Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 06/05/2025 của TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 06/05/2025 của TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Búk (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 05/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/05/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nuyên đơn yêu cầu buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn trả tổng số tiền tính đến ngày 16/4/2025 (ngày xét xử vụ án) là 195.953.765 đồng, trong đó nợ gốc là 149.999.888 đồng, lãi trong hạn là 9.187.696 đồng, lãi quá hạn là 36.766.181 đồng. tiếp tục trả lãi đến khi trả xong nợ, nếu không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Người có QLNVLQ yêu cầu tuyên hợp đồng đặt cọc với bị đơn vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 05/2025/DS-ST
Ngày: 06 - 5 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng, tranh chấp hợp đồng
đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Công Đạt.
2. Ông Y Mưng Niê.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk
tham gia phiên toà: Ông
Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án
nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử thẩm công khai
vụ án dân sự
thụ số 71/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về: Tranh chấp hợp đồng
tín dụng, tranh chấp hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa ván ra xét xử số:
05/2025/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số
05/2025/QĐST-DS ngày 28/3/2025, Quyết định tạm ngừng phiên toà số
01/2025/QĐST-DS ngày 16/4/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H.
Địa chỉ: Số A, Bis Nguyễn Thị Minh K, phường B, quận K, thành phố H.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc Th - Chức vụ: Tổng giám
đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chung Chí Tm - Chức vụ: Giám đốc
phòng giao dịch K Ngân hàng Tơng mại cổ phần H.
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh i Hữu P - Chức vụ:
Chuyên viên quan hệ khách hàng.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Tn.
Địa chỉ: Thôn K3 (nay là thôn K), xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập: Anh Ông Văn
Tg, sinh năm 1974 và chị Nguyễn Thị Hl, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Thôn K3 (nay thôn K), C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
2
mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Tg, chị Hl: Anh Hoàng
Văn L Luật sư Văn phòng luật sư T tại huyện K thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lk.
Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
4. Người làm chứng: Ông Hoàng Ngọc V, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vắng mặt (ông Hoàng Ngọc
V có đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2024, quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn đã trình bày:
Ngân hàng TMCP phát triển thành ph H (sau đây viết tắt ngân hàng H
hoặc Ngân hàng) đã cho anh Nguyễn Hữu Tn vay số tiền là 150.000.000 đồng. Theo
Hợp đồng tín dụng hạn mức số 174/22PGDKrB/HĐTD ngày 24/01/2022, đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 174/22PGDKrB/HĐTD/KUNN02 ngày
17/01/2023, anh Tn đã nhận đủ số tiền vay, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất
13,5%/năm, ngày nhận nợ ngày 17/01/2023, ngày đến hạn 17/01/2024. Lãi suất
cho vay được quy định chi tiết trong đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
174/22PGDKrB/HĐTD/KUNN02 ngày 17/01/2023, mục đích vay đbổ sung vốn
trồng trọt.
Q trình thc hiện hợp đng anh Nguyễn Hữu Tn đã vi phạm nga vụ trả nợ
gốc, i khi đến hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã
kết, tính đến ngày 27/05/2024 anh Tn n nợ HD Bank tổng s tiền 169.773.013
đồng, gồm nợ gốc là 149.999.888 đồng, i trong hạn là 9.187.696 đồng, lãi q hạn là
10.585.429 đồng.
V i sản thế chấp, Nn hàng anh Tn đã ký kết Hp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất số 922/20PGDKrB/HĐBĐ ngày 24/9/2020, được Công chứng tại n
Png công chứng B ngày 24/09/2020 Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng số
922/20PGDKrB/HĐBĐ/PL01 ngày 24/01/2022, được ng chứng tại n Phòng
ng chng B ngày 24/01/2022, tài sản thế chấp là:
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
,
địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đắk Lk cấp giy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đt số CV 662485, cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn
Hữu Tn.
Do anh Tn đã vi phạm nghĩa vtrnợ, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu nhưng
anh Tn vẫn không thực hiện nga vụ trn n Nn hàng khởi kiện yêu cu T án
giải quyết.
Buộc bđơn anh Nguyễn Hữu Tn phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc
lãi cho Ngân hàng với tổng số tiền tính đến ngày 27/5/2024 169.773.013 đồng,
trong đó nợ gốc là 149.999.888 đồng, lãi trong hạn là 9.187.696 đồng, lãi quá hạn
10.585.429 đồng.
3
Tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xin thay đổi một phần
yêu cầu khởi kiện theo hướng buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn trả tổng số tiền nh
đến ngày 16/4/2025 (ngày xét xử vụ án) 195.953.765 đồng, trong đó nợ gốc
149.999.888 đồng, lãi trong hạn là 9.187.696 đồng, lãi quá hạn là 36.766.181 đồng.
Buộc anh Tn phải trả lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mc lãi suất thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng khế ước nhận nợ đã kết vi Ngân hàng kể từ
ngày 17/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hp anh Tn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đnghĩa vụ
trả nợ, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm
đã thế chấp cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
922/20PGDKrB/HĐngày 24/9/2020 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số
922/20PGDKrB/HĐBĐ/PL01 ngày 24/01/2022, xử lý đối với tài sản bảo đảm là:
Quyền sử dụng đất của thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
,
địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đắk Lk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đt số CV 662485, cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn
Hữu Tn.
Nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ thanh toán hết khoản
nợ của anh Tn tại Ngân hàng thì Ngân hàng quyền yêu cầu quan thẩm
quyền xử lý các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh Tn để tiếp tục thu
hồi nợ vay theo quy định pháp luật hoặc anh Tn vẫn phải nghĩa vụ trả hết khoản
nợ.
Đối với yêu cầu độc lập của anh Tg, chị Hl thì người đại diện theo uỷ quyền
tham gia tố tụng của nguyên đơn xác định Ngân hàng không biết việc anh Tn
giao dịch đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Tg, chị Hl trong khi
quyền sử dụng đất của thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
đang
được Ngân hàng nhận thế chấp bảo đảm cho khoản vay của anh Tn, nên đề nghị giải
quyết yêu cầu độc lập của anh Tg, chị Hl theo quy định của pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn đồng ý các kết
quả xem xét thẩm định ti chỗ, kết quả định giá, kết quả giám định chữ ký, chữ viết
của anh Tn trong hợp đồng đặt cọc với anh Tgchị Hl.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền
1.500.000 đồng nên yêu cầu anh Tn phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền này. Đối
với chi phí định giá tài sản, chi phí giám định chữ ký, chữ viết của anh Tn đề nghị
xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn, q trình giải quyết vụ án đã được cấp tống đạt,
thông báo hợp lệ c văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải,
các giấy báo tham gia tố tụng, tham gia phiên họp, thông báo kết quả phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh Tn không văn
bản nêu ý kiến, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Khi Toà án quyết
định đưa vụ án ra xét xử đã cấp, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết
4
định hoãn phiên tòa, Quyết định tạm ngừng phiên phiên toà, c giấy báo tham gia
phiên tòa nhưng anh Tn vn vắng mặt tại phiên tòa đến ln thứ hai không do
nên không ghi nhận được ý kiến của anh Tn.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ông Văn Tg quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên toà đã trình bày:
Tôi và anh Tn có quan hệ bà con xa, anh Tn gọi tôi bằng chú, từ khoảng tháng
12 năm 2018, tôi vợ chị Nguyễn Thị Hl được anh Tn nhờ quản lý, canh tác
trên thửa đất số 112, tờ bản đsố 16, diện tích 6009,8m
2
, tại Thôn K, C, huyện
K, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất cho anh Tn, đến cuối năm thì vợ chồng tôi trả cho anh Tn số
tiền 9.000.000 đồng, còn số tiền thu hoạch hoa lợi còn lại vợ chồng tôi được hưởng,
vợ chồng tôi đã quản lý, chăm sóc các cây trồng trên đất từ đó đến nay nhưng không
lập văn bản. Đến năm 2023 anh Tn mới đặt vấn đề về việc sang nhượng đất cho vợ
chồng tôi, chúng tôi đã đồng ý, nên vào ngày 29/12/2023 chúng tôi đã lập Hợp đồng
đặt cọc V/v: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất, tôi
anh Tn họ tên, lăn dấu vân tay trên hợp đồng, anh Hoàng Ngọc V làm
chứng, vợ tôi cũng có mặt nhưng không trong hợp đồng vì chúng tôi là vợ chồng
chỉ cần một người ký là được.
Chúng tôi thoả thuận giá sang nhượng đất là 300.000.000 đồng, tiền đặt cọc là
150.000.000 đồng, sau khi ký hợp đồng đặt cọc, vợ tôi đã dùng tài khoản của vợ tôi
mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đ chuyển khoản cho anh Tn s tiền
150.000.000 đồng. Hai bên thống nhất thời gian đặt cọc từ ngày 29/12/2023 đến
ngày 06/01/2024, khi đã nhận tiền cọc thì hai bên s cùng nhau làm thủ tục công
chứng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, stiền 150.000.000 đồng đặt cọc
cũng được khấu trừ khi hai bên làm xong thủ tục chuyển nhượng.
Tiếp đó đến ngày 09/01/2024 anh Tn đến gp vchồng tôi để thương lượng,
anh Tn nói còn lại số tiền 150.000.000 đồng thì vợ chồng tôi đưa đủ cho anh Tn để
anh Tn đi rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp Ngân hàng
Thương mại cổ phần phát triển thành phố H về để làm thủ tục chuyển nhượng cho
chúng tôi. Đến thời điểm này chúng tôi mới biết quyền sử dụng đất nêu trên đang
thế chấp tại Ngân hàng nhưng tin tưởng nên chúng tôi đã đồng ý, vợ tôi tiếp tục
chuyển khoản thêm cho anh Tn số tiền 150.000.000 đồng, vợ chồng tôi đã chuyển
khoản đủ số tiền chuyển nhượng đất là 300.000.000 đồng cho anh Tn.
Về hiện trạng tha đất khi chúng tôi khi nhận quản giúp anh Tn từ năm
2018, trên đất đã sn các cây trồng cây phê mt số cây ăn quả khác,
chúng tôi không trồng thêm, không tạo lập, xây dựng công trình khác, hiện trạng đất
đúng như kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án.
Sau khi trả đủ tiền chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu anh Tn trả nợ cho Ngân
hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục chuyển nhượng, sang
tên quyền sử dụng đt, nhưng anh Tn vẫn không thực hiện. vậy, việc anh Tn đã
nhận đầy đủ tiền chuyển nhượng nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng xâm
5
phạm nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của vợ chồng tôi nên chúng tôi
yêu cầu độc lập, yêu cầu Toà án giải quyết.
Tuyên Hợp đồng đặt cọc V/v: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất được lập ngày 29/12/2023 giữa vợ chồng tôi anh Nguyễn Hữu
Tn v việc chuyển nhượng thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, địa chỉ C, huyện K,
tỉnh Đắk Lk, diện tích 6009,8m
2
, được Sở Tài nguyênMôi trường tỉnh Đắk Lk
cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đt số CV 662485, cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn Hữu Tn là
hiệu.
Về giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu: Yêu cầu buộc anh Tn phải nghĩa
vụ trả lại cho vợ chồng tôi số tiền đặt cọc, chuyển nhượng300.000.000 đồng.
Anh Tg đồng ý với các kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, kết quả định giá
tài sản kết quả giám định chữ ký, chữ viết của anh Nguyễn Hữu Tn trong hợp
đồng đặt cọc ngày 29/12/2023.
Về chi phí định giá tài sản, chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Vợ chồng tôi
đã nộp tạm ứng tổng stiền 8.700.000 đồng nên yêu cầu anh Tn phải hoàn trả lại
cho chúng tôi theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà anh Tg xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập và các ý kiến đã
trình bày, đồng ý giao trả lại thửa đất số 112, tờ bản đồ 16 lại cho anh Tn đây
tài sản bảo đảm đã thế chấp tại Ngân hàng. Giao dịch giữa anh Tg, chị Hlanh Tn
là giao dịch dân sự, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu phạt cọc hoặc yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hl quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên toà đã trình bày:
Tôi đồng ý với tất cả các ý kiến trình bày của chồng tôi anh Tg, vào ngày
29/12/2023 vợ chồng tôi anh Tn đã thảo thuận đặt cọc sang nhượng thửa đt số
112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
, chúng tôi đã lập hợp đồng đặt cọc, chồng
tôi và anh Tn ký họ và tên, lăn du n tay trên hợp đồng, có anh Hoàng Ngọc V
làm chứng, tôi cũng có mặt nhưng không ký hợp đồng đặt cọc chúng tôi là vợ
chồng chỉ cần chồng tôi được. Gchuyển nợng thửa đất 300.000.000
đồng, tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng, sau khi lp hợp đồng đặt cọc tôi đã ng tài
khoản của tôi mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q để chuyển khoản cho anh
Tn số tiền 150.000.000 đồng, thời gian đặt cọc từ ngày 29/12/2023 đến ngày
06/01/2024, stiền đặt cọc sẽ được khấu trừ khi hai bên làm xong thủ tục chuyển
nhượng. Đến ngày 09/01/2024 anh Tn đến gặp vợ chồng tôi để thương lượng, anh
Tn nói còn lại số tiền 150.000.000 đồng thì vợ chồng tôi đưa đủ cho anh Tn để anh
Tn đi trả nợ Ngân hàng và rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp về
để làm thủ tục chuyển nhượng, đến thời điểm này tôi mới biết quyền sử dụng đất
của anh Tn đang thế chấp tại Ngân hàng. Do tin tưởng nên vợ chồng tôi đã đng ý,
tôi tiếp tục sử dụng tài khoản của mình để chuyển khoản thêm cho anh Tn số tiền
150.000.000 đồng để trả đtiền nhận chuyển nhượng đất cho anh Tn, với số tiền i
đã hai lần chuyển khoản là 300.000.000 đồng.
6
Từ khoảng tháng 12 năm 2018, v chồng tôi được anh Tn nhờ quản lý, canh
tác trên thửa đất, cuối năm strả cho anh Tn số tiền 9.000.000 đồng, còn s tiền thu
hoạch hoa lợi còn lại vợ chồng tôi được hưởng, vchồng tôi đã quản lý, chăm sóc
các cây trồng trên đất từ đó đến nay. Chúng tôi khi nhận quản đất từ năm 2018,
trên đất đã sẵn c cây trồng là cây phê, chúng tôi cũng không trồng thêm,
không tạo lp, xây dựng thêm công trình khác, hiện trạng đất đúng như kết quả
xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án.
Nay Ngân hàng khởi kiện đối với anh Tn tôi đề nghị Toà án xem xét giải
quyết các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng theo quy định của pháp luật, tôi vẫn giữ
nguyên yêu cầu độc lập.
Về chi phí định giá tài sản, chi phí giám định chữ ký, chữ viết của anh Tn, tôi
yêu cầu anh Tn phải hoàn trả cho vợ chồng tôi theo quy định của pháp luật.
Tôi cũng xác định giao dịch giữa vợ chồng tôi anh Tn giao dịch dân sự,
tôi không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu phạt cọc hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại
hại. Tôi cũng đồng ý giao lại thửa đất nêu trên cho anh Tn đất đang tài sản thế
chấp tại Ngân hàng, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án người làm chứng ông Hoàng Ngọc V trình bày:
Tôi anh Tn, anh Tg, chị Hl hàng xóm sống cùng thôn, không họ hàng
thân thích, vào ngày 29/12/2023 tôi chứng kiến việc anh Tn và vợ chồng anh Tg, chị
Hl thoả thuận sang nhượng thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, hai bên lập hợp đồng
đặt cọc, ký họ tên, lăn tay trên hợp đồng, tôi chứng kiến việc lập hợp đồng đặt
cọc nên họ nhờ i làm chứng nên tôi đã lăn tay trên hợp đồng. Tôi biết v
trí thửa đất của anh Tn đất này nằm liền kề với rẫy của anh Tg, chị Hl thôn
K, C, huyện K. Tôi không nhớ việc họ thoả thuận giá chuyển nhượng đất bao
nhiêu nhưng chứng kiến việc chị Nguyễn Thị Hl chuyển khoản cho anh Nguyễn
Hữu Tn số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng, còn cụ thể số tài khoản của Ngân hàng
nào tôi không đây thông tin nhân của họ, ngoài ra tôi không chứng kiến
sự vic nào khác. Vì bận công việc nên đ nghị cho tôi được vắng mặt tại các buổi
làm việc, phiên toà xét xử vụ án ở các cấp.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Tg, chị Hl quá trình giải
quyết tại phiên toà trình bày: Tôi đồng ý vi toàn bộ ý kiến của anh Tg, chị Hl
đã trình bày, đồng ý các kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, kết quả định giá tài sản
thế chấp, kết luận giám định chữ ký, chữ viết, dấu vết đường vân (dấu vân tay) trên
hợp đồng đặt cọc ngày 29/12/2023 giữa anh Tg, chị Hl anh Tn. Căn cứ các tài
liệu chứng cứ trong hồ vụ án, kết luận giám định sở xác định việc anh
Tg, chị Hl và anh Tn đã lập hợp đồng đặt cọc nêu trên, thoả thuận về việc anh Tn sẽ
chuyển nhượng cho anh Tg, chHl quyền sử dụng đất của thửa đất số 112, tờ bản đồ
số 16, diện tích 6009,8m
2
, địa chỉ tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lk, đã được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền vi đất số CV 662485, cấp ngày
18/9/2020, mang tên anh Nguyễn Hữu Tn. Anh Tg, chị Hl đã trả đủ số tiền chuyển
nhượng là 300.000.000 đồng cho anh Tn nhưng việc anh Tn không thực hiện thủ tục
7
sang nhượng quyền sử dụng đất ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của
anh Tg, chị Hl. vậy, đề nghị Toà án xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập
của anh Tg, chị Hl. Ngoài ra đề nghị xem xét cho anh Tg, chị Hl được quyền ưu tiên
mua đối với quyền sử dụng đất nêu trên trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm
để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu quan điểm:
Về tuân theo thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục
tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, đại diện theo y quyền của
nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thc hiện đầy đủ quyền
nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 73, 76 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bđơn
anh Nguyễn Hữu Tn không tham gia tố tụng mặc dù đã được cấp, thông báo, tống đạt
hợp lệ các thủ tục tố tụng chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của bị đơn theo
quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên toà đến
lần thứ hai không có lý do n việc xét xử vắng mặt anh Tn đúng quy định tại c
Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng căn cứ, đề nghị chấp nhn toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn phải nghĩa
vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 16/4/2025 (ngày xét xử ván)
195.953.765 đồng, gồm nợ gốc 149.999.888 đồng, lãi trong hn 9.187.696 đồng, lãi
quá hn 36.766.181 đng căn cứ chấp nhận. Anh Tn phải tiếp tục trả tiền lãi
theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ kể từ ngày 17/4/2025 đến
khi trả xong nợ. Trường hợp anh Tn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu quan thẩm quyền xử i
sản anh Tn đã thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ. Trường hợp việc xử tài sản thế
chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu
quan có thẩm quyền xử lý đối với các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
anh Nguyễn Hữu Tn để thu hồi nợ hoặc anh Nguyễn Hữu Tn vẫn phải nghĩa vụ
trả hết khoản nợ là có căn cứ.
Về chi phí xem xét thẩm định ti chỗ, định giá tài sản, chi phí giám định, đ
nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c i liệu trong h vụ án đã đưc thẩm tra tại phiên
tòa n cứ vào kết qu xét hỏi tại phiêna, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét x nhận thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật, thủ tục tố tụng dân sự: Quan hệ pháp luật tranh
chấp vhợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng đặt cọc thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản
8
3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật t tụng dân
sự.
Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều
70, 71, 73, 76 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn mặc
đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia
tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt tại phiên
tòa đến lần thứ hai không do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh
Tn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
[2] Xét yeâu caàu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử vụ án:
Căn cứ Hp đng tín dng hn mức số 174/22PGDKrB/HĐTD ngày
24/01/2022, đ ngh gii ngân kiêm khế ưc nhn n số
174/22PGDKrB/HĐTD/KUNN02 ngày 17/01/2023, đưc công chng theo
quy đnh ca pháp lut, căn c xác đnh Ngân hàng đã cho anh Nguyễn
Hu Tn vay s tin là 150.000.000 đng, anh Tn đã nhận đủ số tiền vay. Thi
hn vay 12 tháng, lãi sut 13,5%/năm, ngày nhn n 17/01/2023, ngày đến
hn 17/01/2024. Lãi suất cho vay được quy định chi tiết trong đề nghị giải ngân kiêm
khế ước nhận nợ số 174/22PGDKrB/HĐTD/KUNN02 ngày 17/01/2023. Mục đích
vay để bổ sung vốn trồng trọt. Việc thỏa thuận, ký kết Hợp đồng tín dụng là có thật,
trên sở hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên.
Q trình thực hiện hợp đồng anh Tn không thực hiện việc trả nợ gốc lãi
khi đến hạn như đã cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ vi phạm
nghĩa vụ trả nợ của bên vay, anh Tn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày
27/5/2024 169.773.013 đồng, trong đó nợ gốc 149.999.888 đồng, lãi trong hạn
9.187.696 đồng, lãi quá hn 10.585.429 đồng thật nên Ngân hàng khởi kiện
yêu cầu buộc anh Tn trả tổng số tiền nợ gốc và lãi nêu trên có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin thay đổi
một phần yêu cầu khởi kiện, theo hướng yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền tính
đến ngày xét xvụ án (ngày 16/4/2025) 195.953.765 đồng, trong đó nợ gốc là
149.999.888 đồng, lãi trong hạn 9.187.696 đồng, lãi quá hạn 36.766.181 đồng.
Yêu cầu anh Tn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 17/4/2025 đến khi anh Tn
thanh toán xong toàn bộ nợ gốc cho Ngân hàng, theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại
Hợp đồng tín dụng Khế ước nhận nợ phù hợp quy định tại các Điều 71, Điều
243, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên cần chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng:
Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất số 922/20PGDKrB/HĐBĐ ngày
24/9/2020 và hp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 922/20PGDKrB/HĐBĐ/PL01
ngày 24/01/2022, giữa Ngân hàng và anh Tn được ký kết trên cơ sở tự nguyện, được
9
công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền là đúng quy định
của pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, tài sản thế chấp quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
, tọa lạc tại xã C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lk giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sn khác gắn liền với đất
số CV 662485, cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn Hữu Tn. Theo kết quả
xem xét, thẩm định tại chỗ thì thửa đất nêu trên hiện trạng sử dụng đúng theo
giấy chng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất đã được cấp. Do anh Tn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên trong trường hp anh
Tn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì
Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thẩm quyền xử tài
sản thế chấp u trên để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ nội dung tại các điểm b, d khoản 1 Điều 8 vquyền của Ngân hàng
theo theo Hp đng tín dng hn mức số 174/22PGDKrB/HĐTD ngày
24/01/2022 thể hiện:
b. Yêu cầu bên được cấp tín dụng trả tiếp số ncòn thiếu sau khi áp dụng
các biện pháp xử lý theo thỏa thuận để thu hồi nợ mà vẫn không thu hồi đủ”.
d. Xử TSBĐ, tài sản khác của bên được cấp tín dụng (trong trường hợp
TSBĐ nợ vay không đủ thu hồi nợ) theo phương thức hai bên đã thỏa thuận trong
(các) hợp đồng bảo đảm để thu hồi nợ”.
Tại điểm i khoản 2 Điều 8 về nguyên tắc xử tài sản thế chấp, theo Hợp
đồng thế chấp số 922/20PGDKrB/HĐBĐ ngày 24/9/2020, thể hiện:
i. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý TSTC không đủ thực hiện nghĩa
vụ được bảo đảm theo hợp đồng này của bên thế chấp thì HD Bank tiếp tục ghi nợ
số tiền còn lại và bên thế chấp có nghĩa vụ trả nợ tiếp cho HD Bank, HDbank được
quyền xử lý các i sản/nguồn thu khác của bên thế chấp cho đến khi thu hồi hết nợ.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử TSTC còn sẽ được HDBank hoàn trả
cho Bên thế chấp.”
Như vậy, căn cứ ni dung thỏa thuận nêu trên, yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng về việc nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ thanh toán hết
khoản nợ của anh Tn tại Ngân hàng thì Ngân hàng quyền yêu cầu quan
thẩm quyền xcác tài sản kc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh Tn để tiếp
tục thu hồi nợ vay theo quy định pháp luật hoặc anh Tn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết
khoản nợcó căn cứ cần chấp nhận.
Trường hợp anh Tn trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng mà không phải xử lý i sản
thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và i sản khác gắn liền với đất số CV 662485 cho anh Tnp
hợp.
[3] t yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ông
Văn Tg, chị Nguyễn Thị Hl, Hi đồng xét xử nhận định:
[3.1] Việc xác lập, thực hiện hợp đồng đặt cọc, yêu cầu tuyên hợp đồng đặt
10
cọc hiệu: Căn cứ hợp đồng đặt cọc được lập ngày 29/12/2023, Kết luận giám
định số 1678/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình s Công an tỉnh
Đ đã kết luận:
Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Hữu Tn dưới mục Đại diện bên A trên tài
liệu cần giám định hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang n Nguyễn Hữu Tn
trên tài liệu mẫu so sánh hiệu M1, M2 do cùng một người và viết ra, dấu
vết đường vân dưới mục Đại diện bên A ghi tên Nguyễn Hữu Tn trên tài liệu cần
giám định hiệu A1 so với dấu vết đường vân dưới mục “Những người thừa kế”
ghi tên Nguyễn Hữu Tn trên tài liệu mẫu sonh ký hiệu M2 là của cùng một người.
Quá trình giải quyết vụ án anh Tg, chị Hl cũng thừa nhận giữa anh Tg, chị Hl
anh Tn đã lập hp đồng đặt cọc ngày 29/12/2023 là phù hợp với kết luận giám
định nêu trên và lời trình bày của người m chứng nên có căn cứ xác định giữa anh
Tg, chị Hl anh Tn đã hợp đồng đặt cọc, thoả thuận về việc anh Tn chuyển
nhượng cho anh Tg, chị Hl thửa đất số 112, t bản đồ số 16, tại thôn K, xã C, huyện
K, tỉnh Đắk Lk với diện tích 6009,8m
2
tài sản anh Tn đang thế chấp tại Ngân
hàng là có thật.
Hai bên thảo thuận gchuyển nhượng 300.000.000 đồng, anh Tg, chị Hl
đã đặt cọc cho anh Tn số tiền 150.000.000 đồng, đến ngày 09/01/2024 đã thanh toán
tiếp số tiền 150.000.000 đồng, nên đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng
300.000.000 đồng cho anh Tn theo hình thức chuyển khoản thật, phù hợp với
sao kê ngày 16/4/2025 do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cung cấp thông tin
chuyển khoản từ i khoản của chị Hl đến tài khoản của anh Tn, thực tế anh Tg, chị
Hl đã trực tiếp canh tác, sử dụng đất. Tuy nhiên, anh Tg chị Hl cũng thừa nhận
sau khi hai bên lp hợp đồng đặt cọc thì có biết việc thửa đất nêu trên đang thế chấp
tại ngân hàng nhưng vì tin tưởng anh Tn sẽ trả nợ cho Ngân hàng lấy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục sang nhượng nên vẫn trả đủ tiền chuyển
nhượng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao kết hợp đồng đặt cọc giữa hai bên
được thực hiện khi tài sản đang thế chấp, không tng báo cho Ngân hàng biết,
không sự đồng ý của Ngân hàng, nên giao dịch đặt cọc vi phạm điều cấm của
pháp luật nên việc anh Tg, chị Hl yêu cầu tuyên hợp đồng đặt cọc lập ngày
29/12/2023 vô hiệu là có căn cứ cần chấp nhận.
[3.3] Về giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu: Do hp đồng đặt cọc xác lập
ngày 29/12/2023 là vô hiệu, nên cần giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, do đó
việc anh Tg, chị Hl yêu cầu buộc anh Nguyễn Hữu Tn trả lại cho anh Tg, chị Hl số
tiền đặt cọc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất 300.000.000 đồng căn cứ cần
chấp nhận.
Thực tế anh Tg, chị Hl đã canh tác quản lý thửa đất nên cần buộc anh Tg, ch
Hl phải trả lại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, địa chỉ thôn K, C, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk với diện tích 6009,8m
2
cho bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn, để đảm bảo việc
xử tài sản thế chấp khi anh Tn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ trả nợ là phù hợp.
Từ khi nhận quản lý, canh tác thửa đất nêu trên từ năm 2018 đến khi lập hợp
đồng đặt cọc cho đến nay anh Tg, chị Hl không trồng thêm cây trồng, to lập
11
hoặc xây dựng thêm vật kiến trúc trên đất, anh Tg, chị Hl không yêu cầu giải quyết
về phạt cọc, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, lãi suất nên không xem xét giải
quyết là phù hợp.
Đối với đề nghị của anh Tg, chị Hlngười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của anh Tg, chị Hl đề nghị Hi đồng xét xử xem xét cho anh Tg, chị Hl được quyền
ưu tiên mua quyền sử dụng đt nêu trên khi xử tài sản thế chp, thấy rằng, giao
dịch đặt cọc giữa anh Tg, chị Hl với anh Tn hiệu, anh Tg, chị Hl không phải
đồng sở hữu quyền sử dụng đt nên không cơ sở chấp nhận việc cho anh Tg, ch
Hl được quyền ưu tiên mua quyền sử dụng đất là phù hợp.
[4] Về chi phí tố tụng:
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi p
xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 1.500.000 đồng, đã chi phí xong, do yêu cầu khởi
kiện của Ngân hàng căn cứ chấp nhận nên cần buộc anh Tn phải hoàn trả cho
Ngân hàng số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
Về chi phí giám định, chi phí định giá tài sản: Anh Tg, chị Hl đã nộp tạm ứng
chi phí giám định số tiền 7.000.000 đồng và chi phí định giá tài sản số tiền
1.700.000 đồng, đã chi phí xong, do yêu cầu độc lp của anh Tg, chị Hl được chấp
nhận nên cần buộc anh Tn phải hoàn trả cho anh Tg, chị Hl tổng số tiền chi phí giám
định, định giá tài sản số tiền 8.700.000 đồng là phù hợp.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 B luật t tụng dân s, khoản 2,
khoản 6 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên cần buộc bị
đơn anh Nguyn Hu Tn phải chịu toàn bộ tiền án phí n ssơ thẩm (theo mức tính
195.953.765 đồng x 5%), hoàn trtiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng phù hợp.
Do yêu cu độc lập của anh Tg, chị Hl đưc chấp nhận nên cần buộc b đơn anh
Tn phải chịu án phí dân sự g ngạch (theo mc tính 300.000.000 đồng x 5%), hoàn
trcho anh Tg, chị Hl stin đã nộp tmng án phí là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 122, 123, Điều 131, Điều 132, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, 161,
khoản 1 Điều 162, Điều 165, khoản 1 Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3
Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 244, Điều 271 Điều 273 của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Các Điều 116, 122, 123, 131, 317, 318, 320, 322, 323, khoản 2 Điều 328, 463
Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín
dụng; khoản 2, khoản 6 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
12
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng
Thương mại cổ phần H.
1. Về số tiền nợ và nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn có nghĩa
vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H tổng số tiền tính đến ngày 16/4/2025
(ngày xét xử vụ án) 195.953.765 đồng, trong đó nợ gốc 149.999.888 đồng, lãi
trong hạn là 9.187.696 đồng, lãi quá hạn là 36.766.181 đồng
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi pt sinh
đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức
số 174/22PGDKrB/HĐTD ngày 24/01/2022, đ ngh gii ngân kiêm khế ưc
nhn n s 174/22PGDKrB/HĐTD/KUNN02 ngày 17/01/2023 kể từ ngày
17/4/2025 cho đến khi anh Nguyễn Hữu Tn trả xong nợ gốc cho Ngân hàng Thương
mại cổ phần H,
2. Về x tài sản thế chấp: Trong trường hợp bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương
mại cổ phần H thì Ngân hàng được quyền yêu cầu quan thi hành án thẩm
quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
922/20PGDKrB/HĐngày 24/9/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số
922/20PGDKrB/HĐBĐ/PL01 ngày 24/01/2022, x lý tài sản thế chấp là:
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
,
địa chỉ đất tại thôn K, C, huyện K, tỉnh Đắ Lk, theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV 662485, do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn
Hữu Tn.
- Nếu số tiền phát mi tài sản thế chấp nêu trên không đủ thanh toán hết khoản
nợ của bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần H thì Ngân
hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản khác thuộc quyền sở
hữu, sử dụng của anh Nguyễn Hữu Tn để tiếp tục thu hồi nợ vay theo quy định pháp
luật hoặc anh Nguyễn Hữu Tn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
- Trường hợp anh Nguyễn Hữu Tn trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại
cổ phần H mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại
cho anh Nguyễn Hữu Tn Giấy chng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CV 662485.
3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan anh Ông Văn Tg và chị Nguyễn Thị Hl.
- Tuyên Hợp đồng đặt cọc V/v: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất, được lập ngày 29/12/2023 giữa vợ chồng anh Ông Văn Tg, ch
Nguyễn Thị Hl với anh Nguyễn Hữu Tn về việc đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số
112, tờ bản đồ số 16, diện tích 6009,8m
2
, địa chỉ đất tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh
Đắk Lk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CV 662485, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk
cấp ngày 18/9/2020, mang tên anh Nguyễn Hữu Tn là vô hiệu.
13
- Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Buộc bị đơn Nguyễn Hữu Tn có nghĩa
vụ trả lại cho người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ông Văn Tg, chị Nguyễn
Thị Hl số tiền đặt cọc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 300.000.000 đồng (ba
trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Người có quyền li nghĩa vụ liên quan anh Ông Văn Tg, chNguyễn Thị Hl
phải trả lại cho bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn thửa đất số 112, tờ bản đồ số 16, địa chỉ
đất tại thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk với diện tích 6009,8m
2
, theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đt số CV
662485, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/9/2020 mang
tên anh Nguyn Hữu Tn.
- Về phạt cọc, yêu cầu bồi thường thiệt hại, lãi suất: Người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan anh Ông Văn Tg, chị Nguyễn Thị Hl không yêu cầu giải quyết về phạt
cọc, không yêu cầu bồi thường thiệt hạilãi suất nên không xem xét giải quyết.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn phải hoàn trả cho
nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền 1.500.000 đồng chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ.
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn phải hoàn trả cho người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan anh Ông Văn Tg, chị Nguyễn Thị Hl số tiền chi phí giám định,
chi phí định giá tài sản tổng số tiền 8.700.000 đồng.
5. Về án phí: Buộc bị đơn anh Nguyn Hu Tn phải chịu 9.797.688 đồng tiền
án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương
mại cổ phần H được chp nhận.
- Buộc bị đơn anh Nguyễn Hữu Tn phải chịu 15.000.000 đồng tiền án phí dân
sự thẩm đối yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vliên quan anh Ông
Văn Tg, chị Nguyễn Thị Hl được chấp nhận.
- Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền
4.244.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
AA/2023/0006268, ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh
Đắk Lắk.
- Hoàn trả cho người quyền lợi nghĩa v liên quan anh Ông Văn Tg, chị
Nguyễn Thị Hl số tiền 7.500.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo bn lai thu tiền
tạm ứng án phí số AA/2023/0006314, ngày 09/7/2024 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyeân ñôn, người quyền li nghĩa vụ liên quan
mặt tại phiên toà coù quyeàn khaùng cáo bản án dân sthẩm trong thôøi haïn 15
ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn sơ thẩm. Bđơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng
14
cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định ti Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Krông Búk;
- Các đương sự;
- Chi cục THADS huyện K; (đã ký, đóng dấu)
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
Hoàng Văn Vân
Tải về
Bản án số 05/2025/DS-ST Bản án số 05/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2025/DS-ST Bản án số 05/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất