Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 05/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N - Hoàng Tuấn H Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TNH QUNG TR Độc lp -T do - Hnh phúc
Bn án s: 05/2026/DSPT
Ngày: 15/01/2026
“V/v Tranh chấp quyn s dụng đất
và yêu cu hy quyết định cá bit
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH QUNG TR
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: Bà Hoàng Th Thanh Nhàn
Các Thm phán: ông Dương Viết Hi và bà Lê Hoài Thy
- Thư phiên tòa: Nguyn Th Anh - Thư Tòa án nhân dân tnh
Qung Tr.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Qung Tr tham gia phiên tòa:
Trn Th Thu Hin Kim sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2026, ti Tr s Tòa án nhân dân tnh Qung
Tr xét x phúc thm công khai v án dân s th lý s: 83/2025/TLPT- DS ngày 06
tháng 11 năm 2025, v việc “Tranh chp quyn s dụng đất hy quyết đnh
bit”. Do Bn án dân s thẩm s 29/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 ca Toà án
nhân dân khu vc 1 Qung Tr b kháng cáo, theo Quyết định đưa v án ra xét x
phúc thm s 75/2025/QĐ-PT ngày 02/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1963, cư trú: Số nhà X đường L,
TDP P, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm
1970 và Lê Thị Thúy N, sinh năm 1998; địa chỉ: Số nhà X đường D, phường Đ,
tỉnh Quảng Tr, có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Tuấn H, sinh năm 1979, cư trú: Số Y B, phường Đ, TP
Hà Nội, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh Quảng Trị. Địa chỉ: Số A đường H,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị. Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H, chức
vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Trị, vắng mặt, có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1962, địa chỉ: Số nhà X đường L, TDP P,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H: Ông Phạm Văn N, sinh
2
năm 1963, cư trú: Số nhà X đường L, TDP P, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn Phạm Văn N người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn trình bày:
Ông và vlà bà Nguyễn Thị H chủ sử dụng của thửa đất số 68, nay
thửa đất số 44, tbản đồ số 05, địa chỉ: Phường Đ, tỉnh Quảng Trị, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số I 993223, do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình
cấp ngày 28/12/1996, mang tên ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị H. Diện tích theo
giấy chứng nhận được cấp là 200m
2
(10m x 20m). Nguồn gốc đất do vợ chồng ông
nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn HLê Thị Y. Năm 2008, vợ chồng
ông xây dựng nhà trên thửa đất này cgia đình sinh sống cho đến hiện nay.
Do tính chất công việc bận rộn nên vợ chồng ông chưa điều kiện để thực hiện
thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Đến ngày 25/7/2024, ông, bà
đến liên hđlàm thủ tục bổ sung tài sản vào đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đơn vị này đã tiến hành đo đạc,
kiểm tra hiện trạng sử dụng đất thì vợ chồng ông mới phát hiện diện tích của thửa
đất số 44 không đủ theo GCN được cấp, cụ thể cạnh phía Bắc của thửa đất bị thiếu
0,48m, chỉ còn lại 9,52m. Sau khi soát, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố Đồng Hới đã thực hiện chỉnh lý địa chính đối với thửa đất số 44 (chủ sử
dụng ông N, H) thửa đất số 42 (thửa đất liền kề, chủ sử dụng ông Hoàng
Tuấn H), theo diện tích các bên đã thỏa thuận vào năm 2007 nhưng phía ông
Hoàng Tuấn H không đồng ý. Hiện tại phần diện tích đất thiếu của ông N, H
(thửa đất số 44) được xác định do ông Hoàng Tuấn H đang quản lý, sử dụng
đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp GCN vào năm 2023.
vậy, ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Tuấn H trả lại nguyên
trạng phần diện tích đã sử dụng lấn chiếm phía Bắc của thửa đất, với chiều dài
của cạnh phía Bắc 0,48m (phần đất này hình tam giác, vị trí nằm giữa hai
tường nhà ông N, nhà ông H).
Ngày 20/5/2025, nguyên đơn ông Phạm Văn N Đơn khởi kiện bổ sung
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số DI 844389, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng
Bình cấp cho ông Hoàng Tuấn H ngày 02/3/2023 Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 024109, do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp cho Hoàng Thị Tóc T ngày
17/6/2022, đối với thửa đất số 42 cho rằng trong quá trình cấp đổi Giấy chứng
nhận của thửa đất số 42 cho bà Hoàng Thị Tóc Tn vào năm 2022, Cơ quan có thẩm
quyền đã không Biên bản xác nhận mốc giới, ranh giới xác nhận hliền
kề vi phạm Luật đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 11 Thông 25/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Bản đồ địa
chính, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hộ gia đình ông.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
3
đã chuyển hồ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đgiải quyết theo
thẩm quyền. Ngày 16/6/2025, nguyên đơn ông Phạm Văn N rút yêu cầu khởi kiện
bổ sung về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Đơn khởi kiện ngày
20/5/2025. Ngày 27/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định số
18/2025/QĐST-DS về việc chuyển ván cho Tòa án nhân dân thành phố Đồng
Hới để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 14/8/2025, nguyên đơn ông Phạm Văn N khởi kiện bổ sung tiếp tục
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số DI 844389, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng
Bình cấp cho ông Hoàng Tuấn H ngày 02/3/2023 cho rằng Giấy chứng nhận
quyền s dụng đất nêu trên cấp không đúng diện tích của thửa đất số 42 theo ranh
giới, mốc giới sử dụng đất mà vchồng ông Hoàng Thị Tóc T (chủ sử dụng
của thửa đất số 42) đã thống nhất thỏa thuận vào năm 2007. Quá trình quan
có thẩm quyền cấp đổi GCN cho bà T không đúng trình tự, vi phạm quy định về ký
giáp ranh, liền kề theo Luật đất đai 2013.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H thống nhất ý kiến
trình bày như ông Phạm Văn N.
Theo bị đơn ông Hoàng Tuấn H trình bày: Tháng 02 năm 2023 ông nhận
chuyển nhượng nhà, đất của cô ruột là bà Hoàng Thị Tóc T thuộc thửa đất số 42, tờ
bản đồ 05 tại TDP Phú Mỹ, phường Đồng Hải, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng
Bình (nay phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị). Sau khi hoàn tất các thủ tục
chuyển nhượng, ngày 02/3/2023, ông được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh
Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DI 844389 đối với nhà, đất nhận chuyển nhượng. Về
diện tích, kích thước của thửa đất và tài sản được cấp đều giữ nguyên như GCN do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp cho Hoàng Thị Tóc T vào
ngày 17/6/2022. Từ khi mua lại tài sản i trên, ông H giữ nguyên hiện trạng s
dụng đất và tài sản trên đất sử dụng làm nhà thờ của gia đình. vậy, việc
nguyên đơn cho rằng ông sử dụng lấn chiếm 0,48m đất cạnh phía Bắc của
thửa đất 44 thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn buộc ông phải trả lại thì ông
hoàn toàn không đồng ý. quá trình mua bán, chuyển nhượng giữa ông
Hoàng Thị Tóc T đã thực hiện đúng quy định, không tranh chấp, quan nhà
nước thẩm quyền đã cấp GCN cho ông đối với tài sản nhận chuyển nhượng.
Ông Hoàng Tuấn H không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn
N về việc trả lại đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số 394/VPĐKĐĐ-PC ngày 04/9/2025, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị có ý kiến:
Đối với yêu cầu khởi kiện về việc hủy Giấy chứng nhận số phát hành DI
844389, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp cho ông Hoàng
Tuấn H ngày 02/3/2023:
- Về thành phần hồ sơ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên Môi trường được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021
của Bộ Tài nguyên Môi trường thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho ông Hoàng
4
Tuấn H đầy đủ thành phần: Đơn đăng biến động đất đai (ông Hoàng Tuấn H
ngày 13/01/2023); Hợp đồng số 174, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD lập
tại Văn phòng Công chứng Hải Vượng ngày 13/01/2023 Giấy chứng nhận số
phát hành DG 024109. Do đó, thành phần hồ sơ đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy
định.
- Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận: Việc Sở Tài nguyên Môi trường
Giấy chứng nhận số phát hành DI 844389, số vào sổ CS01865, thửa đất số 42 tờ
bản đồ số 5 (phường Đồng Mỹ) diện tích 215,0m
2
ất tại đô thị 150,0m
2
; đất
trồng cây lâu năm 65,0m
2
) tại phường Đồng Hải, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
cho ông Hoàng Tuấn H là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 105
Luật Đất đai năm 2013.
- Về trình tự thực hiện: Trên sĐơn đăng biến động đất đai đã nêu,
Giấy chứng nhận số phát hành DG 024109, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 174; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật
Đất đai năm 2013, Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ, Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai TP. Đồng Hới đã kiểm tra hồ
sơ, xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định. Căn cứ kết quả
kiểm tra đã nêu trên, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Quảng Bình đã thẩm định hồ
sơ, trình Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận
số phát hành DI 844389.
Qua kiểm tra, soát toàn bộ hồ , tài liệu liên quan, Sở Nông nghiệp
Môi trường tỉnh Quảng Trị nhận thấy:
+ Thông tin vthửa đất số 42 tờ bản đồ số 5 (diện tích, kể cả diện tích từng
loại đất, hình dạng, kích thước,.. ) không sự biến động từ năm 2014 đến năm
2023 (thể hiện tại trang 2 và trang 3 Giấy chứng nhận số phát hành BU 545021
UBND TP. Đồng Hới cấp năm 2014; Giấy chứng nhận số phát hành DG 024109
Sở Tài nguyên Môi trường cấp năm 2022 Giấy chứng nhận số phát hành BI
844389 Sở Tài nguyên Môi trường cấp năm 2023). Do đó, xét vbản chất,
Giấy chứng nhận cấp năm 2022 và 2023 vẫn giữ nguyên thông tin thửa đất đã được
cấp theo Giấy chứng nhận năm 2014 (cấp đổi từ Giấy chứng nhận cấp lần đầu năm
2007); không phải căn cứ Giấy chứng nhận quyền sdụng đất năm 2007 để thực
hiện cấp đổi Giấy chứng nhận năm 2022;
+ Việc giáp ranh giữa 02 hộ gia đình Hoàng Thị Tóc Tiên ông
Phạm Văn N đã có từ trước, cụ thể: 02 Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày
25/11/2012 tại thửa đất của Hoàng Thị Tóc T (có xác nhận của Hoàng Thị
Tóc T, người dẫn đạc, cán bộ đo đạc chủ sử dụng đất liền kề, trong đó ông
Phạm Văn N) của ông Phạm Văn N (có xác nhận của ông Phạm Văn N cán
bộ đo đạc). Theo đó, ranh giới giữa 02 hộ gia đình đi theo mép ngoài móng hàng
rào của ông Phạm Văn N. Trên sđó, Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình (nay là Trung tâm Kỹ thuật Nông
nghiệp Môi trường tỉnh Quảng Trị) đã lập 02 Kết quả đo đạc địa chính thửa đất
tại thửa đất số 44 tờ bản đồ số 5 và thửa đất số 42 tờ bản đồ số 5, Đồng Mỹ (có xác
nhận của ông Phạm Văn N, Hoàng Thị Tóc T, cán bộ địa chính phường Đồng
Mỹ Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên tháng 8/2013). Do vậy, dựa trên kết quả
5
đo đạc hiện trạng thửa đất của Hoàng Thị Tóc Tiên đã đcập nêu trên, Giấy
chứng nhận số phát hành AI 995812 các giấy tkhác, UBND TP. Đồng Hới đã
cấp Giấy chứng nhận sphát hành BU 545021. Tiếp đó, căn cứ Giấy chứng nhận
số phát hành BU 545021, các giấy tờ khác theo quy định, Sở Nông nghiệp Môi
trường cấp Giấy chứng nhận số phát hành DG 024109. lẽ đó, việc cấp Giấy
chứng nhận cho Hoàng Thị Tóc T đảm bảo quy định của pháp luật, thống nhất
trong toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan;
+ Căn cứ bản đồ địa chính đã được Sở Tài nguyên Môi trường phê duyệt
năm 2016 (trong đó có kết quả đo đạc chỉnh lý thửa đất của bà Hoàng Thị Tóc T
ông Phạm Văn N đã trình bày phía trên), ngày 25/5/2022 Chi nhánh Văn phòng
Đăng đất đai TP. Đồng Hới thực hiện trích lục bản đồ địa chính theo quy định
tại Phụ lục số 13 kèm theo Thông số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của
Bộ Tài nguyên Môi trường. Việc cấp đổi Giấy chứng nhận số phát hành DG
024109 cho Hoàng Thị Tóc T đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, diện
tích kết quả đo đạc, kiểm tra hiện trạng thửa đất số 42 tờ bản đồ số 5 không thay
đổi so với diện tích tại Giấy chứng nhận số phát hành BU 545021 (Biên bản kiểm
tra xác minh thực địa xác nhận của Hoàng Thị Tóc T, Chi nhánh Văn phòng
Đăng đất đai TP. Đồng Hới, công chức địa chính phường Đồng Hải ngày
27/4/2022).
Như vậy, việc Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình cấp Giấy
chứng nhận số phát hành DI 844389 đảm bảo đầy đủ thành phần hồ sơ, đúng
thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. vậy, đề nghị a án nhân dân khu
vực 1 tỉnh Quảng Trị tuyên không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận của
nguyên đơn.
Tại Công văn số 241/CNVPĐKĐĐ ngày 23/9/2025 Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai Khu vực VI, tỉnh Quảng Trị có nội dung:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 545021 được UBND thành phố
Đồng Hới cấp cho Hoàng Thị Tóc T ngày 26/12/2014 đối với thửa s42, tờ số
05, tại phường Đồng Mỹ, sự chênh lệch diện tích ch thước thửa đất so với
GCN được cấp lần đầu vào ngày 06/12/2007. Tuy nhiên, ranh giới thửa không thay
đổi so với GCN đã cấp năm 2007, cụ thể: Phía Bắc giáp R3, phía Nam giáp đường
Quý Đôn, phía Tây giáp đất ông Trần Anh V, phía Đông giáp đất ông Phạm
Văn N. Mặt khác, việc thực hiện đo đạc hiện trạng thửa đất khi cấp giấy chứng
nhận đã có ý kiến thống nhất của những người sử dụng đất liền kề, thể hiện tại Bản
mô tranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 25/11/2012, đã được các hộ liền kề
đầy đủ, tại thời điểm đo đạc, thửa đất trên không tranh chấp. Căn cứ theo quy
định tại Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai 2013: “5. Trường hợp có sự chênh lệch diện
tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100
của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp ranh giới thửa đất đang sử dụng
không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm giấy tờ về quyền sử dụng
đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp
đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng
đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn
6
nếu ". Như vậy, Giấy chứng nhận số BU 545021 cấp ngày 26/12/2014 là phù
hợp với quy định.
Hiện nay, ông, Phạm Văn N - Nguyễn Thị H ông Hoàng Tuấn H đang
tranh chấp về ranh giới sử dụng đất, đang được Tòa án nhân dân Khu vực 1
thụ lý, do vậy sau khi Bản án của Tòa án cấp thẩm quyền có hiệu lực thi hành
thì ranh giới, mốc giới thửa đất sẽ được xác định theo Quyết định của Bản án. Kính
đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 căn cứ các quy định hiện hành để xét xử.
Ngày 27/8/2025, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chổ hiện trạng
sử dụng đất của thửa đất số 44- ông N, bà H thửa đất số 42- ông Hoàng Tuấn H.
Kết quả xem xét thẩm định thể hiện:
Ông Hoàng Tuấn H đang quản lý, sử dụng thửa đất số 42, tờ bản đồ số 05,
địa chỉ: Phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị với diện tích thửa đất là 215m
2
. Về diện
tích, kích thước thửa đất, tài sản trên đất phù hợp với Giấy chứng nhận được cấp
năm 2023.
Ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị H đang quản sử dụng thửa đất số 44,
diện tích 223,2m
2
, cạnh phía Bắc dài 9,66m cạnh phía Nam dài 9,97m, cạnh
phía Tây dài 23,37m, cạnh phía Đông dài 22,07m; chưa đăng quyền sở hữu đối
với nhà ở xây dựng trên đất.
Xác định phần diện tích đất tranh chấp vị tnằm giữa hai thửa đất 42
44, diện tích 2,7m
2
, do ông Hoàng Tuấn H đang sdụng, thuộc diện tích đã
được ghi nhận trong GCN cấp cho ông Hoàng Tuấn H. Phần đất này đang được
chủ sử dụng thửa đất số 42 xây tường bê tông gắn tôn cao 4,1m (dạng chái tạm,
bỏ không).
Kết quả xác minh tại Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Quảng
Trị UBND phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị xác định: Hoàng Thị Tóc
Tiên, sinh ngày 20/7/1950, đã chết ngày 21/5/2023, bà Tiên không chồng,
không có con ruột hay con nuôi.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn ông Phạm Văn N rút mt phn yêu cu
khi kin, ch yêu cu b đơn trả li phần đất có v trí giữa hai tường nhà, phía Bc
ca thửa đt, chiu dài theo cnh phía Bc 0,34m, hình tam giác, din tích khong
3m
2
và gi nguyên yêu cu hy Giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s hu
nhà tài sn khác gn lin với đất s DI 844389, do S Tài nguyên Môi
trường tnh Qung Bình cp cho ông Hoàng Tun H ngày 02/3/2023 không
đồng ý vi các ý kiến trình bày ca S Nông nghiệp và Môi trường tnh Qung Tr
Văn phòng đăng ký đất đai Khu vc VI- Qung Tr cho rng vic cp GCN cho
bà Hoàng Th Tóc Tiên vào năm 2014 là đúng quy đnh ca pháp luật, không đng
ý vi cách gii thích của hai cơ quan này v ranh gii, mc gii thửa đất ch là quy
định v vic ti thời điểm thửa đất đó được cp GCN, thửa đất được xác định có v
trí, t cn giáp nhng thửa đất nào.
B đơn ông Hoàng Tun H không chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên
đơn và giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình tham gia t tng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H thống nhất ý kiến
như ý kiến trình bày của nguyên đơn ông Phạm Văn N.
7
Tại Bản án dân sự thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị quyết định: Căn c vào khoản 9 Điều 26,
khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 35, đim c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157,
227, 228, 244, 271 Điu 273 ca B lut T tng dân s; Ngh quyết s
01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thm phán Tòa án nhân dân ti
cao;
Áp dng điu 175, 176 B lut dân s B lut dân s năm 2015; Áp dng
Luật đất đai năm 2003, khoản 5 Điều 1 Thông tư số 21/2011/TT-BTNMT ngày
20/6/2011 và Quy đnh s 08/2008/QĐ-BTNMT ngày 10/11/2008 ca B Tài
nguyên Môi trường; Điu 98 Luật đất đai 2013, Thông s 25/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 ca B Tài nguyên và Môi trưng; Điều 152, Điu 236
Luật đất đai 2024. Áp dng Ngh Quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy đnh v mc thu, min, gim,
thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án;
X:
1. Đình chỉ xét x mt phn yêu cu khi kin ca nguyên đơn ông Phm
Văn N đối vi b đơn ông Hoàng Tun H v vic buc b đơn trả li phần đt có v
trí nm gia hai thửa đất s 42 44, diện tích tính theo đ dài cnh phía Bc
0,14m.
2. Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Phm Văn N v
hy giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s hu nhà tài sn khác gn
lin với đất s DI 844389, do S Tài nguyên Môi trường tnh Qung Bình cp
cho ông Hoàng Tun H ngày 02/3/2023.
3. Chp nhn mt phn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn N
v buc b đơn phải tr li phần đất thuc quyn s dng ca nguyên đơn do xác
định li ranh gii s dụng đất ca thửa đất s 42 và thửa đất s 44, t bản đồ s 05,
phường Đồng Hi, tnh Qung Tr như sau:
3.1. Giao cho ông Phạm Văn N, bà Nguyn Th H đưc quyn s dng phn
đất din tích 2,7m
2
, v trí nm gia hai thửa đt s 42 và 44 (theo Bản đo đạc
hin trng s dụng đất ngày 27/8/2025 phần đất được ni bởi các điểm 1, 2, 3).
Buc ông Hoàng Tun H phi tháo d các tài sn xây dng trên phần đt din
tích 2,7m
2
nêu trên để tr đt li cho ông Phạm Văn N và bà Nguyn Th H do Tòa
án xác định li ranh gii s dụng đất.
Xác định ông Phạm Văn N, Nguyn Th H đưc quyn s dng thửa đất
s 44, với kích thước, ranh giới như sau:
- Cnh phía Tây Nam, giáp đường Lê Quý Đôn kích thước: 9,97m;
- Cnh phía Bc, giáp rảnh thoát nước R3, kích thước: 9,91m;
- Cạnh phía Đông, giáp thửa đất s 45, kích thước 23,37m;
- Cnh phía Tây, giáp thửa đất s 42 ca ông Hoàng Tun H, kích thước
22,06m.
3.2. Xác đnh ông Hoàng Tun H đưc quyn s dng thửa đất s 42, vi
kích thước, ranh giới như sau:
- Cạnh phía Tây Nam, giáp đường Lê Quý Đôn kích thước: 9,73m;
- Cnh phía Bc, giáp rảnh thoát nước R3, kích thước: 10,14m;
8
- Cạnh phía Đông, giáp thửa đất s 44 ca ông Phạm Văn N, kích thước
22,06m;
Các bên đương sự có quyền, nghĩa v liên h với cơ quan Nhà nước có thm
quyền để thc hin th tục điều chnh biến động đăng quyn s dụng đất
theo ranh giới được xác định theo bản án theo quy định ca pháp lut.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2025 bị đơn ông Hoàng Tuấn H làm đơn
kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do Sở Nông nghiệp và môi trường cấp. Ngày 10/10/2025 nguyên đơn ông
Phạm Văn N làm đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án thẩm cạnh phía bắc của
thửa đất số 44 thuộc quyền sử dụng của ông chiều dài 10m theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 28/12/1996 nhưng bản án thẩm chxác định
dài 9,91m, thiếu 0,09m. Ngày 23/10/2025, nguyên đơn Phạm Văn N đơn xin bổ
sung kháng cáo, yêu cầu Tòa phúc thẩm xác định ranh giới giữa thửa đất 42
thửa đất 44 theo hồ cấp đất năm 1996, không công nhận các kích thước biến
động tăng lên 10,13 hoặc 10,39m của cạnh phía Bắc thửa đất số 42 được thể hiện
trong các lần đo đạc, cấp đổi giấy chứng nhận của thửa đất s42 buộc các
quan thẩm quyền thực hiện việc chỉnh bản đồ địa chính, hồ kỹ thuật thửa
đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hoàng Tuấn H đthống nhất
theo ranh giới gốc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, rút
phần yêu cầu khởi kiện như cấp thẩm, giữ nguyên kháng cáo. Bị đơn giữ
nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm: Về tố
tụng: những người tiến hành tố tụng những người tham gia tố tụng đã tuân thủ
đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bị đơn, giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1,
tỉnh Quảng Tr. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bđơn làm trong hạn luật
định, nội dung, hình thức đúng quy định đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án để giải quyết theo trình tự, thủ tục phúc
thẩm là phù hợp với quy định tại các Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn N, Hội đồng xét xử nhận
thấy: Ông Phạm Văn N Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn
Văn H Thị Y thửa đất số 68, nay thửa đất số 44, tờ bản đồ số 05, địa
9
chỉ: Phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số I 993223, do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/12/1996, mang tên
ông Phạm Văn N, Nguyễn Thị H với diện tích 200m
2
(10m x 20m) đất ở. Tuy
nhiên, năm 2007 khi chủ thửa đất 11, TBĐ 06 (nay là thửa 42, TBĐ 05) Hoàng
Th Tóc Tiên làm th tc cấp GCNQSDĐ lần đầu vi din tích 201,2m
2
(có cnh
phía Nam, giáp đường Lê Quý Đôn dài 9,65m; cạnh phía Bc, giáp rảnh thoát nước
R3 dài 10,13m) thì h lin k ông N, bà H cũng đồng ý xác đnh li ranh gii.
Giy chng nhn cp cho T đưc cấp trên sở Biên bn thẩm định v/v cp
GCNQSD đất Biên bn tha thun v ranh gii xác nhn ca h lin k
là ông Nguyễn Văn Năm, bà Nguyn Th H (ch thửa đất s 44). Như vậy, các bên
đã tự xác định lại ranh giới đất của mỗi bên, ông N, H cũng đồng ý với sự thay
đổi ranh giới theo hiện trạng nên thửa đất 11, TBĐ 06 (nay là thửa 42, TBĐ 05) đã
được cấp GCNQSDĐ theo quy định, do đó kháng cáo của ông là không có cơ sở.
[3]. Xét kháng cáo ca b đơn ông Hoàng Tun H, Hội đồng xét x nhn
định: Sau khi nhận chuyển nhượng từ ruột là Hoàng Thị Tóc T đối với nhà,
đất tại số D đường L, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, ngày 02/3/2023 ông Hoàng Tuấn
H được Sở Tài nguyên Môi trưởng tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DI
844389, đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 42. Về
diện tích, kích thước thửa đất, tài sản gắn liền với đất được giữ nguyên theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số DG 024109 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng nh cấp cho
Hoàng Thị Tóc T ngày 17/6/2022. Từ khi nhận chuyển nhượng cho đến thời điểm
xảy ra tranh chấp vranh giới giữa hộ ông Phạm Văn N thì ông Hoàng Tuấn H
chưa thực hiện việc thay đổi hiện trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tuy
nhiên, quá trình cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DG 024109 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Quảng Bình cấp cho Hoàng Thị Tóc T ngày 17/6/2022 đối với thửa đất số
42 đã schênh lệch tăng c v diện tích kích thước các cnh so vi GCN
đưc cp lần đầu vào ngày 06/12/2007. C th: cnh phía Bc ca thửa đất s 42
kích thước tăng từ 10,13m lên 10,39m (tăng 0,26m); cạnh phía Nam ca tha
đất kích thước tăng từ 9,65m lên 9,73m (tăng 0,08m). Nhưng tha 44 li gim:
cnh phía Bc ch còn 9,66m, cnh phía Nam ch còn 9,97m. T việc tăng, gim
kích thước này đã dẫn đến làm thay đổi v ranh gii, mc gii ca thửa đt s 42
44. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến thay đổi v din tích theo GCN cấp năm
2014 ca thửa đt s 42 tăng so với din tích theo GCN cấp năm 2007 do đã
thay đổi v ranh gii thửa đt, mc gii ca tha đất ch không phải tăng do sai s
đo đạc như nội dung được ghi trong bn mô t ranh gii, mc gii thửa đất s 42
ngày 25/11/2012. Mt khác, bn t ranh gii, mc gii ngày 25/11/2012 kết
qu đo đạc địa chính thửa đất ngày 17/8/2013 không phản ánh đúng hiện trng s
10
dụng đất ca hai thửa đất. Người s dụng đất đã ký vào biên bản người s dụng đất
s nhm lẫn khi đọc các thông tin được t trong bn ranh gii mc: “Tình
hình thay đổi ranh gii thửa đt so vi giy t đã ghi nội dung: Ranh gii không
thay đi, không chênh lch...”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định vic cấp đổi
Giy chng nhn quyn s dụng đất đối vi thửa đt s 42 vào năm 2014 không
đúng quy định ca pháp lut nhưng hin ti thửa đất s 42 đã chuyển nhượng cho
ch s dụng đất khác vic chuyển nhượng, mua bán đất này đúng quy đnh
pháp lut nên không hy GCN s DI 844389, do S Tài nguyên và Môi trường tnh
Qung Bình cp cho ông Hoàng Tun H ngày 02/3/2023 chp nhn mt phn
yêu cu khi kin của nguyên đơn, xác đnh li ranh gii hai thửa đất s 42 44
theo ranh gii, mc giới đã được ông Phạm Văn N, Nguyn Th H Hoàng
Th Tóc T tha thun ti biên bn làm vic ngày 10/8/2006, biên bn thẩm định v
vic cp GCNQSD đất ngày 22/5/2007 phù hp. Mt khác, phn diện tích đất
hiện đang tranh chấp v trí nm gia 02 thửa đt s 42 s 44 vi din tích
2,7m
2
thuc diện tích đã được ghi nhn trong giy chng nhn quyn s dụng đt
cp cho ông Hoàng Tun H. Nnhận định trên, phn diện tích đó cn giao cho
ông Phạm Văn N Nguyn Th H s hu và s dng vic cấp đổi tăng diện
tích s dụng đt cho bà Hoàng Th Tóc T không đúng quy định. Như vậy, cn phi
điu chnh giy chng nhn quyn s dng đất ca ông Hoàng Tun H sau khi
s thay đi ch s hữu đối vi phn din tích 2,7m
2
đất nói trên. Do đó, kháng cáo
ca ông Hoàng Tun H đề ngh gi nguyên giy chng nhn quyn s dụng đất do
S Nông nghiệp và môi trường cp cho ông là không có cơ sở chp nhn.
[4]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị
của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm số
29/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bên đương sự không
được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
[5.1]. Ông Phạm Văn N đối tượng người cao tuổi đơn xin miễn án
phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
[5.2]. Ông Hoàng Tuấn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo
Biên lai thu phí, lệ phí Tòa án s0000724 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Quảng Trị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
11
Căn cứ khon 1 Điu 308 B lut t tng dân s năm 2015; Điều 12, Điều
15, khon 1 Điu 29 ca Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
ca Ủy ban thường v Quc hội quy định v án phí, l phí Tòa án; X:
1. Không chp nhn kháng cáo của các bên đương sự, gi nguyên Bản án sơ
thm s 29/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 1 tnh
Qung Tr.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bên đương sự không
được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
2.1. Ông Phạm Văn N được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
2.2. Ông Hoàng Tuấn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo
Biên lai thu phí, lệ phí Tòa án số 0000724 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Quảng Trị.
Bn án phúc thmhiu lc pháp lut k t ngày tuyên án (15/01/2026).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Trị ; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Thi hành án dân sự KV1;
- TAND khu vực 1;
- Các đương sự; (đã ký)
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
Hoàng Thị Thanh Nhàn
Tải về
Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất