454m² đất nông
nghiệp dôi dư ở Khu Bờ Suối, thôn Y, xã P, với T1hạn là 20 năm, trong đó có
hộ gia đình ông Nguyễn Văn Liệu với diện tích 275m², ông Nguyễn Văn Tưỡng
6
232m². Ngày 27/12/2001, UBND huyện Lục Nam cấp Giấy chứng nhận quyền
quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T với diện tích 400m² đất ở, thửa số
316, thôn Y, xã P. Trong 400m² đất ở UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T có hơn 100m² cấp vào diện tích đất
UBND xã giao thầu cho ông Nguyễn Văn Liệu năm 1994, sau đó ông Liệu đổi
cho ông Nguyễn Văn Tưỡng. Việc UBND huyện Lục Nam cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T là đúng trình tự thủ tục, căn cứ
vào hồ sơ do UBND xã P trình, vào nhu cầu sử dụng thực tế của gia đình ông T.
UBND huyện Lục Nam không có ý kiến gì về việc này. Diện tích đất trên (
400m² ) của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T ngày 22/11/2016 đã được Sở tài
nguyên và môi trường tỉnh Bắc Giang chỉnh lại thuộc tờ bản đồ số 44, thửa đất
số 184, khu Bờ Suối, thôn Y, xã P, huyện Lục Nam.
Đối với thửa ruộng số 39, diện tích 215m² ở khu Chân Đập, thôn Y, xã P,
năm 1999 UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Nguyễn Văn Tưỡng là căn cứ vào các tài liệu, hồ sơ cũ. UBND huyện không
biết ông Nguyễn Văn Liệu và ông Nguyễn Văn Tưỡng đã đổi cho nhau, vì các
bên không đến UBND huyện để làm thủ tục. Việc này đề nghị Tòa án nhân dân
huyện Lục Nam giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét đã tuân thủ đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa. Các đương sự
chấp hành đúng nội quy phiên tòa.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà Dương Thị B. Bà B phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Miễn án
phí dân sự sơ thẩm cho bà B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
cho các đương sự trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại
phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Lục Nam,
UBND xã P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ
luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Năm 1996, ông Nguyễn Văn Tưỡng có đổi
215m² đất nông nghiệp của thửa ruộng số 39, khu Chân Đập, thôn Y lấy 275m²
đất, tờ bản đồ số 35, thửa số 128 của ông Nguyễn Văn Liệu, khu Bờ Suối, thôn
Y. Khi đổi hai bên có thỏa thuận miệng, không lập văn bản. Nay bà Dương Thị
B ( vợ ông Tưỡng ) yêu cầu chấm dứt hợp đồng chuyển đổi trên, buộc ông
Nguyễn Văn Liệu, ông Tăng Văn C phải trả lại gia đình bà thửa ruộng 39, diện
tích 215m² khu Chân Đập, thôn Y và tháo dỡ toàn bộ công trình, tài sản trên đất.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là
“Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”.
7
[4]. Năm 1994, gia đình ông Nguyễn Văn Tưỡng thầu của UBND xã P
232m² đất giáp với 275m² đất thầu của gia đình ông Nguyễn Văn Liệu, đều
thuộc tờ bản đồ số 35, thửa số 128, khu Bờ Suối, thôn Y, xã P. Do có quan hệ họ
hàng, để thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng, năm 1996, ông Nguyễn Văn
Tưỡng đổi 215m² đất nông nghiệp của thửa ruộng số 39, khu Chân Đập, thôn Y
lấy 275m² đất của gia đình ông Nguyễn Văn Liệu. Việc chuyển đổi quyền sử
dụng đất này là có T. Ông Tưỡng là người chủ động trước. Mục đích ông Tưỡng
đổi đất cho ông Liệu để cho vợ chồng con trai ông là anh Nguyễn Văn T, chị
Đào Thị P5 ra làm nhà ở riêng. Khi đổi hai bên không lập văn bản, chỉ thỏa
thuận miệng là đổi vĩnh viễn. Việc này có sự chứng kiến của ông Nguyễn Thu
T1là con trai cả của ông Nguyễn Văn Tưỡng. Năm 1998, toàn bộ các diện tích
đất trên ( 232m² + 275m² ) ông Tưỡng giao cho vợ chồng anh Nguyễn Văn T
quản lý, sử dụng. Ngày 27/12/2001, hộ gia đình anh Nguyễn Văn T đã được Nhà
nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích 400m² đất ở, thuộc
tờ bản đồ số 35, thửa số 316. Trong 400m² đất ở được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của gia đình anh T có 105,6m² của thửa số 128, tờ bản đồ số
35 ông Tưỡng đã đổi của ông Liệu năm 1996. Trên đất gia đình anh T đã xây
dựng 01 nhà bếp mái bằng kiên cố, diện tích 38,9m², phần đất còn lại anh T đã
trồng cây ăn quả lâu năm.
[5]. Khi các bên thực hiện giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất, ông
Nguyễn Văn Tưỡng, ông Nguyễn Văn Liệu đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự,
hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung của giao dịch không trái pháp luật, trái
đạo Đ3 xã hội.
[6]. Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tưỡng
và ông Nguyễn Văn Liệu năm 1996, về hình M chưa thực hiện theo quy định
của pháp luật tại T1điểm giao kết hợp đồng, hai bên chỉ thỏa thuận miệng,
không lập văn bản công chứng, chứng thực, không đến UBND xã làm thủ tục là
chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 31 Luật đất đai năm 1993, Điều 701 Bộ
luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, trên thực tế sau khi đổi đất cho nhau các bên
đều đã quản lý, sử dụng ổn định, không có tranh chấp và đều đã trồng cây ăn
quả lâu năm và một phần đã xây dựng công trình kiên cố; năm 2001 một phần (
105,6m² ) diện tích 275m² đất của thửa số 128, tờ bản đồ số 35, khu Bờ Suối ông
Tưỡng đổi của ông Liệu, sau khi được ông Tưỡng là bố đẻ cho anh Nguyễn Văn
T đã đến cơ quan Nhà nước có thẩm đăng ký kê khai và đã được Nhà nước cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[7]. Căn cứ vào mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng
8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Dương Thị B.
[8]. Đối với thửa ruộng số 39, diện tích 215m² khu Chân Đập, thôn Y,
UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Nguyễn Văn Tưỡng năm 1999 là căn cứ vào hồ sơ cũ, không biết các hộ gia
đình đã đổi cho nhau. Năm 2001, ông Nguyễn Văn Liệu đã đổi cho anh Tăng
Văn D 100m² của thửa ruộng số 39 để lấy thửa ruộng khác của anh D. Sau khi
đổi, anh D đã xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích 36,55m²; 01 nhà bếp, diện
8
tích 5,69m²; 01 bán mái nợp Bloximang, diện tích 11,6m²; 01 nhà vệ sinh, diện
tích 0,08m² cho bố mẹ anh là ông Tăng Văn C, bà Dương Thị Y1 ra ở, bán hàng.
Diện tích 115m² đất còn lại của thửa ruộng 39, khu chân Đập gia đình ông
Nguyễn Văn Liệu trồng cây ăn quả lâu năm. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất
giữa Nguyễn Văn Liệu và anh Tăng Văn D, các đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên HĐXX không đặt xem xét, nếu có tranh chấp các bên đương sự
sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
[9]. Việc ông Tăng Văn C xây dựng các công trình trên đất nông nghiệp
của thửa ruộng số 39, UBND xã P đã ra Thông báo số 27/TB-KPHQ ngày
17/10/2016 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp
không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Trong quá trình giải quyết vụ
án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã P, UBND huyện Lục
Nam không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
[10]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn T đã
nộp tiền tạm ứng chi phí cho việc xem xét, thẩm định, đo đạc tại chỗ và định giá
tài sản là 5.000.000 đồng, tiền thuê đơn vị đo vẽ thực trạng đất đang có tranh
chấp là 6.849.000đ. Số tiền trên đã chi phí hết cho việc xem xét, thẩm định, đo
đạc tại chỗ và định giá tài sản. Do yêu cầu của bà Dương Thị B không được Tòa
án chấp nhận nên bà B phải chịu toàn bộ chi phí cho việc xem xét, thẩm định, đo
đạc tại chỗ và định giá tài sản là 11.849.000đ ( Mười một triệu tám trăm bốn
mươi chín nghìn đồng ), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng anh T đã nộp.
[11]. Về án phí: Căn Cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng và án phí Tòa án, bà Dương Thị B là người cao tuổi
nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[12]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của phápluật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 131, Điều 132, Điều 690, Điều 693, Điều 695, Điều
699, Điều 700 Bộ luật dân sự năm 1995; Khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 74 Luật
đất đai năm 1993; Điều 11, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị B yêu
cầu chấm dứt Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn
Liệu với ông Nguyễn Văn Tưỡng; buộc gia đình ông Tăng Văn C, ông Nguyễn
Văn Liệu phải trả lại diện tích 215m² đất nông nghiệp của thửa số 39 khu Chân
Đập, thôn Y, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và tháo dỡ tài sản trên đất.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị B phải chịu 11.849.000đ ( Mười một
triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng ) tiền xem xét, thẩm định, đo đạc tại
9
chỗ và định giá tài sản, nhưng được trừ vào số tiền 11.849.000đ ( Mười một
triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng ) tiền tạm ứng cho việc chi phí xem
xét, thẩm định, đo đạc tại chỗ và định giá tài sản anh Nguyễn Văn T đã nộp.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Dương Thị B.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị E chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
thi hành án dân sự. T1hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ
ngày được tống đạt án hoặc bản án được niêm yết.
(Kèm theo bản án là sơ đồ đo đạc các thửa đất )
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cùng cấp;
- VKSND tỉnh;
- Chi cục THADS cùng cấp;
- Lưu hồ sơ, v/p.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Huân
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 04/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm