Bản án số 05/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tội đưa hối lộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2020/HSST

Tên Bản án: Bản án số 05/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tội đưa hối lộ
Tội danh: 289.Tội đưa hối lộ (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Ninh (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 05/2020/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/01/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN L Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 05/2020/HSST
Ngày: 16/01/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm
Các hội thẩm nhân dân 1.Ông: Mai Quế Anh
2.Ông:.Nguyễn Thành Vui
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Võ Tới- Kiểm sát viên.
Ngày 16/01/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước xét
xử vụ án hình sự thụ số: 01/2020/TLST-HS ngày 03/01/2020 theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử 03/2020/QĐXXST-HS ngày 06/01/2020 của Tòa án nhân dân
huyện L đối với bị cáo:
Trường G , sinh năm 1976 tại;Đồng Nai Tên gọi khác: không: Nơi cư trú:
18A/314, Chung H, phường P, QuậnT,thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp:
không ; Trình độ học vấn: 4/12 Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T, sinh năm: 1956 ( Chết) và bà Nguyễn
Thị Ngọc B, sinh năm: 1958; vợ Nguyễn Thanh T1 sinh năm 1978; 01 người
con sinh năm 1996.
Tiền án: ngày 29/3/1995 bị TAND Quận X thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 4
tháng tù về tội cướp giật tài sản.
Ngày 01/7/1996 a án nhân nhân tối cao tại TP Hồ Chí Minh xử phúc thẩm
phạt 04 năm tù về tội cướp tài sản công dân và gây rối trật tự công cộng.
Ngày 23/03/2001 tòa án nhân nhân tối cao tại TP Hồ Chí Minh xử phúc thẩm
phạt 07 năm tù về tội tang trữ trái phép chất ma túy.
2
Ngày 17/3/2009 TAND Quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm
về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa. tiền sự: không
Người làm chứng: Hoàng H sinh năm:1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Đội CSĐTTP về ma túy- Công an huyện L, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 11/9/2019 Trường G từ Lào về Việt Nam trên 01
chuyến xe khách biển số 51B-282.62, khi xe đến cửa khẩu quốc tế H , thuộc ấp T,
L, huyện L, tỉnh Bình Phước, qua kiểm tra hành hàng hóa trên xe, phát
hiện trong số hàng hóa trên xe chứa 16kg chất rắn màu trắng. Nghi ma túy
nên đồn cửa khẩu H đã đưa xe ô tài xế lai xe cùng những hành khách đi trên
xe về đồn cửa khẩu quốc tế H để làm việc đồng thời đồn cửa khẩu quốc Tế H đã
thông báo cho phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma y Công an tỉnh Bình
Phước, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phối hợp điều
tra. Trong số các hành khách đó có Lý Trường G.
Qua công tác điều tra, xét nghiệm nước tiểu của Lý Trường G kết quả cho
thấy bị cáo sdụng ma túy. Do bị cáo sợ lập hồ đưa đi cai nghiện, gia đình
biết nên trong lúc làm việc với anh Hoàng H vào khoảng 16 giờ ngày 12/9/2019, bị
cáo đã dùng số tiền 1.500USD đưa cho anh H xin anh H bỏ qua chuyện bị cáo
sử dụng ma túy. Anh H đã giữ lấy tay của bị cáo ng với số tiền đồng thời
thông báo với đồn cửa khẩu quốc tế H tiến hành lập biên bản về hành vi đưa hôi lộ
của Lý Trường G và thu giữ số tiền 1.500USD của bị cáo.
Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận mục đích động của việc đưa số
tiền cho anh H muốn anh H cho qua chuyện bị cáo sử dụng ma y sẽ
không xử theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 07/CTr-VKS ngày 31/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện L truy tố bị cáo Trường G về tội “Đưa hối lộ” theo khoản 1 Điều 364
của Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đnghị Hội
đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Trường G phạm tội “ Đưa hối lộ”.
Áp dụng khoản 1 điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều
52, 38, của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Lý Trường G mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.
Li nói sau cùng ca b cáo trước khi Hội đồng xét x ngh án: các b cáo đã
ăn năng hối ci và mong được hội đồng xét x gim nh hình pht cho các b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan cảnh sát điều tra Công an
huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo
đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị
cáo và những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời
khai của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án toàn bộ tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 16 giờ ngày 12/9/2019 tại cửa khẩu quốc tế H,- thuộc ấp T, L,
huyện L Bình Phước, bị cáo dùng số tiền 1.500USD đưa cho anh Hoàng H cán
bộ thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L để được anh H
cho qua chuyện bị cáo có sử dụng ma túy không xử bị cáo theo quy định của
pháp luật.Với việc dùng tài sản của mình cụ thể trong trường hợp này là ngoại
tệ bị cáo đưa cho người đang thực hiện nhiệm vmục đích để cho bị cáo không
bị xử lý vi phạm của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ.
Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo về tội đưa hối
lộ theo quy định tại khoản 1 điều 364 là có căn cứ.
[3] Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa công
khai, b cáo người đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự nên các bị cáo
chịu trách nhiệm bởi hành vi của mình.
Hành vi của bị cáo, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của cán
bộ trong khi thực hiện nhiệm vụ, gây trở ngại trong công tác. bị cáo thực hiện
4
hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý. Do đó, cần một hình phạt nghiêm đó
thời hạn một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt
có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân: bcáo nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái
phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét
xử áp dụng hình phạt tù thời hạn đối với bị cáo phù hợp được hội đồng xét
xử chấp nhận.
[4] Về vật chứng ván: tiền 1500USD bị cáo dùng vào việc đưa hối lộ,
đây vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội giá trị nên tịch thu
sung công quỹ nhà nước.
Đối với số tiến 10.577.000đ, 01 bóp da màu nâu,01 thể nhựa màu xanh
chữ mobifone (4G),01 thẻ nhựa màu đen, chExciter Sport, 04 tờ giấy màu
trắng ghi các số tự nhiên, 01 đồng hồ kim loại màu vàng, 01 dây đeo cổ u
đen xung quanh có các đoạn kim loại màu vàng, 01 vòng đeo tay chuỗi hạt có hình
con thưu màu vàng tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến ván trả
lại cho bị cáo.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tường G phạm tội: “Đưa hối lộ”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều
52, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trường G 01 (một) năm .Thời gian tính từ ngày
12/9//2019
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án để
đảm bảo việc thi hành án.
[3] Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 106 của Bộ luật tố tụng hình s năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
5
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 1.500USD ( Một ngàn năm trăm)
Trả cho bị cáo Trường Giang: số tiến 10.577.000đ ( Mười triệu, năm
trăm bảy mươi bảy ngàn), 01 bóp da màu nâu, 01 thể nhựa màu xanh chữ
mobifone (4G), 01 thẻ nhựa màu đen có chữ Exciter Sport, 04 tờ giấy màu trắng có
ghi các số tự nhiên, 01 đồng hồ kim loại màu vàng, 01 dây đeo cổ màu đen xung
quanh các đoạn kim loại màu vàng, 01 vòng đeo tay chuỗi hạt hình con t
hưu màu vàng.
( Vật chứng được chuyển như biên bản về việc giao nhân vật chứng, tài sản
số 0006692 ngày 14/01/2020 của chi cục thi hành án dân sự huyện L)
[4] Về án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu nộp, quản s dụng án phí lệ phí Tòa án của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Lý Trường G phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận : TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện L;
- Bị cáo và đương sự;
- Bộ phận HSNV CA L;
- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
- Chi cục THADS huyện L
- Lưu hồ sơ. Lê Thành Liêm
Tải về
Bản án số 05/2020/HSST Bản án số 05/2020/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất