Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lạng Sơn
Số hiệu: 04/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lộc Sơn T-Nguyễn Thị T-tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp đường mương thoát nước chung, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH LẠNG SƠN
Bn án s: 04/2026/DS-PT
Ngày 09-01-2026
V/v tranh chp quyn s dụng đất,
tranh chấp đường mương thoát nưc
chung, yêu cu tháo d di di tài sn
trên đất, yêu cu chm dt hành vi cn
tr quyn s dụng đất.
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH LẠNG SƠN
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Lương Thị Nguyt.
Các Thm phán: Nguyn Th Hoa;
Ông Chu Long Kiếm.
- Thư phiên tòa: Nguyn Mi - Thư Tòa án nhân dân tnh
Lạng Sơn.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Trn Th Hoàng Thái - Kim sát viên.
Trong các ngày 06 ngày 09 tháng 01 năm 2026, ti tr s Tòa án nhân
dân tnh Lạng Sơn xét x phúc thm công khai v án th s: 39/2025/TLPT-
DS ngày 23 tháng 10 năm 2025, về việc Tranh chp quyn s dụng đất, tranh
chấp đường mương thoát nước chung, yêu cu tháo d di di tài sản trên đất,
yêu cu chm dt hành vi cn tr quyn s dụng đất;
Do bn án dân s thm s 04/2025/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025
ca Toà án nhân dân khu vc 1 - Lạng Sơn b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s 68/2025/QĐ-PT ngày
27-11-2025; Quyết định hoãn phiên a s 110/2025/QĐ-PT ngày 16-12-2025,
giữa các đương sự:
- Ngun đơn: Anh Lộc Sơn T, sinh năm 1995; Căn c công n s
020095000*** do Cc Cnh sát qun lý hành chính v trt thi, B Công an
cp ngày 25-3-2021; địa ch: N417, đường T, phường C, tnh Lạng Sơn.
mt.
- B đơn: Nguyn Th T, sinh năm 1963; n cưc công dân s
033163009*** do Cc Cnh sát qun lý hành chính v trt thi, B Công an
cp ngày 24-6-2021 địa chỉ: Tái định cư M, phường Đ, tnh Lạng Sơn. Có mt.
2
Người bo v quyn li ích hp pháp cho b đơn Nguyn Th T:
Nguyn Th Trung V, luật của Văn phòng luật T thuộc đoàn Luật tỉnh
Lạng Sơn. Địa ch: Ph Đ, P, phường Đ, tnh Lạng Sơn. Có mt.
- Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hoàng Th Đ, sinh năm 1967; Căn cưc công dân s 02016700*** do
Cc Cnh sát qun nh chính v trt t hi, B Công an cp ngày 16-10-
2022. Có mt.
2. Anh Lc Tun H, sinh năm 1991; n c ng dân s 020091000***
do B Công an cp ngày 03-7-2024. Có mt.
Cùng địa ch: Ngõ 417, đường T, phường C, tnh Lng Sơn.
3. Ông Trn Quang B; sinh năm 1964; n cưc công n s
020064000*** do Cc Cnh sát qun lý hành chính v trt thi, B Công an
cp ngày 15-4-2024 địa ch: S 11A khu A - Tái định M, phưng Đ, tnh
Lạng Sơn. Vng mt.
Người đi din theo y quyn ca ông Trn Quang B: Nguyn Th T,
sinh năm 1963; địa chỉ: Tái định M, phưng Đ, tnh Lạng Sơn (văn bản y
quyn ngày 26/4/2025. Có mt.
4. Trn Th M, sinh năm 1963; n cước công dân s 020163008*** do
Cc Cnh sát qun hành chính v trt t hi, B Công an cp ngày 22-11-
2021; địa ch: Thôn T, xã M, tnh Lạng Sơn. Vng mt.
5. Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1964; Căn cước ng dân s 020064004***
do Cc Cnh sát qun hành chính v trt t hi, B Công an cp ngày 29-
9-2022 Nguyn Th L, sinh năm 1970; Căn cước công dân s
033170015*** do Cc Cnh sát qun lý hành chính v trt t xã hi, B Công an
cp ngày 29-9-2022; cùng đa ch: S 25, đường T, phưng C, tnh Lạng Sơn;
địa ch liên h: Buôn X, xã E, tỉnh Đắc Lăk. Vắng mt.
6. Ủy ban nhân dân phường C, tnh Lạng Sơn. Người đại din theo pháp
lut: Ông Trn Tiến N - Ch tch. Vng mt.
- Người làm chng:
1. Đặng Th V, sinh năm 1961; địa ch: Thôn Đ, phường K, tnh Lng
Sơn. Vng mt.
2. Ông Văn C, sinh năm 1960; địa ch: Khu Tái định M, phưng Đ,
tnh Lạng Sơn. Vng mt.
3. Ông Duy H, sinh năm 1964; địa ch: Đường M, phưng Đ, tnh
Lạng Sơn. Có mt.
4. Th H, sinh năm 1968; địa ch: Thôn Q, phưng C, tnh Lng
Sơn. Có mt.
5. Ông Nguyn An S; địa ch: Đường T, phường C, tnh Lng Sơn.
mt.
3
- Người kháng cáo: Anh Lộc Sơn T, là nguyên đơn.
NI DUNG V ÁN:
Theo Bản án thm tài liu trong h sơ, nội dung v án được tóm
tắt như sau:
Nguyên đơn anh Lộc Sơn T, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
phía nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tuấn H trình bày:
Năm 1994, ông Văn C thay mặt 05 hộ gia đình gồm: Hộ ông Duy
H, ông Lộc Văn T ( bố đẻ Lộc Sơn T, đã chết năm 2018), Trần Thị M,
Đặng Thị V, ông Văn C (vợ Ngô Thị H) đứng ra nói chuyện về việc
mua lại thửa đất vườn của ông Vi Văn C xác nhận của Ủy ban nhân dân Q
ngày 07/5/1994. Sau đó 05 hộ bàn bạc tự phân chia đất trên thửa đất đã mua
được của ông Vi Văn C. Thời điểm đó các hộ mua đất thống nhất miệng với
nhau hộ nào được phân đất hai đầu thửa đất của ông Vi Văn C sẽ được chia
đất nhiều hơn phải để ra một phần đất diện tích chiều rộng 1m, chiều dài
kéo từ đầu đến cuối thửa 23,2m để làm mương thoát nước sử dụng chung cho
các hộ và phần mương thoát nước này sẽ nằm sát với tường rào của gia đình anh
Lộc Sơn T, sau khi thỏa thuận Trần Thị M được phân đất sát nhà anh Lộc
Sơn T. Còn đối với đầu bên kia phần mương thoát nước sẽ nằm sát với tường
rào của đất nhà ông Nguyễn Văn C.
Việc trên giấy chuyển nhượng đất vườn sở tên 06 người trong đó
tên ông H (không họ tên đệm) làm Sở Điện lực Lạng Sơn khi đó ông
H người yêu của Trần Thị M, nay không đâu, thực tế người mua
Trần Thị M.
Việc thỏa thuận mua đất với các hộ, ông Lộc Văn T người tham gia
trực tiếp, thỏa thuận chia đất giữa 05 hộ cũng do ông Lộc Văn T thực hiện, các
hộ chỉ chia cắm mốc trên thực địa không đo đạc cụ thể ước chừng khoảng mỗi
nhà được hơn 100m
2
, sau đó ngày 14/11/2002 ông Lộc Văn T được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 173,4m
2
mục đích sử dụng đất
thuộc thửa số 97, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C, tỉnh Lạng Sơn),
đến ngày 20/6/2022 anh Lộc Sơn T được nhận thừa kế thửa đất nêu trên.
Hiện nay, các hộ đã bán đất cho chủ đất mới, Trần Thị M bán cho ông
Ngô Văn Đ, vợ là Nguyễn Thị L vào năm 1996, sau đó ông Ngô Văn Đ,
Nguyễn Thị L bán lại cho Nguyễn Thị T vào năm 1997, nay chỉ còn nhà anh
Lộc Sơn T đang sinh sống trên diện tích đã được phân chia năm 1994.
Từ năm 2021, giữa gia đình anh Lộc Sơn T Nguyễn Thị T xảy ra
tranh chấp liên quan đến phần diện tích các hộ mua đất từ năm 1994 thống nhất
sử dụng để làm đường thoát nước chung. Nguyễn Thị T mua lại đất của
Trần Thị M vào năm 1996, thời điểm mua đất của Trần Thị M hai bên chỉ
giấy tờ mua bán viết tay, không có chứng thực của cơ quan, tổ chức hay nhân
nào. Nguyễn Thị T khẳng định không đường thoát nước chung trên diện
tích đất đã mua. Tuy nhiên gia đình anh không đồng ý vì tại thời điểm năm 1994
các hộ đã thống nhất để ra một phần đất diện tích rộng 1m hai đầu thửa đất
4
mua với ông Vi Văn C để xây dựng đường mương thoát nước chung cho các hộ.
Thời điểm thống nhất để đường mương thoát nước chung các hộ không văn
bản thoả thuận chỉ tự thoả thuận bằng lời nói với nhau. Nhiều lần gia đình
anh có đưa ra căn cứ là giấy xác nhận của một số hộ thời điểm cùng gia đình anh
mua đất năm 1994 thống nhất để đường thoát nước chung, hiện tại vẫn còn
cống chờ nằm ngang đường, cống chờ được lắp vào năm 2011 do các gia đình
đang đất khu vực đó cùng góp tiền mua gồm Đặng Thị V, ông Phạm
Huy T (mua lại nhà của ông Duy H), nhà anh, Nguyễn Thị T, ông C (anh
trai Nguyễn Thị T), Thị H. Phần mương thoát nước trên cần thiết do
vào mùa mưa lượng nước đổ về nhiều thgây ngập úng kéo dài. Đồng thời,
đến nay Nguyễn Thị T đang yêu cầu đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì yêu cầu cấp thêm phần đất diện tích khoảng 4,65m
2
cũng
thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đố số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh
Lạng Sơn), anh khẳng định phần diện tích đất này là của gia đình anh đã và đang
sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, thời điểm gia đình anh được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, gia đình anh chưa đề nghị được cấp vào sổ đỏ gia đình, sau
này khi giải quyết tranh chấp xong anh sẽ yêu cầu cấp bổ sung.
Về quá trình quản đất đã mua: Sau khi nhận chia đất theo thực tế, năm
1996 gia đình anh xây nhà cấp 4, xây móng đá làm ranh giới hai bên, nhà cấp 4
thời điểm đó xây lùi vào phía trong không xây hết móng đá, đồng thời có làm hố
phân tại vị trí chuồng hiện nay, diện tích đất làm hố phân do ông Nguyễn An
S đã cho gia đình anh. Đến năm 2016 vị trí hố được xây thành chuồng và nhà
cấp 4 được xây thành nhà hai tầng như hiện nay. Từ khi xây nhà cấp 4 đến năm
2021 gia đình anh vẫn xả nước sinh hoạt (rửa rau) của gia đình qua đường thoát
nước nằm sát móng đá của gia đình anh đi qua một phần thửa 98, sau này năm
2021 Nguyễn Thị T tự ý tháo dỡ nên hiện nay nước xả sinh hoạt chảy nhờ
qua diện tích của nhà hàng xóm. Tháng 9 năm 2021 bà Nguyễn Thị T xây tường
xác định ranh giới đất thì phát sinh tranh chấp đến nay.
Tại đơn khởi kiện anh yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Công
nhận diện tích 23,2m
2
đất (rộng 1m, dài khoảng 23,2m) thuộc một phần thửa đất
số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C, tỉnh Lạng Sơn) đường
mương thoát nước chung. Công nhận diện tích 27,85m
2
thuộc một phần thửa đất
số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C, tỉnh Lạng Sơn) của gia
đình anh.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/5/2025, nguyên đơn đơn thay đổi
yêu cầu khởi kiện cụ thể: Công nhận quyền đồng sở hữu, đồng sử dụng đối với
diện tích đất 25,28m chiều dài chiều rộng 1m Nguyễn Thị T đang
yêu cầu đề nghị cấp vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn
Thị T.
Sau khi có kết quả đo đạc và tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và
hòa giải, nguyên đơn anh Lộc Sơn T tiếp tục thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị
Tòa án giải quyết: Công nhận diện tích 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) hiệu
A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ
5
số 51 phường L (nay phường C, tỉnh Lạng Sơn) đường mương thoát nước
chung, đề nghị Nguyễn Thị T tháo dỡ công trình móng xây gạch ba banh
0,6m
2
trên diện tích đất tranh chấp; công nhận diện tích 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3)
ký hiệu A5, A6, A7, A8 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay
phường C, tỉnh Lạng Sơn) đất gia đình anh đã quản sử dụng từ lâu hố
phân đến năm 2016 làm chuồng như bây giờ. Phần diện tích 1,4m
2
(thửa tạm
99.1) thuộc một phần thửa 99, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C,
tỉnh Lạng Sơn) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Thị
H, anh Thị H đã tự thỏa thuận để nhà anh xây công trình chuồng gà,
anh không yêu cầu giải quyết diện tích đất này.
Bị đơn Nguyễn ThT, những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phía bị đơn ông Trần Quang B người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
bị đơn trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 98 tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C) do
Trần Thị M nhận chuyển nhượng từ ông Vi Văn C năm 1994 cùng với 4 hộ
khác như nguyên đơn đã trình bày, năm 1996 ông Ngô Văn Đ nhận chuyển
nhượng từ Trần Thị M; đến năm 1997 vợ chồng nhận chuyển nhượng từ
ông Ngô Văn Đ, Nguyễn Thị L. Năm 1997, khi nhận chuyển nhượng thửa
đất với ông Ngô Văn Đ thì giữa đất của gia đình ông Lộc Văn T là thửa số 97 tờ
bản đồ số 51 phường L (nay là phường C) và thửa đất nhà ông Ngô Văn Đ đã
tường nhà ngăn cách do nhà ông Lộc Văn T xây.
Năm 2016, gia đình Hoàng Thị Đ phá nhà xây lại chỗ khác y
lại dầm, tường rào, trụ tường, xây lại nhà vệ sinh. Khi đó nghi ngờ ông
Lộc Văn T xây lấn vào đất của gia đình nên sang nhà ông Lộc Văn T
nói chuyện, tuy nhiên ông Lộc Văn T khẳng định gia đình ông chỉ xây dựng
bằng chân móng xây đúng ranh giới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
gia đình ông đã được cấp đối với thửa số 97 từ năm 2002. Do không kiểm tra
được móng nằm dưới đất gia đình ông Lộc Văn T lại đang xây dựng
nhà mới nên không muốn mang tiếng người gây phiền hay cản trở
người khác nên đã tin theo lời ông Lộc Văn T. Tháng 9/2021, khi gia đình
đào đất xây tường rào thì mới phát hiện dầm, tường rào, trụ tường và nhà vệ sinh
gia đình ông Lộc Văn T xây dựng đã xây lấn sang đất của gia đình bà, đã xây
vượt quá chân móng cũ; nhà vệ sinh gia đình ông T xây cũng vượt ranh giới
thửa 97, xây lấn vào thửa đất số 98 của gia đình bà. Khi phát hiện việc gia đình
ông T đã xây lấn chiếm đất của gia đình mình, bà đã sang nhà nói chuyện với
Hoàng Thị Đ (là vợ ông T mẹ anh Lộc Sơn T); ban đầu Hoàng Thị Đ
nhất trí phá dỡ tường rào trụ tường nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến và không
chịu phá dỡ tường, trụ tường trả lại đất cho gia đình bà; chính vậy đã
đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân phường L (nay phường C) tiến hành xác minh,
đo đạc hòa giải nhiều lần. Kết quả xác định tường rào, trụ tường, nhà vệ sinh
gia đình ông T xây dựng đã vượt ra khỏi ranh giới diện tích đất của thửa 97, lấn
sang thửa 98 của gia đình bà. Chính vậy, anh Lộc Sơn T Hoàng Thị Đ
đã tự tháo dỡ tường rào trụ tường theo Thông báo của Uỷ ban nhân dân
6
phường, bức tường hiện nay trên móng đá anh Lộc Sơn T xây dựng lại năm
2024. Chiều dài bức tường tháo dỡ kéo dài từ miệng cống đến trụ có ký hiệu A9.
Khi tháo dỡ gia đình anh Lộc Sơn T múc thêm xuống phần đất tranh chấp sâu
như hiện tại, còn trước kia nước chảy từ cao xuống thấp tràn bờ không rãnh
thoát nước. Việc năm 2011, các hộ gia đình có góp tiền làm cống để đặt ở đường
như nguyên đơn trình bày là đúng.
Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Nguyễn Thị T
không đồng ý vì: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và Báo cáo
số 77/BC-UBND ngày 12/6/2023, Công văn số 288/BC-UBND ngày 09/9/2024
của Ủy ban nhân dân phường L đều thể hiện diện tích đất tranh chấp thuộc một
phần thửa số 98, tờ bản đồ địa chính số 51 đo đạc năm 1997 tại Sổ mục địa
chính ghi tên ông Nguyễn Đ, trên bản đồ địa chính không thhiện mương
thoát nước tại vị trí đất tranh chấp hiện nay. Năm 2002 hộ ông Lộc Văn T cũng
đã được UBND thị xã Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên hồ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 97 ghi tiếp giáp đất
ông Nguyễn Văn C (là bố Nguyễn Thị T), không ghi tiếp giáp mương thoát
nước chung. Năm 2013, gia đình Nguyễn Thị T xin khai cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nhận chuyển nhượng với Nguyễn
Thị L ông Ngô Văn Đ, tại biên bản xác định ranh giới mốc giới khu đất xác
định thửa đất Nguyễn Thị T xin khai thửa 98 thể hiện các chủ đất tiếp
giáp: Phía Nam giáp thửa đất số 97 của gia đình ông Lộc Văn T, ông Lộc Văn T
đã xác nhận ranh giới, tại biên bản y thể hiện thửa 98 tiếp giáp trực tiếp
thửa đất 97, không hề khoảng đất trống, không mương thoát nước chung
giữa thửa 97 và thửa 98.
Bên cạnh đó, sau khi nhận chuyển nhượng với ông Vi Văn C, đất của
Trần Thị M được phân chia nằm trong cùng tiếp giáp với phần đất của ông
Lộc Văn T, một bên đất vát nhọn, hình thể xấu hơn các thửa khác, đất ngắn
không chiều sâu; trên đất Trần Thị M đã xây dựng một căn nhà nhỏ; ngày
13/4/1996, Trần Thị M chuyển nhượng nhà đất cho ông Ngô Văn Đ
Nguyễn Thị L, trong giấy chuyển nhượng nhà và đất vườn ghi rõ "phía nam giáp
nhà vợ chồng anh T dài 22,5m" không hề ghi giáp mương thoát nước chung, anh
Lộc Sơn T không tài liệu chứng cứ chứng minh 05 hộ gia đình mua đất với
ông Vi Văn C đã thỏa thuận diện tích đất tranh chấp hiện nay làm mương thoát
nước chung, anh Lộc Sơn T,Hoàng Thị Đ nộp cho Tòa án các tài liệu giấy
xác nhận của bà Đặng Thị V, bà Trần Thị M, Hoàng Thị K, ông Nguyễn Văn
C, ông Văn C, Thị H nhưng lời khai không thống nhất, lời khai thì
nói diện tích đất đang tranh chấp vị trí 05 hộ gia đình trước kia thỏa thuận để
làm mương thoát nước chung, có lời khai thể hiện không rõ thỏa thuận vị trí nào,
lời khai thể hiện Trần Thị M trách nhiệm khơi làm cống tại vị trí
đất đường mòn trước thửa đất của Trần Thị M, nội dung xác nhận của các
ông trên dựa theo ý kiến của anh Lộc Sơn T, Hoàng Thị Đ; trên hồ địa
chính qua các thời kỳ từ trước đến nay không thể hiện mương thoát nước tại
vị trí đất anh Lộc Sơn T yêu cầu. Đồng thời thấy rằng, các nhân chứng ông
Lê Văn C, Đặng Thị V, Trần Thị M đều là những người đã cùng công tác với
7
gia đình ông Lộc Văn T; cùng nhận chuyển nhượng đất với ông Lộc Văn T do
đó giữa họ cũng mối quan hệ thân thiết với gia đình ông Lộc Văn T, họ xác
nhận nói giúp cho nguyên đơn về việc thỏa thuận miệng để đất làm mương
này. Ngoài lời trình bày thì không căn cứ nào khác, do đó không thể căn cứ
vào lời khai của các nhân chứng này để xác định diện tích đất tranh chấp
mương thoát nước chung.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn được quyền quản sử dụng diện tích
4,2m
2
trên đất có một phần công trình chuồng thuộc một phần thửa đất số 98,
tờ bản đồ số 51 phường L, gia đình ông Lộc Văn T đã đăng khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 51 từ ngày 18/11/2002; năm 2018 ông
Lộc Văn T chết, đến ngày 30/6/2022, anh Lộc Sơn T được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích
hình thể như thửa đất số 97; như vậy về pháp , gia đình anh Lộc Sơn T
chỉ được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất của thửa đất số 97; nay anh Lộc
Sơn T yêu cầu quản lý, sử dụng diện tích 4,2m
2
đất thuộc thửa đất 98 không
căn cứ, đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lộc Sơn
T.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị T đã yêu cầu phản tố
đề nghị Tòa án giải quyết: Công nhận cho Nguyễn Thị T được quyền quản
sử dụng toàn bộ đất tranh chấp gồm diện tích 23,2m
2
đất (rộng 1m, dài khoảng
23,2m) diện tích 4,65m
2
(rộng 1,33m, dài khoảng 3,5m) thuộc một phần thửa
đất số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C), tỉnh Lạng Sơn.
Nay, Tòa án đã đo đạc cụ thể diện tích đất tranh chấp các bên đã xác
định tại hiện trường, cụ thể Nguyễn Thị T yêu cầu phản tố: Yêu cầu được
quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) gồm
các đỉnh điểm A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 và được quản lý, s
dụng diện tích chuồng 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3) hiệu A5, A6, A7, A8
thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường C, tỉnh Lạng
Sơn), yêu cầu gia đình anh Lộc Sơn T phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
chuồng chấm dứt hành vi tranh chấp. Phần diện tích 1,4m
2
(thửa tạm
99.1) của nhà Thị H, do anh Lộc Sơn T và Thị H tự thỏa thuận,
Nguyễn Thị T không ý kiến và không yêu cầu giải quyết diện tích đất này.
Nguyễn Thị T tự nguyện để lại diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm
98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay phường
C, tỉnh Lạng Sơn) để làm cống thoát nước mưa tự nhiên cho các hộ xung quanh
trách nhiệm xây cống tông rộng tối thiểu 88cm, cao tối thiểu 1 m, kéo
dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa Nguyễn Thị T với Nguyễn
Thị L, ông Ngô Văn Đ giữa Nguyễn Thị L, ông Ngô Văn Đ với Trần Thị
M bà Nguyễn Thị T không có ý kiến, yêu cầu gì.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị M trình bày: Năm
1994, 05 người gồm Duy H, Đặng Thị V, Văn C, Lộc Văn T (vợ
8
Hoàng Thị Đ) mua đất của ông Vi Văn C, người đại diện mua đất
ông Văn C, thời điểm đó chỉ mua bán viết tay, không nhớ giá cụ thể,
không đo đạc, sau khi mua xong, 05 hộ tự cắm cọc phân chia đất cho nhau trên
thực tế, không đo đạc cụ thể. Gia đình ông Duy H lấy phần diện tích đầu
nên rộng hơn nhà ông Duy H phải trách nhiệm bỏ một phần diện ch
làm mương để thoát nước chung cho các hộ gia đình thời điểm đó nước trên
đồi xuống rất nhiều. Đối với phần đất được nhận cuối thửa đất, một bên
vát, hình thể xấu hơn, diện tích rộng hơn, sau khi nhận chuyển nhượng bà đã xây
nhà bếp để đồ sau đó do chuyển công tác nên đã bán lại cho Nguyễn Thị L
ông Ngô Văn Đ năm 1996. Do diện tích rộng hơn nên trách nhiệm m
rãnh thoát nước chiều rộng khoảng 1 mét, chiều dài đi qua thửa đất của từ
đằng sau ra đằng trước tuy nhiên không nói cthể, vị trí đâu, không bắt buộc
để rãnh nước giáp đất nhà ông Lộc Văn T (bố của anh Lộc Sơn T). Khi nhận
đất cũng như bán cho Nguyễn Thị L (em gái Nguyễn Thị T), đã bàn
giao toàn bộ hiện trạng chứ không đo đạc, cũng không nói lại việc thỏa thuận
rãnh nước cho Nguyễn Thị L biết. đã xem trích đo khu đất tranh chấp,
khẳng định diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự đất của bà, không phải
là diện tích đất làm rãnh mương cho các hộ gia đình. Bà từ chối tham gia tố tụng
và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Toà án.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Đ Nguyễn Thị
L trình bày: Ngày 13/4/1996, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng mảnh đất
vườn với bà Trần Thị M, hai bên giao nhận mốc giới trên thực địa, không đo đạc
cụ thể, chỉ làm giấy tờ viết tay, một căn nhà, một giếng nước đất vườn
bằng phẳng, phía Nam giáp đất của gia đình ông Lộc Văn T không hề cống
rãnh Trần Thị M cũng không hề nói thỏa thuận mương thoát nước trên
đất chuyển nhượng. Đến ngày 3/8/1997, ông chuyển nhượng toàn bộ thửa
đất, nhà, giếng cho vợ chồng ông Trần Quang B Nguyễn Thị T. Ông
cũng giao trên thực địa cho vợ chồng ông Trần Quang B, Nguyễn Thị T toàn
bộ khu đất giáp nhà ông Lộc Văn T không hề cống rãnh thửa đất bằng
phẳng, không đo đạc cụ thể. Đồng thời ông, cũng giao lại cho Nguyễn Thị
T 01 giấy chuyển nhượng nhà đất vườn viết tay của Trần Thị M, 01 giấy
chuyển nhượng nhà, đất vườn của ông Vi Văn C đóng dấu của UBND Q,
thị Lạng Sơn. Nguyễn Thị L khẳng định không rãnh nước nào trên
mảnh đất của Trần Thị M chuyển nhượng cho vợ chồng bà, chỉ rãnh nước
chảy vào mùa mưa trên đường phía trước mảnh đất của đã mua với
Trần Thị M, sau khi bán lại cho bà Nguyễn Thị T thì cả xóm đã đóng tiền để làm
cống chung trên mặt đường trước thửa đất của bà Nguyễn Thị T.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh
Lạng Sơn trình bày: Ủy ban nhân dân phường C đơn vị quản hành chính
cấp xã, trong đó khối T II. Đất tranh chấp giữa các đương sự thuộc một phần
của thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, loại đất đô thị, thuộc bản đồ địa chính
phường L nay phường C, tỉnh Lạng Sơn chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ai, đất đang tranh chấp theo quy hoạch kế hoạch sử dụng
đất đất thổ thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ
9
điều kiện theo quy định Luật Đất đai. Uỷ ban nhân dân phường chỉ quản về
mặt hành chính, việc tranh chấp của các đương sự đang được Tòa án giải quyết
theo quy định nên không có ý kiến gì.
Người làm chứng Đặng Thị V trình bày: Năm 1994, 05 người đại diện
cho 05 gia đình gồm Duy H, Văn C, Đặng Thị V, Lộc Văn T, Trần Thị
M mua đất của ông Vi Văn C, thời điểm đó chỉ mua n viết tay, không
nhớ giá cụ thể, không đo đạc, sau khi mua tự cắm đất chia trên thực tế. Thứ tự
các mảnh đất như sau: Đất của ông Duy H đến đất của ông Văn C, đến
đất của Đặng Thị V, đến đất của ông Lộc Văn T (con trai Lộc Sơn T) cuối
cùng đất của Trần Thị M. Do phía đằng sau mảnh đất của ông Vi Văn C
bán cho các hộ đất đồi, hai bên đất ruộng nên mùa mưa đến nước trên
khe hay tràn xuống nên các ông đã thoả thuận đất của ông Duy H
đất của Trần Thị M được diện tích rộng hơn thì phải để một phần diện tích để
làm rãnh thoát nước, diện tích đất của những người phía trong ông Văn
C, Đặng Thị V, Lộc Văn T nhỏ hơn thì không phải để. Thỏa thuận rãnh thoát
nước chiều rộng 1 mét, chiều dài kéo dài theo thửa đất từ đằng sau ra đằng
trước. Diện tích làm rãnh thoát nước này không thuộc quyền quản lý, sử dụng
của ai, không được cấp cho ai mà phải để sử dụng chung. Thoả thuận này khi đó
chỉ nói bằng miệng chứ không lập thành văn bản. Sau khi được chia đất bà Đặng
Thị V không xây dựng công trình đến khoảng năm 2015 bà đã chuyển
nhượng cho người khác. Tại phần diện tích đất của Trần Thị M, vị trí rãnh
thoát nước đâu do đã lâu nên không nhớ, thoả thuận rãnh thoát nước chỉ để
thoát nước mưa chứ không thể để thải nước sinh hoạt của gia đình nào.
Người làm chứng ông Văn C trình bày: Năm 1994, do nhu cầu về
chỗ nên 05 hộ gia đình gồm: Duy H, Văn C, Đặng Thị V, Lộc Văn T,
Trần Thị M khi đó đều cùng công tác tại Bệnh Công an tỉnh Lạng Sơn đã bàn
bạc và cử ông là người đi trực tiếp giao dịch mua đất của ông Vi Văn C, ông
Duy H người viết giấy chuyển nhượng đó, do đã lâu nên không nhớ cụ thể giá
tiền mua, khi mua không đo đạc cụ thể, hình thù thửa đất nhình thang, vót
nhọn đầu cuối chỗ nhà Trần Thị M. Sau khi mua xong, các hộ thỏa thuận
miệng thực hiện cắm đất phân chia trên thực địa, không đo đạc, thứ tự phân
chia mảnh đất như lời trình bày của Đặng Thị V, đất ông Duy H đầu
thửa đất, đất Trần Thị M cuối thửa đất. Trên phần đất của ông Duy H
đã làm mương thoát nước, còn đất của Trần Thị M thì phải làm mương thoát
nước để thông ra cống trước đất của Trần Thị M. Hệ thống thoát nước trước
đây các hộ thoả thuận phải chiều rộng 1 mét, chiều dài kéo dài theo thửa đất
của Trần Thị M, chỉ thoả thuận bằng miệng, không ghi biên bản, vị trí làm
rãnh nước không nói vị trí nào sau này vị trí làm rãnh thoát nước phải
để sử dụng chung không thuộc quyền sử dụng đất của ai. Diện tích đất của ông
Duy H Trần Thị M được rộng hơn đất của các hkhác khoảng hơn
100m
2
để trách nhiệm bỏ một phần diện tích đất m rãnh thoát nước, đất của
ông Duy H rộng nhất, sau đó đến đất Trần Thị M, còn các thửa đất trong
thì diện tích sàn sàn như nhau khoảng 80 90m
2
. Sau khi mua năm 1994, đến
năm 1995 ông đã bán đất cho ông Duy H, ông chưa xây dựng tài sản trên
10
đất. Thời điểm đó thoả thuận làm mương nước trên đất nhà Trần Thị M phải
làm vị trí hợp để nước trên đồi thoát xuống. Việc ông Lộc Văn T sau đó
xác nhận ranh giới để Nguyễn Thị T khai cấp đất như thế nào ông
không nắm được, ông khẳng định việc các hộ khi mua đất thỏa thuận để đất
làm mương thoát nước tại hai đầu mảnh đất thực, tuy nhiên quá trình mua
bán xác định ranh giới giữa các chủ đất mới không ràng dẫn đến
tranh chấp, ông đề nghị các bên xem xét hài hòa lợi ích.
Người làm chứng ông Duy H trình bày: Về việc mua bán đất, phân
chia đất, thứ tự phân chia đất của ông Vi Văn C cho 05 gia đình đúng như ông
Lê Văn C, Đặng Thị V, bà Trần Thị M trình bày, số tiền các bên góp mua đất
đã lâu ông không nhớ, tại giấy chuyển nhượng đất vườn ngày 06/3/1994 xác
nhận của Ủy ban nhân dân xã Q chữ viết của ông, trên giấy ghi giá chuyển
nhượng cả thửa đất 3.500.000 đồng. Khi cắm cọc phân chia đất trên thực địa,
phần đất của ông được chia phần nhiều hơn, chiều rộng lớn hơn, vuông vắn hơn,
tổng diện tích khoảng hơn 500m
2
nên phải trách nhiệm làm cống mương
để thoát nước trong khe đồi đằng sau đi ra chống ngập úng cho các hộ mua
chung mảnh đất này, do đất rộng nên sau đó ông Ca cho anh trai Mã Đình T
chị Vy Thị N một mảnh để làm nhà. Do ông người mua từ đầu cũng
người làm nhà ngay sau khi mua luôn nên ông rất thửa đất khi mua
không một rãnh mương nào chảy qua thửa đất đất đó liền thửa, to, bằng
phẳng, đất không lún, nên không rãnh mương nào kể từ khi ông Vi Văn C
còn canh tác cũng nlúc các hộ mua. Ông khẳng định không mương, rãnh
nước nào bên cạnh mảnh đất Trần Thị M, chỉ một rãnh nước nhỏ được
khơi qua đường đi vào nhà ông Cừ phía trước đất Trần Thị M nhưng rãnh
đó nằm ngoài diện tích của thửa đất các hộ mua. Không việc thỏa thuận để
mương, rãnh thoát nước qua đất nhà bà Trần Thị M mà chỉ thỏa thuận có mương
nước qua đất nhà ông Duy H thực tế nhà ông đã làm để thoát nước phía
ngoài từ thời điểm thỏa thuận. Diện tích mương thoát nước này trước đây nằm
trong bìa đỏ gia đình ông, sau khi cấp lại đã trừ ra không nằm trong a đỏ
của gia đình ông nữa. Ông đã thực hiện làm mương thoát nước xây kiên cố từ
năm 1995 rộng cao khoảng 01 mét, dài theo chiều dài đất cũng làm cống
đi qua đường mòn phía trước để thoát nước xuống phía dưới. Ngày 03/8/1995
ông Duy H mua lại đất của ông Văn C, sau đó năm 2001 ông đã bán lại
cho Phạm Huy T đã ông Phạm Huy T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa số 4, tờ bản đồ số 61, bản đồ địa chính phường L (nay
phường C) với diện tích 114,7m
2
, đất đô thị ngày 21/8/2008. Hiện nay toàn bộ
diện tích đất của ông đã bán lại cho nhiều chủ mới ông không nhớ là ai.
Người làm chứng Thị H trình bày: Năm 1994, ông Vi Văn C (Vi
Văn C chú ruột của chồng Thị H) đã bán thửa đất ruộng (khi nước
thì làm ruộng, không nước thì làm vườn) cho 05 hộ gia đình như đã nêu trên,
việc mua bán như nào do các bên thoả thuận không biết. Ông Vi Văn C sau
khi bán đất đã chuyển cả gia đình vào miền Nam sinh sống, hiện nay hai vợ
chồng ông Vi Văn C đều đã chết. Thửa đất số 99 tờ bản đồ 51 phường L, thành
phố Lạng Sơn vợ chồng mua lại của m Thị M trú tại thôn Q, Q. Sau
11
khi mua đất gia đình trồng ngô, trồng rau lang, trồng đào. đã được xem
trực tiếp trích đo khu đất tranh chấp, đối với diện tích trên trích đo ghi thửa tạm
99.1 diện tích 1,4m
2
hiện nay gia đình anh Lộc Sơn T đã xây chuồng gà lấn sang
đất của đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi xây nhà
không biết, do diện tích đất nhỏ nên không ý kiến yêu cầu gì, bà không
tranh chấp không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nếu yêu cầu sẽ khởi
kiện bằng vụ án khác. Về nguồn gốc chuồng của nhà anh Lộc Sơn T, trước
đây hố phân nhà anh Lộc Sơn T làm khoảng năm 1999, 2000 mua đất
với n năm 1997, sau đó 02 năm gia đình anh Lộc Sơn T mới nuôi lợn
làm hố phân và sau này xây chuồng gà như hiện nay. Về mảnh đất ông Vi Văn C
bán cho 05 hộ gia đình nguyên là đất thửa ruộng, khi còn ruộng thì nước chảy tự
nhiên từ cao xuống thấp, nước chảy tràn ruộng để chảy xuống dưới, giữa thửa
ruộng không đường nước chảy ng quanh, trên đất không nhà hay công
trình gì. Sau khi các hộ mua đất chia nhau thì nhà Trần Thị M mới xây nhà
nhưng chưa về ở, sau đó Trần Thị M bán cho nhà Nguyễn Thị L cuối
cùng Nguyễn Thị L bán cho Nguyễn Thị T như hiện nay. Về việc thoả
thuận mương nước như thế nào không biết được cụ thể, sau này chỉ nghe các
bên nói qua nói lại để mương nước hai bên, còn vị trí như nào không biết
cụ thể. Hiện trạng, trước đất tranh chấp hiện nay đang đường cống chờ nước
do các nhà nộp tiền để mua cống đặt vào, cống chạy qua đường xuống khu đất
dưới, theo bà nếu được thì bà Nguyễn Thị T để rãnh để nước mưa tự nhiên chảy,
thoát nước mùa mưa nước rất to, mục đích chỉ để thoát nước mưa không phải
để các hộ gia đình để nước thải sinh hoạt, nước bể phốt. Nay anh Lộc Sơn T
khởi kiện, bà Nguyễn Thị T phản tố bà không có ý kiến gì.
Người làm chứng ông Nguyễn An S trình bày: Ông người bản địa
đây. Ngày trước, các hộ gia đình mua đất của ông Vi Văn C đất ruộng, còn
toàn bộ đất đồi đằng sau đất của ông. Ông cho gia đình ông Lộc Văn T
(con trai Lộc Sơn T) một diện tích đất nhưng đất ông cho đất đồi chứ không
phải cho đất ruộng, phần diện tích đất chuồng hiện nay không phải đất của
ông. Do ông bận công việc nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông tại các
giai đoạn tố tụng của Toà án, ông từ chối tham gia tố tụng.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc ngày 07/3/2025 xác định
diện tích đất tranh chấp 25,28m
2
(trong đó diện tích 17,08m
2
được hiệu
thửa tạm 98.1; diện tích 4,0m
2
được hiệu thửa tạm 98.2 diện tích
4,2m
2
được hiệu thửa tạm 98.3) thuộc một phần thửa đất số 98, tbản đồ
số 51, bản đồ địa chính phường L (nay phường C), tỉnh Lạng Sơn gồm các
điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8,A9, A10, A11, A12 có các cạnh tiếp giáp
như sau: Phía Bắc giáp đường hiện trạng; phía Nam giáp thửa đất 97; phía Đông
giáp thửa đất 99; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh. Trên đất 01 chuồng trại
chăn nuôi (chuồng gà) xây năm 2018 01 đoạn xây gạch ba banh năm
2021.
Biên bản định giá ngày 07/3/2025, Hội đồng định giá xác định: Quyền sử
dụng đất đang tranh chấp giá trị 5.000.000đ/m
2
x 25,28 m
2
= 126.400.000
12
đồng. Giá trị tài sản trên đất: 01 chuồng giá 1.431.360 đồng + 01 đoạn
gạch ba banh giá 312.480 đồng =1.743.840 đồng. Tổng giá trị đất tài sản
trên đất 128.143.840 đồng.
Ti Bn án dân s thẩm s 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 ca Tòa án
nhân dân khu vc 1 Lạng Sơn đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lộc Sơn T
và một phần yêu cầu phản tố của bị đơnNguyễn Thị T, không chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn một phần yêu cầu phản tố bị đơn, cụ
thể:
1.1. Nguyên đơn anh Lộc Sơn T được quyền quản lý, sử dụng diện tích
đất tranh chấp 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3) vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8 thuộc
một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997
nay phường C, tỉnh Lạng Sơn, các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp
thửa 98.2 kích thước cạnh 1.13m; phía Nam giáp thửa đất 103 kích thước
cạnh 1,34m; phía Đông giáp thửa đất 99 kích thước cạnh 3,45m; phía Tây
giáp thửa 97 kích thước cạnh 3,38m công trình trên đất chuồng
diện tích 4,2m
2
, vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8.
Khi bản án hiệu lực pháp luật anh Lộc Sơn T quyền nghĩa vụ
thực hiện quyền, nghĩa của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
1.2. Bị đơn Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất
tranh chấp 21,08m
2
(trong đó diện tích 17,08m
2
được hiệu thửa tạm
98.1 4,0m
2
được hiệu thửa tạm 98.2) thuộc một phần thửa đất số 98, tờ
bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay phường C, tỉnh Lạng
Sơn vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, P1, A4, A5, A8, A9, A10, P2, A11, A12.
Thửa đất trên các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp một phần thửa 98
kích thước cạnh 20,06m + 1,12m + 2,61m; phía Nam giáp thửa đất 97 kích
thước cạnh 20,05m + 0.10m + 1,07m + 0,70m +1,69m; phía Đông giáp thửa đất
103 kích thước cạnh 1,13m; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh ch thước
cạnh 0,88m được quyền sở hữu 01 đoạn xây gạch ba banh diện tích
0,6m2, vị trí đỉnh thửa A3, P1, P2, A11, A12 trên diện tích đất 21,08m
2
nêu trên.
Ghi nhận tự nguyện của bị đơn Nguyễn Thị T đối với diện tích đất
21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa đất 98, tờ bản đồ số 51
phường L nay phường C, tỉnh Lạng Sơn để làm mương thoát nước mưa tự
nhiên cho các hộ xung quanh trách nhiệm xây cống tông rộng tối thiểu
88cm, cao tối thiểu 1m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Khi bản án hiệu lực pháp luật Nguyễn Thị T quyền nghĩa vụ
thực hiện quyền, nghĩa của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
(Có phụ lục trích đo kèm theo bản án)
1.3. Buộc nguyên đơn anh Lộc Sơn T, bị đơn Nguyễn Thị T
những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tuấn H,
ông Trần Quang B chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
13
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, chi
phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thi hn luật định, nguyên đơn anh Lộc Sơn T đơn kng cáo
mt phn bản án thẩm s 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 ca Tòa án nhân
dân khu vc 1 Lạng Sơn, đề ngh sa bản án theo hướng công nhận đường
mương thoát nước chung cho các hộ, trong đó hộ gia đình nguyên đơn với
din tích 21,08m
2
, đề ngh b đơn Nguyn Th T chm dt các hành vi làm
thay đổi hin trạng đường mương thoát nước trên.
Ti phiên tòa phúc thm:
Nguyên đơn anh Lc Sơn T: Rút mt phn yêu cu khi kiện đối vi
din tích 4,2m
2
tài sản trên đất (tha tm 98.3) v trí đỉnh tha A5, A6,
A7, A8 thuc mt phn thửa đt s 98, t bản đồ s 51, bản đồ địa chính phường
L m 1997 nay phường C, tnh Lạng Sơn. Vic xin rút mt phn yêu cu
khi kin của nguyên đơn được b đơn nhất trí. Nguyên đơn vn gi nguyên yêu
cu ni dung kháng cáo đề ngh sa Bn án dân s thẩm: Công nhn din tích
21,08m
2
đường mương thoát nước chung cho các hộ, trong đó h gia
đình nguyên đơn.
B đơn yêu cầu phn t Nguyn Th T xin rút mt phn yêu cầu đối
vi din tích 4,2m
2
cùng tài sản trên đất (tha tm 98.3) được nguyên đơn
nhất trí; đối vi yêu cu kháng cáo ca nguyên đơn, Nguyn Th T không
chp nhn ni dung kháng cáo ca nguyên đơn. B đơn yêu cầu được quản lý, sử
dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2). Bị đơn tự nguyện
để lại diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
làm cống thoát nước mưa tự nhiên chung
cho các hộ xung quanh trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu 88cm,
cao tối thiểu 1 m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Th Đ, anh Lc Tn
Hưng đều nht trí vic xin rút mt mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn
b đơn yêu cầu phn t xin rút mt phn yêu cầu đi vi din tích 4,2m
2
(tha tm là 98.3) tài sản trên đt; nht trí vi ni dung kháng cáo ca nguyên
đơn.
Người bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn: Nguyên đơn xin rút
mt phn yêu cu khi kin, b đơn xin rút một phn yêu cu phn t đối vi
din tích 4,2m
2
tài sản trên đất (tha tm 98.3) v trí đỉnh tha A5, A6, A7,
A8 thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ s 51, bản đ địa chính phường L
năm 1997 nay phường C, tnh Lạng Sơn. B đơn Nguyn Th T yêu cầu
được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2).
Nguyn Th T t nguyện để diện tích đt tranh chp 21,08m
2
(tha tm 98.1 +
98.2) thuc mt phn tha đất 98, t bn đồ s 51 phưng L nay là phưng C, tnh
Lng n để m mương thoát ớca t nhiên chung cho các h xung quanh
trách nhim y cng ng rng ti thiu 88cm, cao ti thiu 1m, kéo dài t
điểm A1 đến A8 và t đim A2 đến A5; đề ngh Hội đồng xét x ghi nhn.
14
Ý kiến phát biu quan đim ca Kim sát viên ti phiên tòa pc thm. Vic
tuân theo pháp lut ca Thm phán - Ch ta phn tòa; Hi đồng t x Thư
phiên tòa đã thc hiện đúng quy định pháp lut. Vic tuân theo pháp lut ca
nguyên đơn, bị đơn, ngưi có quyn lợi nghĩa vụ ln quan ti phiên a phúc thm
thc hiện đúng quy định pháp lut.
V vic kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn trong thời hn theo quy
định Điều 273, 280 B lut T tng dân s.
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu sửa bản án thẩm số:
04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Lạng Sơn.
Về nội dung: Về nguồn gốc đất tranh chấp các đương sự trình bày thuộc
thửa đất 98 tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay
phường C, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình quản lý sử dụng đất diện tích đất tranh chấp
21,08m
2
thuộc một phần thửa đất số 98 (98.1 + 98.2) nguyên đơn cho rằng
diện tích trước đây các hộ thỏa thuận mương thoát nước chung. Ngoài lời
trình bày nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Lời khai Đặng
Thị V, ông Văn C, Trần Thị M những người cùng mua đất với bố
nguyên đơn năm 1994 khẳng định khi mua các hộ gia đình thỏa thuận rãnh thoát
nước chung chiều rộng 1m, chiều dài kéo theo thửa đất từ đằng sau ra đằng
trước để thoát nước trên đồi chảy xuống tuy nhiên không nhớ rõ vị trí thỏa thuận
làm mương thoát nước do những người này đều đã chuyển nhượng đất cho
người khác. Các tài liệu địa chính qua các thời kỳ không thể hiện giữa thửa đất
số 97 thửa đất số 98 đường mương thoát nước. vậy, không căn cứ
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận diện tích 21,08m
2
thuộc
một phần thửa đất số 98 là đường mương thoát nước chung.
Tuy nhiên, ti thực địa th hin gia thửa 97 98 đường rãnh thoát
c t nhiên, ni lin với đường thoát nước bao quanh thửa đất ca Th
H phía sau địa hình cao hơn đất ca gia đình nguyên đơn, bị đơn. Tại điểm
A1-A2 trên bản trích đo phần đất giáp mặt đường ngõ tông cng ch,
đảm bo cho việc thoát nước khi cn thiết. Ti cấp thẩm, cũng như tại phiên
tòa phúc thm b đơn t nguyện để din tích đất tranh chấp này để làm mương
thoát ớc mưa tự nhiên chung trách nhim xây cng tông din tích
rng ti thiu 88cm, cao ti thiu 1m. Xét thy vic b đơn để diện tích đất này
là mương nước thoát nước t nhiên chung là phù hp vi hin trng s dụng đất,
phù hp với địa hình khu đất, gia đình b đơn đã đổ đất, xây tường bao quanh
diện tích đt b đơn qun s dng nhưng phn din tích 21,08m
2
vẫn đang
khe thp, không san lp. vậy, để đảm bo cho mục đích sử dng, vic giao
diện tích đất nêu trên cho b đơn phù hp. Cn sa bn án thẩm theo
ng: Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn được qun s
dng diện tích đất 21,08m2; chp nhn yêu cu phn t ca b đơn được qun
s dng diện tích đất 21,08m2 thuc mt phn thửa đất s 98 t bản đồ s 51
bản đồ địa chính phường L (nay là phường C).
Ghi nhn s t nguyn ca b đơn đối vi diện tích đất trên để làm mương
thoát nước mưa t nhiên chung trách nhim xây cng tông rng ti
15
thiu 88cm, cao ti thiu 1m kéo dài t điểm A1 đến A8 t đim A2 đến A5
theo sơ đồ trích đo kèm theo h sơ vụ án.
Đối vi din tích 4,2m
2
tài sản trên đất (tha tm 98.3): Ti phiên
tòa phúc thm, nguyên đơn xin rút một phn yêu cu khi kin, b đơn xin rút
mt phn yêu cu phn t đối vi din tích 4,2m
2
tài sản trên đt (tha tm là
98.3) v trí đỉnh tha A5, A6, A7, A8 thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ
s 51, bản đồ địa chính phường L m 1997 nay phưng C, tnh Lạng Sơn.
Do đó, đề ngh Hội đng xét x hy mt phn bản án thẩm, đình chỉ gii
quyết đối vi phn mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn, một phn yêu
cu phn t ca b đơn đối vi din tích nêu trên.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn sai sót, cn sa bản án thm theo
ng: Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn được qun s
dng diện tích đất 21,08m
2
; chp nhn yêu cu phn t ca b đơn được qun
s dng diện tích đất 21,08m
2
thuc mt phn thửa đất s 98 t bản đồ s 51
bản đồ địa chính phường L (nay phường C). Ghi nhn s t nguyn ca b
đơn đối vi diện tích đất trên để làm mương thoát ớc mưa tự nhiên chung
có trách nhim xây cng bê tông rng ti thiu 88cm, cao ti thiu 1m kéo dài t
điểm A1 đến A8 t điểm A2 đến A5 theo đồ trích đo kèm theo h v
án.
T những phân tích đánh giá nêu trên, đ ngh Hội đồng xét x áp dng
khoản 2 Điu 308, Điu 309 B lut t tng dân s đề ngh Hội đồng xét x
không chp nhn kháng cáo ca nguyên đơn anh Lc Sơn T; sa Bn án dân s
thẩm s 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 1-
Lạng Sơn v các ni dung nêu trên.
V chi phí t tng: Chi phí xem xét thẩm định ti ch định giá tài sản, đo
đạc: Nguyên đơn phi chịu tương ng vi yêu cu khi kin không được chp
nhn din tích 21,08m
2
tương ng s tin
13.060.000 đồng; nguyên đơn b
đơn phi chịu đối vi diện tích đã rút yêu cầu tương ng s tiền 2.602.000 đồng,
mỗi người phi chu ½ s tiền 1.301.000 đồng. Anh Lộc Sơn T đã nộp tm ng
để chi phí, b đơn Nguyn Th T phi hoàn tr li cho anh Lộc Sơn T s tin
1.301.000 đồng.
V án phí phúc thm: Do sa Bản án thm nên người kháng cáo không
phi chu án phí dân s phúc thm theo quy định ca pháp lut.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] V th tc t tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hn lut
định luật định, hp l nên được chp nhận để xem xét theo trình t phúc thm.
[2] Ti phiên tòa vng mt mt s ngưi có quyn lợi, nghĩa v liên quan,
tuy nhiên mt s người đã đơn xin xét xử vng mt, mt s ngưi vng mt
nhưng người đi din theo y quyn, mt s ngưi vắng nhưng đã đưc tng
đạt hp lệ; căn cứ khoản 2 Điều 296 ca B lut T tng dân s Tòa án tiến
16
hành xét x vng mt những người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy
định.
[3] Xét ni dung yêu cu kháng cáo của nguyên đơn anh Lộc Sơn T, Hi
đồng xét x xét thy:
[4] Theo kết qu xem xét thẩm định ngày 07/3/2025, xác định: Đất tranh
chp din tích 25,28m
2
(trong đó din tích 17,08m
2
đưc hiu tha tm
98.1 diện tích 4,0m
2
đưc hiu tha tm 98.2; diện tích 4,2m
2
đưc
ký hiu tha tm là 98.3) thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ s 51, bản đồ
địa chính phường L (nay phường C), tnh Lạng Sơn; th hin trên mnh trích
đo các điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12 các
cnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đường hin trng; phía Nam giáp thửa đất
97; phía Đông giáp thửa đất 99; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh. Trên đt
01 chung trại chăn nuôi (chuồng gà) xây năm 2018 01 đon xây gch ba
banh năm 2021.
[5] V nguồn gốc đất tranh chấp: Năm 1994, ông Văn C thay mặt 05
hộ gia đình gồm ông Duy H, ông Lộc Văn T, Đặng Thị V, Trần Thị
M, ông Văn C đứng ra nói chuyện mua thửa đất với ông Vi Văn C. Khi mua
viết giấy mua bán viết tay đề "Giấy chuyển nhượng đất vườn" do ông
Duy H viết ngày 06/3/1994, xác nhận của U ban nhân dân Q ngày
07/5/1994. Năm hộ gia đình cùng nhau góp tiền mua, cụ thể mỗi người góp bao
nhiêu tiền không rõ, giá mua mảnh đất 3.500.000 đồng, khi mua không đo đạc
thực tế. Sau khi mua xong, 05 hộ gia đình đã tự bàn bạc cắm cọc phân chia đất
cho nhau thành 05 mảnh, việc phân chia chỉ ước lượng, không đo đạc cụ thể.
Thứ tự các mảnh đất phân chia như sau: Đầu tiên đất của ông Duy H, sau
đó đến đất ông Văn C, Đặng Thị V, ông Lộc Văn T (nay chủ đất anh
Lộc Sơn T) cuối cùng đất của Trần Thị M (nay chủ đất Nguyễn
Thị T).
[6] Nguyên đơn cho rằng các hộ gia đình thỏa thuận thửa đất của ông
Duy H đất Trần Thị M sẽ được diện tích rộng hơn các thửa đất còn lại nên
hai người này sẽ trách nhiệm làm mương thoát nước mưa tự nhiên, sử dụng
chung cho các hộ mương thoát nước phải chiều rộng 1m, chiều dài kéo từ
đằng sau ra đằng trước thửa đất, việc thỏa thuận y chỉ nói bằng miệng, không
lập thành biên bản. Phía gia đình của ông Duy H đã làm mương thoát nước,
còn phía đất nhà Trần Thị M thì chưa làm mương thoát nước chung cho các
hộ gia đình như đã thỏa thuận trước đó, vị trí làm mương thoát nước được xác
định là nằm sát tường rào của gia đình nguyên đơn có diện tích 21,08m
2
.
[7] Tại Đơn xác nhận của ông Văn C ngày 16/9/2024 (bút lục 15);
Trần Thị M ngày 19/9/2024 (bút lục 20) do phía nguyên đơn giao nộp tài liệu
chứng cứ cho Tòa án đều chung nội dung: "Thời điểm đó các hộ sau khi mua
đất của ông Vi Văn C đã thỏa thuận với nhau rằng hai bên đất của người
được chia nhiều hơn sẽ phải để ra một phần đất làm mương thoát nước vào mùa
mưa… phần đất của M phần mương thoát nước sẽ sát tường rào nhà ông
Lộc Văn T và nằm trên đất của bà M".
17
[8] Tại biên bản lấy lời khai ông Văn C (bút lục 328), Trần Thị M
(bút lục 324) lại đều khẳng định sau khi phân chia đất, các hộ gia đình thỏa
thuận bằng miệng đất của hộ gia đình ông Duy H Trần Thị M được
diện tích rộng hơn thì phải có trách nhiệm làm mương thoát nước cho các hộ gia
đình sử dụng chung, tuy nhiên không nói cụ thể vị trí nào nhưng ràng
có việc các bên có thỏa thuận để mương nước chung của các hộ.
[9] Tại lời khai của bà Đặng Thị V, Hoàng Thị K, Thị H, Nguyễn Văn
C (bút lục 16-19) lại thể hiện "từ năm 1996 đã luôn tồn tại một rãnh nước chung,
sau này tôn tạo lên thành cống thoát nước vào mùa mưa lũ". Tại bản tự khai
ngày 05/5/2025 Đặng Thị V lại khai "sau khi thống nhất mua mảnh đất thì
chia làm 05 xuất, ai lấy mảnh bên cạnh phải để ra 1 mét làm cống chung, bên
Trần Thị M thì phải để sát nhà anh Lộc Sơn T từ xưa đã 2 mương rãnh
nước thoát rồi". Tại biên bản lấy lời khai cùng ngày Đặng Thị V lại trình bày
"tại phần diện tích đất h, vị trí rãnh thoát nước đâu do đã lâu nên tôi không
nhớ".
[10] Lời khai của ông Duy H lại thể hiện nội dung do Trần Thị M
nhận thửa đất diện tích hơn của ông, tuy lớn hơn các hcòn lại nhưng
mảnh cuối thửa không chiều sâu, cạnh vát nhọn, xấu hơn, các thửa còn lại
thì vuông vắn nên Trần Thị M chỉ phải làm đường thoát nước qua đường vào
nhà ông Cừ chứ không phải làm mương thoát nước qua đất bà Trần Thị M.
Như vậy, lời khai những người cùng mua đt vi b nguyên đơn năm
1994 khi mua các h gia đình vic tha thun làm rãnh thoát nước chiu
rng 1m, chiu dài kéo theo thửa đất t đằng sau ra đằng trước đ thoát nước
trên đồi chy xung tuy nhiên không nh v trí tha thuận làm mương thoát
c do những người này đều đã chuyển nhượng đất cho ngưi khác, do sự việc
đã lâu và các hộ mua đất cũng đã không còn sinh sống ở đó.
[11] Tại Công văn số 288/UBND ngày 09/9/2024 của Uỷ ban nhân dân
phường L, thành phố Lạng Sơn cho biết "đối chiếu với hồ địa chính được lưu
trữ cho thấy: Tại vị trí phần diện tích ông Lộc Sơn T cùng các hộ Đặng Thị
V, Hoàng Thị K, ông Nguyễn Văn C, Thị H ý kiến về việc tồn tại
01 rãnh thoát nước từ năm 1996, sau được tôn tạo làm cống thoát nước. Trên
bản đồ địa chính không thể hiện việc đường thoát nước, phần diện tích này
thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ địa chính số 51, phường L, trên bản đồ
hiệu G1 (đất nhà), sổ mục địa chính ghi tên ông Nguyễn Đ. Bản đồ địa
chính phường L được đo đạc tháng 5/1997, công nhận tháng 12/1997 nghiệm
thu duyệt ngày 31/12/1997, trên sở dữ liệu được thể hiện trên bản đồ địa
chính cho thấy tại thời điểm đo đạc nghiệm thu bản đồ không hề có mương thoát
nước nào". Như vậy, theo UBND thì các hộ dân cũng ý kiến về việc tồn tại
01 rãnh thoát nước từ năm 1996, việc đo đạc từ năm 1997 không đảm bảo phản
ánh đầy đủ các công trình nhỏ như rãnh thoát nước, lời khai của người dân xung
quanh mới chứng cứ thực tế, bản đồ không thể hiện mương nước không
nghĩa rằng thực tế không có mương nước.
[12] Tại biên bản xác định ranh giới mốc giới khu đất xác định thửa đất bà
18
Nguyễn Thị T xin khai năm 2013 thể hiện phía Nam giáp thửa đất số 97
của gia đình ông Lộc Văn T, ông Lộc Văn T đã xác nhận ranh giới, tại biên
bản này thể hiện thửa 98 tiếp giáp trực tiếp thửa đất 97, không mương thoát
nước chung giữa thửa 97 98. Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 51, diện tích 173,4m
2
thấy: Ngày
25/6/2001, ông Lộc Văn T làm đơn xin đăng quyền sử dụng đất đối với thửa
đất nhận chuyển nhượng của ông Vi Văn C ngày 06/3/1994. Tại biên bản xác
định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 19/9/2002, thửa đất số 97 các chủ sử
dụng đất tiếp giáp như sau: Phía đông giáp đất đồi ông Nguyễn An S; phía Tây
giáp đường đi chung, phía Nam giáp nhà ông Phạm Huy T, phía Bắc giáp đường
vào nhà ông C, như vậy về phía Bắc đất của gia đình ông Lộc Văn T không thể
hiện là có đường mương thoát nước.
[13] Như vậy, các đương sự đều thừa nhận đất tranh chấp nguồn gốc
do Trần Thị M cùng 5 người mua với ông Vi Văn C; đất tranh chấp đoạn
mương thoát nước tự nhiên phía cuối đất tranh chấp 01 cống tròn ng để
sẵn cho việc thoát nước từ trên cao xuống nằm trên 1 phần của thửa đất 98, hiện
tại do gia đình Nguyễn Thị T đang quản sử dụng diện tích 21,08m
2
,
(trong đó diện tích 17,08m
2
đưc hiu tha tạm là 98.1 diện tích 4,0m
2
đưc hiu tha tm 98.2). Quá trình gii quyết v án bà Nguyễn Thị T đã
chng minh phần đất đang tranh chấp thuc quyn s dng hp pháp ca gia
đình bị đơn, do nhn chuyển nhượng của gia đình ông Ngô Văn Đ, Trn
Th Lp có. vy, Nguyn Th T có đầy đủ các quyn của ngưi s
dụng đất theo quy định ca Luật đất đai.
[14] Mc dù, các tài liệu đa chính qua các thi k không th hin gia
thửa đất s 97 thửa đt s 98 đường mương thoát nước. Tuy nhiên, ti
thực địa đất tranh chp th hin gia thửa 97 98 đưng rãnh mương thoát
c t nhiên, ni lin với đường thoát nước bao quanh thửa đất ca Th
H phía sau địa hình cao hơn đất ca gia đình nguyên đơn, bị đơn. Tại điểm
A1-A2 trên bản trích đo phần đất giáp mặt đường ngõ tông cng ch,
đảm bo cho việc thoát nước khi cn thiết.
Ti cấp thẩm, cũng như ti phiên tòa phúc thm b đơn Nguyn Th
T t nguyện để diện tích đất tranh chấp này để làm mương thoát ớc mưa t
nhiên chung trách nhim xây cng tông din tích rng ti thiu 88cm,
cao ti thiu 1m. Xét thy vic b đơn t nguyện để diện tích đất tranh chp
21,08m
2
(tha tm 98.1 + 98.2) thuc mt phn thửa đất 98, t bn đồ s 51
phưng L nay là phường C, tnh Lng n để làm ơng thoát nước mưa tự nhiên
chung cho các h xung quanh trách nhim xây cng ng rng ti thiu
88cm, cao ti thiu 1m, o dài t điểm A1 đến A8 t điểm A2 đến A5 phù
hp vi hin trng s dụng đất, phù hp với địa hình khu đt, gia đình bị đơn đã
đổ đất, xây tường bao quanh diện tích đt b đơn quản s dụng nhưng phần
din tích 21,08m
2
vẫn đang khe thấp, không san lp, móng xây gạch ba
banh 0,6m
2
trên diện tích đất. Ý kiến y ca b đơn hoàn toàn t nguyn
không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức hi nên Hội đồng xét x ghi
19
nhn s t nguyn này. vy, cấp thẩm chp nhn yêu cu khi kin ca
Nguyễn Thị T phù hợp căn cứ; do đó kháng cáo của nguyên đơn không
có cơ sở để đưc chp nhn.
[15] Ti phiên tòa phúc thm, nguyên đơn xin rút một phn yêu cu khi
kiện được b đơn nhất trí, b đơn xin rút một phn yêu cu phn t đối được
nguyên đơn nhất trí đối vi din tích 4,2m
2
tài sản trên đất (tha tm 98.3)
v trí đỉnh tha A5, A6, A7, A8 thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ s 51,
bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay phưng C, tnh Lạng Sơn. Xét thy
vic t mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn b đơn yêu cu phn
t t nguyện, được nguyên đơn anh Lộc Sơn T b đơn yêu cu phn t,
ngưi quyn lợi nghĩa vụ liên quan mặt đều nht trí. Do đó, cần hy mt
phn bản án sơ thẩm, đình chỉ gii quyết đối vi mt phn yêu cu khi kin ca
nguyên đơn, một phn yêu cu phn t ca b đơn.
[16] Tuy nhiên, Bản án thẩm còn sai sót cn phi xem xét, cn sa
cho phù hợp, đó là: V xác định quan h pháp lut tranh chp, bn án ghi
“...yêu cầu chm dt hành vi cn trở” chưa đầy đủ chưa đúng quy đnh ti
khoản 10 Điều 11 Lut Đất đai năm 2024. Ti khoản 10 Điều 11 Luật Đất đai
năm 2024 quy đnh v hành vi b nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai: “10. Cản
trở, gây khó khăn đối vi vic s dụng đất, vic thc hin quyn của người s
dụng đất theo quy định ca pháp luật”. Chưa nhận định ý kiến ca Vin kim
sát người bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn chưa đúng hướng
dn ti mc (26) mu s 52-DS (ban hành kèm theo Ngh quyết s 01/2017/NQ-
HĐTP ngày 13/01/2017 ca Hội đồng Thm phán Tòa án nhân dân ti cao). Ti
phiên tòa vng mt những ngưi quyn li nghĩa v liên quan (bà Trn
Th M, ông Ngô Văn Đ, bà Nguyn Th L, đại din Ủy ban nhân dân phường C)
nhưng ti phn quyết định ca bản án không căn cứ Điu 228 B lut t tng
dân s v xét x vng mặt ngưi có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan là chưa đy
đủ. Ngoài ra, phn quyết định ca bn án không áp dng khoản 10 Điều 11,
Luật Đất đai năm 2024 đi vi hành vi cn tr vic s dụng đất thiếu sót,
không đúng hướng dn ti mc (27) mu s 52-DS (ban hành kèm theo Ngh
quyết s 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đng Thm phán Tòa án
nhân dân ti cao). Nguyên đơn khởi kin yêu cu công nhận diện tích đất tranh
chấp đường mương thoát nước chung, công nhận diện tích đất tranh chấp
của gia đình nguyên đơn; cấp thẩm thông báo np tin tm ng án phí cho
nguyên đơn chưa đầy đủ; ti mc nhận định v [7] V án phí buc nguyên
đơn phi chu án phí giá ngch đối vi yêu cầu không được chp nhn,
không nhận định không buộc nguyên đơn phi chịu án phí đối vi yêu cu
đường mương thoát nước chung là có thiếu sót;
[17] V chi phí t tng: Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166 ca B Lut
T tng dân s, tng chi phí xem xét thẩm định ti ch định giá tài sản, đo đc
15.662.000 đồng, anh Lộc Sơn T đã nộp tm ứng để chi phí. Do yêu cu khi
kin ca nguyên đơn không đưc chp nhận đối vi din tích 21,08m
2
nên
nguyên đơn phi chu chi phí t tng tương ng s tin 13.060.000 đng
20
chu 1.301.000 đồng đối vi yêu cu rút 1 phn yêu cu khi kin, tng cng
s tiền 14.361.000 đng. Xác nhn nguyên đơn anh Lc Sơn T đã nộp đủ chi
phí xem xét thm đnh ti ch định giá tài sản, đo đạc.
B đơn Nguyn Th T phi chu s tin 1.301.000 đng, tương ng vi
phn rút 1 phn yêu cu phn t, anh Lộc Sơn T đã nộp tm ng nên Nguyn
Th T phi hoàn tr li cho anh Lộc Sơn T s tiền 1.301.000 đồng.
[18] V án phí thẩm: Căn cứ Điu 147 ca B lut T tng dân s;
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi do yêu cu khi kin ca
nguyên đơn không được chp nhận nên nguyên đơn phi chu án phí không
giá ngch đối vi yêu cầu không được chp nhn mi loi 300.000 đồng; tng
cng s tin là 600.000 đng để sung công qu Nhà nước. Xác nhận nguyên đơn
đã nộp 300.000 đồng tm ng án phí theo biên li s 0000548 ngày 10/01/2025
ca Chi cc Thi hành án dân s thành ph Lạng Sơn (nay Phòng Thi hành án
dân s khu vc 1 - Lạng Sơn) số tiền trên đang được gi ti tài khon s
3949.0.1054441.00000 ca Thi hành án dân s tnh Lạng Sơn tại Kho bc Nhà
c Khu vc VI - Phòng nghip v 2, sau khi khu tr nguyên đơn còn phải
np tiếp s tin 300.000 đồng.
[19] V án phí phúc thm: Do sa bản án thm, nguyên đơn anh Lc
Sơn T người kháng cáo không phi chu án phí phúc thẩm theo quy định ti
khoản 2 Điều 148 B lut dân s; khoản 2 Điều 29 Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban Thường v Quc hi quy
định v mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí l phí Tòa
án.
[20] Xét đề ngh của đại din Vin kim sát nhân dân tnh Lạng Sơn;
Ni bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn căn cứ, phù hp vi các
quy định ca pháp luật nên được chp nhn.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; khoản 2 Điều 148 ca B lut T
tng dân s năm 2015; không chp nhn kháng cáo của nguyên đơn anh Lc
Sơn T; sa Bn án dân s thẩm s 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 ca Tòa
án nhân dân khu vc 1 Lạng Sơn, như sau:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, đim c khon 1 Điu
39, Điều 157, Điều 165, Điu 217, 244 ca B lut T tng dân s;
Điều 202 Điu 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 10 11, 131, 133, 134,
135, 136 Luật đất đai 2024; Điu 166 B lut dân s năm 2015;
Khon 2 Điều 26; đim a khoản 2 Điều 27 Ngh quyết s:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v
Quc hội quy đnh v mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí
và l phí Tòa án:
21
I. Hy mt phn bản án thẩm đình chỉ gii quyết mt phn yêu cu
khi kin của nguyên đơn đối vi diện tích đất tranh chp 4,2m
2
(tha tm
98.3) v trí đỉnh tha A5, A6, A7, A8 thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ
s 51, bản đ địa chính phường L năm 1997 nay là phưng C, tnh Lạng Sơn,
các cnh tiếp giáp như sau: Phía Bc giáp tha 98.2 kích thước cnh 1.13m;
phía Nam giáp thửa đt 103 kích thước cnh 1,34m; phía Đông giáp thửa đất
99 kích thước cnh 3,45m; phía Tây giáp tha 97 kích thước cnh 3,38m
công trình trên đt chung din tích 4,2m
2
, v trí đỉnh tha A5, A6,
A7, A8 (Có ph lc trích đo kèm theo bản án).
Các đương sự quyn khi kin yêu cu Tòa án gii quyết li ni dung
đình chỉ xét x yêu cu khi kin do rút yêu cu khi kiện theo quy đnh ca
pháp lut t tng dân s.
II. Sa mt phn bn án sơ thẩm:
1. Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn anh Lộc Sơn T
đề ngh công nhận diện tích 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) hiệu A1, A2,
A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51
phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là đường mương thoát nước chung,
buộc bị đơn tháo dỡ công trình móng xây gạch ba banh 0,6m
2
trên diện tích
đất tranh chấp.
2. Chp nhn yêu cu phn t ca b đơn bà Nguyn Th T, c th:
B đơn Nguyn Th T đưc quyn qun lý, s dng din tích đất tranh
chp là 21,08m
2
(trong đó có diện tích 17,08m
2
đưc ký hiu tha tm là 98.1 và
4,0m
2
đưc hiu tha tm 98.2) thuc mt phn thửa đất s 98, t bản đồ
s 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay phường C, tnh Lạng Sơn
v trí đnh tha A1, A2, A3, P1, A4, A5, A8, A9, A10, P2, A11, A12. Thửa đất
trên các cnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp mt phn tha 98 kích
thước cnh 20,06m + 1,12m + 2,61m; phía Nam giáp thửa đất 97 kích thưc
cnh 20,05m + 0.10m + 1,07m + 0,70m + 1,69m; phía Đông giáp thửa đất 103
kích thước cnh 1,13m; phía Tây giáp đưng ngõ dân sinh kích thước
cnh 0,88m và đưc quyn s hu 01 đoạn xây gch ba banh din tích
0,6m
2
, v trí đỉnh tha A3, P1, P2, A11, A12 trên diện tích đất 21,08m
2
nêu trên.
Khi bn án hiu lc pháp lut Nguyn Th T quyền nghĩa vụ
thc hin quyền, nghĩa của người s dụng đất theo quy định pháp lut.
Ghi nhn s t nguyn ca b đơn Nguyn Th T đối vi diện tích đất
21,08m
2
(tha tm 98.1 + 98.2) thuc mt phn thửa đất 98, t bn đồ s 51
phưng L nay là phường C, tnh Lạngn đ làm mương thoát nước mưa tự nhiên
chung cho c h xung quanh trách nhim xây cng ng rng ti thiu
88cm, cao ti thiu 1m, kéo dài t điểm A1 đến A8 t đim A2 đến A5.
(Có ph lục trích đo kèm theo bản án).
22
3. Buộc nguyên đơn anh Lộc Sơn T và những người có quyn lợi nghĩa vụ
liên quan Hoàng Th Đ, anh Lc Tun H chm dt hành vi cn tr quyn
s dụng đất.
4. Chi phí t tng: Chi phí xem xét thẩm đnh ti ch định giá tài sản, đo
đạc tng s tin 15.662.000đ (mười m triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn
đồng), anh Lộc Sơn T đã nộp tm ứng để chi phí.
Nguyên đơn anh Lộc Sơn T phi chu s tin 14.361.000đ (mười bn triu
ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng), xác nhn anh Lộc Sơn T đã nộp đủ.
B đơn Nguyn Th T phi chu s tin 1.301.000đ (một triệu ba trăm
linh một nghìn đồng), do anh Lộc Sơn T đã nộp tm ng đ chi phí nên
Nguyn Th T phi hoàn tr li cho anh Lộc Sơn T 1.301.000đ (một triu ba
trăm linh một nghìn đồng).
K t ngày người được thi hành án đơn yêu cu thi hành án, bên
nghĩa v chm tr tiền thì bên đó phải tr lãi đối vi s tin chm tr tương ng
vi thi gian chm tr. Lãi sut phát sinh do chm tr tiền được c định theo
tha thun, nếu không tha thuận được thì thc hiện theo quy đnh tại Điều 357
và Điều 468 B lut Dân s.
5. V án phí:
5.1. Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn anh Lộc Sơn Tùng phải chịu
s tin 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân s thẩm để sung công qu
Nhà nước. Xác nhận nguyên đơn anh Lộc Sơn T đã nộp 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) tm ng án phí theo biên li s 0000548 ngày 10/01/2025 ca Chi
cc Thi hành án dân s thành ph Lạng Sơn (nay Phòng Thi hành án dân s
khu vc 1 - Lạng Sơn) s tiền trên đang được gi ti tài khon s
3949.0.1054441.00000 ca Thi hành án dân s tnh Lạng Sơn tại Kho bc Nhà
c Khu vc VI - Phòng nghip v 2; sau khi khu tr nguyên đơn anh Lc
Sơn T còn phi np tiếp s tin 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
5.2. V án phí phúc thm: Do sa bản án thẩm, nguyên đơn anh Lc
Sơn T không phi chu án phí phúc thm, hoàn trả cho anh Lộc Sơn T s tin
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ngày
03-9-2025 ca Phòng Thi hành án dân s khu vc 1 - Lạng Sơn.
Trường hp bn án được thinh theo quy định tại Điu 2 Lut Thi nh án
n s ngưi phi thi hành án dân sự, người được thi hành án dân s có quyn tho
thun thi hành án quyn u cu thi nh án, t nguyn thi hành án hoc b ng
chế thi hành án quy định tại điu 6, 7, 9 Lut Thi hành án n s. Thi hiu thi
nh án được thc hiện theo quy định tại Điu 30 Lut Thinh án dân s.
Bn án dân s phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa pc thm TAND tối cao ti Hà Nội;
- Vin phúc thẩm VKSND tối cao tại Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
TM. HI ĐNG XÉT XPHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TA PHN A
(Đã ký)
23
- TAND khu vực 1 - Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 1 Lạng n;
- Thi hành án dân sự tỉnh Lạng n;
- Những ni tham gia ttụng;
- HCTP; P. KTTT&THA;
- Lưu: H, Tòa Dân s.
Lƣơng Thị Nguyệt
Tải về
Bản án số 04/2026/DS-PT Bản án số 04/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/DS-PT Bản án số 04/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất