Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 04/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 04/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Lộc Sơn T-Nguyễn Thị T-tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp đường mương thoát nước chung, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 04/2026/DS-PT
Ngày 09-01-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
tranh chấp đường mương thoát nước
chung, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản
trên đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản
trở quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nguyệt.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoa;
Ông Chu Long Kiếm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2025/TLPT-
DS ngày 23 tháng 10 năm 2025, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh
chấp đường mương thoát nước chung, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất,
yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất;
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 68/2025/QĐ-PT ngày
27-11-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2025/QĐ-PT ngày 16-12-2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lộc Sơn T, sinh năm 1995; Căn cước công dân số
020095000*** do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an
cấp ngày 25-3-2021; địa chỉ: Ngõ 417, đường T, phường C, tỉnh Lạng Sơn. Có
mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; Căn cước công dân số
033163009*** do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an
cấp ngày 24-6-2021 địa chỉ: Tái định cư M, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nguyễn Thị T: Bà
Nguyễn Thị Trung V, luật sư của Văn phòng luật sư T thuộc đoàn Luật sư tỉnh
Lạng Sơn. Địa chỉ: Phố Đ, P, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1967; Căn cước công dân số 02016700*** do
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 16-10-
2022. Có mặt.
2. Anh Lộc Tuấn H, sinh năm 1991; Căn cước công dân số 020091000***
do Bộ Công an cấp ngày 03-7-2024. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Ngõ 417, đường T, phường C, tỉnh Lạng Sơn.
3. Ông Trần Quang B; sinh năm 1964; Căn cước công dân số
020064000*** do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an
cấp ngày 15-4-2024 địa chỉ: Số 11A khu A - Tái định cư M, phường Đ, tỉnh
Lạng Sơn. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Quang B: Bà Nguyễn Thị T,
sinh năm 1963; địa chỉ: Tái định cư M, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn (văn bản ủy
quyền ngày 26/4/2025. Có mặt.
4. Bà Trần Thị M, sinh năm 1963; Căn cước công dân số 020163008*** do
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 22-11-
2021; địa chỉ: Thôn T, xã M, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
5. Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1964; Căn cước công dân số 020064004***
do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 29-
9-2022 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Căn cước công dân số
033170015*** do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an
cấp ngày 29-9-2022; cùng địa chỉ: Số 25, đường T, phường C, tỉnh Lạng Sơn;
địa chỉ liên hệ: Buôn X, xã E, tỉnh Đắc Lăk. Vắng mặt.
6. Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp
luật: Ông Trần Tiến N - Chủ tịch. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Đặng Thị V, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn Đ, phường K, tỉnh Lạng
Sơn. Vắng mặt.
2. Ông Lê Văn C, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu Tái định cư M, phường Đ,
tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
3. Ông Mã Duy H, sinh năm 1964; địa chỉ: Đường M, phường Đ, tỉnh
Lạng Sơn. Có mặt.
4. Bà Lý Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Q, phường C, tỉnh Lạng
Sơn. Có mặt.
5. Ông Nguyễn An S; địa chỉ: Đường T, phường C, tỉnh Lạng Sơn. Có
mặt.
3
- Người kháng cáo: Anh Lộc Sơn T, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm
tắt như sau:
Nguyên đơn anh Lộc Sơn T, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
phía nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tuấn H trình bày:
Năm 1994, ông Lê Văn C thay mặt 05 hộ gia đình gồm: Hộ ông Mã Duy
H, ông Lộc Văn T (là bố đẻ Lộc Sơn T, đã chết năm 2018), bà Trần Thị M, bà
Đặng Thị V, ông Lê Văn C (có vợ là bà Ngô Thị H) đứng ra nói chuyện về việc
mua lại thửa đất vườn của ông Vi Văn C có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Q
ngày 07/5/1994. Sau đó 05 hộ bàn bạc tự phân lô chia đất trên thửa đất đã mua
được của ông Vi Văn C. Thời điểm đó các hộ mua đất có thống nhất miệng với
nhau hộ nào được phân lô đất ở hai đầu thửa đất của ông Vi Văn C sẽ được chia
đất nhiều hơn phải để ra một phần đất có diện tích chiều rộng là 1m, chiều dài
kéo từ đầu đến cuối thửa là 23,2m để làm mương thoát nước sử dụng chung cho
các hộ và phần mương thoát nước này sẽ nằm sát với tường rào của gia đình anh
Lộc Sơn T, sau khi thỏa thuận bà Trần Thị M được phân lô đất sát nhà anh Lộc
Sơn T. Còn đối với đầu bên kia phần mương thoát nước sẽ nằm sát với tường
rào của đất nhà ông Nguyễn Văn C.
Việc trên giấy chuyển nhượng đất vườn sở dĩ có tên 06 người trong đó có
tên ông H (không rõ họ và tên đệm) làm ở Sở Điện lực Lạng Sơn vì khi đó ông
H là người yêu của bà Trần Thị M, nay không rõ ở đâu, thực tế người mua là bà
Trần Thị M.
Việc thỏa thuận mua đất với các hộ, ông Lộc Văn T là người tham gia
trực tiếp, thỏa thuận chia đất giữa 05 hộ cũng do ông Lộc Văn T thực hiện, các
hộ chỉ chia cắm mốc trên thực địa không đo đạc cụ thể ước chừng khoảng mỗi
nhà được hơn 100m
2
, sau đó ngày 14/11/2002 ông Lộc Văn T được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 173,4m
2
mục đích sử dụng là đất ở
thuộc thửa số 97, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn),
đến ngày 20/6/2022 anh Lộc Sơn T được nhận thừa kế thửa đất nêu trên.
Hiện nay, các hộ đã bán đất cho chủ đất mới, bà Trần Thị M bán cho ông
Ngô Văn Đ, vợ là Nguyễn Thị L vào năm 1996, sau đó ông Ngô Văn Đ, bà
Nguyễn Thị L bán lại cho bà Nguyễn Thị T vào năm 1997, nay chỉ còn nhà anh
Lộc Sơn T đang sinh sống trên diện tích đã được phân chia năm 1994.
Từ năm 2021, giữa gia đình anh Lộc Sơn T và bà Nguyễn Thị T xảy ra
tranh chấp liên quan đến phần diện tích các hộ mua đất từ năm 1994 thống nhất
sử dụng để làm đường thoát nước chung. Bà Nguyễn Thị T mua lại đất của bà
Trần Thị M vào năm 1996, thời điểm mua đất của bà Trần Thị M hai bên chỉ có
giấy tờ mua bán viết tay, không có chứng thực của cơ quan, tổ chức hay cá nhân
nào. Bà Nguyễn Thị T khẳng định không có đường thoát nước chung trên diện
tích đất đã mua. Tuy nhiên gia đình anh không đồng ý vì tại thời điểm năm 1994
các hộ đã thống nhất để ra một phần đất có diện tích rộng 1m ở hai đầu thửa đất
4
mua với ông Vi Văn C để xây dựng đường mương thoát nước chung cho các hộ.
Thời điểm thống nhất để đường mương thoát nước chung các hộ không có văn
bản thoả thuận gì mà chỉ tự thoả thuận bằng lời nói với nhau. Nhiều lần gia đình
anh có đưa ra căn cứ là giấy xác nhận của một số hộ thời điểm cùng gia đình anh
mua đất năm 1994 có thống nhất để đường thoát nước chung, hiện tại vẫn còn
cống chờ nằm ngang đường, cống chờ được lắp vào năm 2011 do các gia đình
đang có đất ở khu vực đó cùng góp tiền mua gồm bà Đặng Thị V, ông Phạm
Huy T (mua lại nhà của ông Mã Duy H), nhà anh, bà Nguyễn Thị T, ông C (anh
trai bà Nguyễn Thị T), bà Lý Thị H. Phần mương thoát nước trên là cần thiết do
vào mùa mưa lượng nước đổ về nhiều có thể gây ngập úng kéo dài. Đồng thời,
đến nay bà Nguyễn Thị T đang yêu cầu đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì có yêu cầu cấp thêm phần đất có diện tích là khoảng 4,65m
2
cũng
thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đố số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh
Lạng Sơn), anh khẳng định phần diện tích đất này là của gia đình anh đã và đang
sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, thời điểm gia đình anh được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, gia đình anh chưa đề nghị được cấp vào sổ đỏ gia đình, sau
này khi giải quyết tranh chấp xong anh sẽ yêu cầu cấp bổ sung.
Về quá trình quản lý đất đã mua: Sau khi nhận chia đất theo thực tế, năm
1996 gia đình anh xây nhà cấp 4, xây móng đá làm ranh giới hai bên, nhà cấp 4
thời điểm đó xây lùi vào phía trong không xây hết móng đá, đồng thời có làm hố
phân tại vị trí chuồng gà hiện nay, diện tích đất làm hố phân do ông Nguyễn An
S đã cho gia đình anh. Đến năm 2016 vị trí hố được xây thành chuồng gà và nhà
cấp 4 được xây thành nhà hai tầng như hiện nay. Từ khi xây nhà cấp 4 đến năm
2021 gia đình anh vẫn xả nước sinh hoạt (rửa rau) của gia đình qua đường thoát
nước nằm sát móng đá của gia đình anh đi qua một phần thửa 98, sau này năm
2021 bà Nguyễn Thị T tự ý tháo dỡ nên hiện nay nước xả sinh hoạt chảy nhờ
qua diện tích của nhà hàng xóm. Tháng 9 năm 2021 bà Nguyễn Thị T xây tường
xác định ranh giới đất thì phát sinh tranh chấp đến nay.
Tại đơn khởi kiện anh yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Công
nhận diện tích 23,2m
2
đất (rộng 1m, dài khoảng 23,2m) thuộc một phần thửa đất
số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là đường
mương thoát nước chung. Công nhận diện tích 27,85m
2
thuộc một phần thửa đất
số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là của gia
đình anh.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/5/2025, nguyên đơn có đơn thay đổi
yêu cầu khởi kiện cụ thể: Công nhận quyền đồng sở hữu, đồng sử dụng đối với
diện tích đất là 25,28m chiều dài và chiều rộng là 1m mà bà Nguyễn Thị T đang
có yêu cầu đề nghị cấp vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn
Thị T.
Sau khi có kết quả đo đạc và tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và
hòa giải, nguyên đơn anh Lộc Sơn T tiếp tục thay đổi yêu cầu khởi kiện đề nghị
Tòa án giải quyết: Công nhận diện tích 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) ký hiệu
A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ
5
số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là đường mương thoát nước
chung, đề nghị bà Nguyễn Thị T tháo dỡ công trình là móng xây gạch ba banh
0,6m
2
trên diện tích đất tranh chấp; công nhận diện tích 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3)
ký hiệu A5, A6, A7, A8 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay
là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là đất gia đình anh đã quản lý sử dụng từ lâu là hố
phân đến năm 2016 làm chuồng gà như bây giờ. Phần diện tích 1,4m
2
(thửa tạm
là 99.1) thuộc một phần thửa 99, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C,
tỉnh Lạng Sơn) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị
H, anh và bà Lý Thị H đã tự thỏa thuận để nhà anh xây công trình là chuồng gà,
anh không yêu cầu giải quyết diện tích đất này.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phía bị đơn ông Trần Quang B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 98 tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C) là do
bà Trần Thị M nhận chuyển nhượng từ ông Vi Văn C năm 1994 cùng với 4 hộ
khác như nguyên đơn đã trình bày, năm 1996 ông Ngô Văn Đ nhận chuyển
nhượng từ bà Trần Thị M; đến năm 1997 vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ
ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị L. Năm 1997, khi bà nhận chuyển nhượng thửa
đất với ông Ngô Văn Đ thì giữa đất của gia đình ông Lộc Văn T là thửa số 97 tờ
bản đồ số 51 phường L (nay là phường C) và thửa đất nhà ông Ngô Văn Đ đã có
tường nhà ngăn cách do nhà ông Lộc Văn T xây.
Năm 2016, gia đình bà Hoàng Thị Đ phá nhà cũ xây lại chỗ khác và xây
lại dầm, tường rào, trụ tường, xây lại nhà vệ sinh. Khi đó bà có nghi ngờ ông
Lộc Văn T xây lấn vào đất của gia đình bà nên bà có sang nhà ông Lộc Văn T
nói chuyện, tuy nhiên ông Lộc Văn T khẳng định gia đình ông chỉ xây dựng
bằng chân móng cũ và xây đúng ranh giới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
gia đình ông đã được cấp đối với thửa số 97 từ năm 2002. Do không kiểm tra
được vì móng cũ nằm ở dưới đất và gia đình ông Lộc Văn T lại đang xây dựng
nhà mới nên bà không muốn mang tiếng là người gây phiền hà hay cản trở
người khác nên đã tin theo lời ông Lộc Văn T. Tháng 9/2021, khi gia đình bà
đào đất xây tường rào thì mới phát hiện dầm, tường rào, trụ tường và nhà vệ sinh
gia đình ông Lộc Văn T xây dựng đã xây lấn sang đất của gia đình bà, đã xây
vượt quá chân móng cũ; nhà vệ sinh gia đình ông T xây cũng vượt ranh giới
thửa 97, xây lấn vào thửa đất số 98 của gia đình bà. Khi phát hiện việc gia đình
ông T đã xây lấn chiếm đất của gia đình mình, bà đã sang nhà nói chuyện với bà
Hoàng Thị Đ (là vợ ông T và là mẹ anh Lộc Sơn T); ban đầu bà Hoàng Thị Đ
nhất trí phá dỡ tường rào và trụ tường nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến và không
chịu phá dỡ tường, trụ tường trả lại đất cho gia đình bà; chính vì vậy bà đã có
đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân phường L (nay là phường C) tiến hành xác minh,
đo đạc và hòa giải nhiều lần. Kết quả xác định tường rào, trụ tường, nhà vệ sinh
gia đình ông T xây dựng đã vượt ra khỏi ranh giới diện tích đất của thửa 97, lấn
sang thửa 98 của gia đình bà. Chính vì vậy, anh Lộc Sơn T và bà Hoàng Thị Đ
đã tự tháo dỡ tường rào và trụ tường theo Thông báo của Uỷ ban nhân dân
6
phường, bức tường hiện nay trên móng đá là anh Lộc Sơn T xây dựng lại năm
2024. Chiều dài bức tường tháo dỡ kéo dài từ miệng cống đến trụ có ký hiệu A9.
Khi tháo dỡ gia đình anh Lộc Sơn T có múc thêm xuống phần đất tranh chấp sâu
như hiện tại, còn trước kia nước chảy từ cao xuống thấp tràn bờ không có rãnh
thoát nước. Việc năm 2011, các hộ gia đình có góp tiền làm cống để đặt ở đường
như nguyên đơn trình bày là đúng.
Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T
không đồng ý vì: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và Báo cáo
số 77/BC-UBND ngày 12/6/2023, Công văn số 288/BC-UBND ngày 09/9/2024
của Ủy ban nhân dân phường L đều thể hiện diện tích đất tranh chấp thuộc một
phần thửa số 98, tờ bản đồ địa chính số 51 đo đạc năm 1997 tại Sổ mục kê địa
chính ghi tên ông Nguyễn Đ, trên bản đồ địa chính không thể hiện có mương
thoát nước tại vị trí đất tranh chấp hiện nay. Năm 2002 hộ ông Lộc Văn T cũng
đã được UBND thị xã Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên hồ
sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 97 ghi tiếp giáp đất
ông Nguyễn Văn C (là bố bà Nguyễn Thị T), không ghi tiếp giáp mương thoát
nước chung. Năm 2013, gia đình bà Nguyễn Thị T xin kê khai cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nhận chuyển nhượng với bà Nguyễn
Thị L và ông Ngô Văn Đ, tại biên bản xác định ranh giới mốc giới khu đất xác
định thửa đất bà Nguyễn Thị T xin kê khai là thửa 98 thể hiện các chủ đất tiếp
giáp: Phía Nam giáp thửa đất số 97 của gia đình ông Lộc Văn T, ông Lộc Văn T
đã ký xác nhận ranh giới, tại biên bản này thể hiện thửa 98 tiếp giáp trực tiếp
thửa đất 97, không hề có khoảng đất trống, không có mương thoát nước chung
giữa thửa 97 và thửa 98.
Bên cạnh đó, sau khi nhận chuyển nhượng với ông Vi Văn C, đất của bà
Trần Thị M được phân chia nằm ở trong cùng và tiếp giáp với phần đất của ông
Lộc Văn T, một bên đất vát nhọn, hình thể xấu hơn các thửa khác, đất ngắn
không có chiều sâu; trên đất bà Trần Thị M đã xây dựng một căn nhà nhỏ; ngày
13/4/1996, bà Trần Thị M chuyển nhượng nhà đất cho ông Ngô Văn Đ và bà
Nguyễn Thị L, trong giấy chuyển nhượng nhà và đất vườn ghi rõ "phía nam giáp
nhà vợ chồng anh T dài 22,5m" không hề ghi giáp mương thoát nước chung, anh
Lộc Sơn T không có tài liệu chứng cứ chứng minh 05 hộ gia đình mua đất với
ông Vi Văn C đã thỏa thuận diện tích đất tranh chấp hiện nay làm mương thoát
nước chung, anh Lộc Sơn T, bà Hoàng Thị Đ nộp cho Tòa án các tài liệu là giấy
xác nhận của bà Đặng Thị V, bà Trần Thị M, bà Hoàng Thị K, ông Nguyễn Văn
C, ông Lê Văn C, bà Lý Thị H nhưng lời khai không thống nhất, có lời khai thì
nói diện tích đất đang tranh chấp là vị trí 05 hộ gia đình trước kia thỏa thuận để
làm mương thoát nước chung, có lời khai thể hiện không rõ thỏa thuận vị trí nào,
có lời khai thể hiện là bà Trần Thị M có trách nhiệm khơi và làm cống tại vị trí
đất đường mòn trước thửa đất của bà Trần Thị M, nội dung xác nhận của các
ông bà trên dựa theo ý kiến của anh Lộc Sơn T, bà Hoàng Thị Đ; trên hồ sơ địa
chính qua các thời kỳ từ trước đến nay không thể hiện có mương thoát nước tại
vị trí đất mà anh Lộc Sơn T yêu cầu. Đồng thời thấy rằng, các nhân chứng ông
Lê Văn C, bà Đặng Thị V, Trần Thị M đều là những người đã cùng công tác với
7
gia đình ông Lộc Văn T; cùng nhận chuyển nhượng đất với ông Lộc Văn T do
đó giữa họ cũng có mối quan hệ thân thiết với gia đình ông Lộc Văn T, họ xác
nhận và nói giúp cho nguyên đơn về việc thỏa thuận miệng để đất làm mương
này. Ngoài lời trình bày thì không có căn cứ nào khác, do đó không thể căn cứ
vào lời khai của các nhân chứng này để xác định diện tích đất tranh chấp là
mương thoát nước chung.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn được quyền quản lý sử dụng diện tích
4,2m
2
trên đất có một phần công trình chuồng gà thuộc một phần thửa đất số 98,
tờ bản đồ số 51 phường L, gia đình ông Lộc Văn T đã đăng ký kê khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 51 từ ngày 18/11/2002; năm 2018 ông
Lộc Văn T chết, đến ngày 30/6/2022, anh Lộc Sơn T được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích
hình thể như cũ là thửa đất số 97; như vậy về pháp lý, gia đình anh Lộc Sơn T
chỉ được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất của thửa đất số 97; nay anh Lộc
Sơn T yêu cầu quản lý, sử dụng diện tích 4,2m
2
đất thuộc thửa đất 98 là không
có căn cứ, đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lộc Sơn
T.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T đã có yêu cầu phản tố
đề nghị Tòa án giải quyết: Công nhận cho bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý
sử dụng toàn bộ đất tranh chấp gồm diện tích 23,2m
2
đất (rộng 1m, dài khoảng
23,2m) và diện tích 4,65m
2
(rộng 1,33m, dài khoảng 3,5m) thuộc một phần thửa
đất số 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C), tỉnh Lạng Sơn.
Nay, Tòa án đã đo đạc cụ thể diện tích đất tranh chấp mà các bên đã xác
định tại hiện trường, cụ thể bà Nguyễn Thị T yêu cầu phản tố: Yêu cầu được
quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) gồm
các đỉnh điểm A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 và được quản lý, sử
dụng diện tích chuồng gà 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3) ký hiệu A5, A6, A7, A8
thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng
Sơn), yêu cầu gia đình anh Lộc Sơn T phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
chuồng gà và chấm dứt hành vi tranh chấp. Phần diện tích 1,4m
2
(thửa tạm là
99.1) là của nhà bà Lý Thị H, do anh Lộc Sơn T và bà Lý Thị H tự thỏa thuận,
bà Nguyễn Thị T không có ý kiến và không yêu cầu giải quyết diện tích đất này.
Bà Nguyễn Thị T tự nguyện để lại diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm
98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51 phường L (nay là phường
C, tỉnh Lạng Sơn) để làm cống thoát nước mưa tự nhiên cho các hộ xung quanh
và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu 88cm, cao tối thiểu 1 m, kéo
dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa bà Nguyễn Thị T với bà Nguyễn
Thị L, ông Ngô Văn Đ và giữa Nguyễn Thị L, ông Ngô Văn Đ với bà Trần Thị
M bà Nguyễn Thị T không có ý kiến, yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M trình bày: Năm
1994, 05 người gồm Mã Duy H, Đặng Thị V, Lê Văn C, Lộc Văn T (vợ là bà
8
Hoàng Thị Đ) và bà có mua đất của ông Vi Văn C, người đại diện mua đất là
ông Lê Văn C, thời điểm đó chỉ là mua bán viết tay, không nhớ giá cụ thể,
không đo đạc, sau khi mua xong, 05 hộ tự cắm cọc phân chia đất cho nhau trên
thực tế, không đo đạc cụ thể. Gia đình ông Mã Duy H lấy phần diện tích ở đầu
nên rộng hơn và nhà ông Mã Duy H phải có trách nhiệm bỏ một phần diện tích
làm mương để thoát nước chung cho các hộ gia đình vì thời điểm đó nước trên
đồi xuống rất nhiều. Đối với phần đất bà được nhận là ở cuối thửa đất, một bên
vát, hình thể xấu hơn, diện tích rộng hơn, sau khi nhận chuyển nhượng bà đã xây
nhà bếp để đồ sau đó do chuyển công tác nên đã bán lại cho bà Nguyễn Thị L và
ông Ngô Văn Đ năm 1996. Do diện tích rộng hơn nên bà có trách nhiệm làm
rãnh thoát nước có chiều rộng khoảng 1 mét, chiều dài đi qua thửa đất của bà từ
đằng sau ra đằng trước tuy nhiên không nói cụ thể, vị trí ở đâu, không bắt buộc
để rãnh nước giáp đất nhà ông Lộc Văn T (bố của anh Lộc Sơn T). Khi bà nhận
đất cũng như bán cho bà Nguyễn Thị L (em gái bà Nguyễn Thị T), bà đã bàn
giao toàn bộ hiện trạng chứ không đo đạc, cũng không nói lại việc thỏa thuận
rãnh nước cho bà Nguyễn Thị L biết. Bà đã xem trích đo khu đất tranh chấp, bà
khẳng định diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự là đất của bà, không phải
là diện tích đất làm rãnh mương cho các hộ gia đình. Bà từ chối tham gia tố tụng
và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Toà án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn Đ và bà Nguyễn Thị
L trình bày: Ngày 13/4/1996, vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng mảnh đất
vườn với bà Trần Thị M, hai bên giao nhận mốc giới trên thực địa, không đo đạc
cụ thể, chỉ làm giấy tờ viết tay, có một căn nhà, một giếng nước và đất vườn
bằng phẳng, phía Nam giáp đất của gia đình ông Lộc Văn T không hề có cống
rãnh và bà Trần Thị M cũng không hề nói có thỏa thuận mương thoát nước trên
đất chuyển nhượng. Đến ngày 3/8/1997, ông bà chuyển nhượng toàn bộ thửa
đất, nhà, giếng cho vợ chồng ông Trần Quang B và bà Nguyễn Thị T. Ông bà
cũng giao trên thực địa cho vợ chồng ông Trần Quang B, bà Nguyễn Thị T toàn
bộ khu đất giáp nhà ông Lộc Văn T không hề có cống rãnh vì thửa đất bằng
phẳng, không đo đạc cụ thể. Đồng thời ông, bà cũng giao lại cho bà Nguyễn Thị
T 01 giấy chuyển nhượng nhà và đất vườn viết tay của bà Trần Thị M, 01 giấy
chuyển nhượng nhà, đất vườn của ông Vi Văn C có đóng dấu của UBND xã Q,
thị xã Lạng Sơn. Bà Nguyễn Thị L khẳng định không có rãnh nước nào trên
mảnh đất của bà Trần Thị M chuyển nhượng cho vợ chồng bà, chỉ có rãnh nước
chảy vào mùa mưa là ở trên đường phía trước mảnh đất của bà đã mua với bà
Trần Thị M, sau khi bán lại cho bà Nguyễn Thị T thì cả xóm đã đóng tiền để làm
cống chung trên mặt đường trước thửa đất của bà Nguyễn Thị T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh
Lạng Sơn trình bày: Ủy ban nhân dân phường C là đơn vị quản lý hành chính
cấp xã, trong đó có khối T II. Đất tranh chấp giữa các đương sự thuộc một phần
của thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, loại đất ở đô thị, thuộc bản đồ địa chính
phường L nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ai, đất đang tranh chấp theo quy hoạch kế hoạch sử dụng
đất là đất thổ cư có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ
9
điều kiện theo quy định Luật Đất đai. Uỷ ban nhân dân phường chỉ quản lý về
mặt hành chính, việc tranh chấp của các đương sự đang được Tòa án giải quyết
theo quy định nên không có ý kiến gì.
Người làm chứng bà Đặng Thị V trình bày: Năm 1994, 05 người đại diện
cho 05 gia đình gồm Mã Duy H, Lê Văn C, Đặng Thị V, Lộc Văn T, Trần Thị
M có mua đất của ông Vi Văn C, thời điểm đó chỉ là mua bán viết tay, không
nhớ giá cụ thể, không đo đạc, sau khi mua tự cắm đất chia trên thực tế. Thứ tự
các mảnh đất như sau: Đất của ông Mã Duy H đến đất của ông Lê Văn C, đến
đất của Đặng Thị V, đến đất của ông Lộc Văn T (con trai là Lộc Sơn T) và cuối
cùng là đất của bà Trần Thị M. Do phía đằng sau mảnh đất của ông Vi Văn C
bán cho các hộ là đất đồi, hai bên là đất ruộng nên mùa mưa đến là nước ở trên
khe hay tràn xuống nên các ông bà đã có thoả thuận đất của ông Mã Duy H và
đất của bà Trần Thị M được diện tích rộng hơn thì phải để một phần diện tích để
làm rãnh thoát nước, diện tích đất của những người ở phía trong là ông Lê Văn
C, Đặng Thị V, Lộc Văn T nhỏ hơn thì không phải để. Thỏa thuận rãnh thoát
nước có chiều rộng 1 mét, chiều dài kéo dài theo thửa đất từ đằng sau ra đằng
trước. Diện tích làm rãnh thoát nước này không thuộc quyền quản lý, sử dụng
của ai, không được cấp cho ai mà phải để sử dụng chung. Thoả thuận này khi đó
chỉ nói bằng miệng chứ không lập thành văn bản. Sau khi được chia đất bà Đặng
Thị V không xây dựng công trình gì đến khoảng năm 2015 bà đã chuyển
nhượng cho người khác. Tại phần diện tích đất của bà Trần Thị M, vị trí rãnh
thoát nước ở đâu do đã lâu nên bà không nhớ, thoả thuận rãnh thoát nước chỉ để
thoát nước mưa chứ không thể để thải nước sinh hoạt của gia đình nào.
Người làm chứng ông Lê Văn C trình bày: Năm 1994, do có nhu cầu về
chỗ ở nên 05 hộ gia đình gồm: Mã Duy H, Lê Văn C, Đặng Thị V, Lộc Văn T,
Trần Thị M khi đó đều cùng công tác tại Bệnh xá Công an tỉnh Lạng Sơn đã bàn
bạc và cử ông là người đi trực tiếp giao dịch mua đất của ông Vi Văn C, ông Mã
Duy H là người viết giấy chuyển nhượng đó, do đã lâu nên không nhớ cụ thể giá
tiền mua, khi mua không đo đạc cụ thể, hình thù thửa đất như hình thang, vót
nhọn ở đầu cuối chỗ nhà Trần Thị M. Sau khi mua xong, các hộ thỏa thuận
miệng và thực hiện cắm đất phân chia trên thực địa, không đo đạc, thứ tự phân
chia mảnh đất như lời trình bày của bà Đặng Thị V, đất ông Mã Duy H ở đầu
thửa đất, đất bà Trần Thị M ở cuối thửa đất. Trên phần đất của ông Mã Duy H
đã làm mương thoát nước, còn đất của bà Trần Thị M thì phải làm mương thoát
nước để thông ra cống trước đất của bà Trần Thị M. Hệ thống thoát nước trước
đây các hộ thoả thuận phải có chiều rộng 1 mét, chiều dài kéo dài theo thửa đất
của bà Trần Thị M, chỉ thoả thuận bằng miệng, không ghi biên bản, vị trí làm
rãnh nước không nói rõ là ở vị trí nào và sau này vị trí làm rãnh thoát nước phải
để sử dụng chung không thuộc quyền sử dụng đất của ai. Diện tích đất của ông
Mã Duy H và bà Trần Thị M được rộng hơn đất của các hộ khác khoảng hơn
100m
2
để có trách nhiệm bỏ một phần diện tích đất làm rãnh thoát nước, đất của
ông Mã Duy H rộng nhất, sau đó đến đất bà Trần Thị M, còn các thửa đất trong
thì diện tích sàn sàn như nhau khoảng 80 – 90m
2
. Sau khi mua năm 1994, đến
năm 1995 ông đã bán đất cho ông Mã Duy H, ông chưa xây dựng tài sản gì trên
10
đất. Thời điểm đó thoả thuận làm mương nước trên đất nhà bà Trần Thị M phải
làm ở vị trí hợp lý để nước trên đồi thoát xuống. Việc ông Lộc Văn T sau đó có
ký xác nhận ranh giới để bà Nguyễn Thị T kê khai cấp đất như thế nào ông
không nắm được, ông khẳng định việc các hộ khi mua đất có thỏa thuận để đất
làm mương thoát nước tại hai đầu mảnh đất là có thực, tuy nhiên quá trình mua
bán và xác định ranh giới giữa các chủ đất cũ và mới không rõ ràng dẫn đến
tranh chấp, ông đề nghị các bên xem xét hài hòa lợi ích.
Người làm chứng ông Mã Duy H trình bày: Về việc mua bán đất, phân
chia đất, thứ tự phân chia đất của ông Vi Văn C cho 05 gia đình đúng như ông
Lê Văn C, bà Đặng Thị V, bà Trần Thị M trình bày, số tiền các bên góp mua đất
đã lâu ông không nhớ, tại giấy chuyển nhượng đất vườn ngày 06/3/1994 có xác
nhận của Ủy ban nhân dân xã Q là chữ viết của ông, trên giấy có ghi giá chuyển
nhượng cả thửa đất là 3.500.000 đồng. Khi cắm cọc phân chia đất trên thực địa,
phần đất của ông được chia phần nhiều hơn, chiều rộng lớn hơn, vuông vắn hơn,
tổng diện tích khoảng hơn 500m
2
nên phải có trách nhiệm làm cống và mương
để thoát nước trong khe đồi đằng sau đi ra chống ngập úng cho các hộ mua
chung mảnh đất này, do đất rộng nên sau đó ông Ca cho anh trai là Mã Đình T
và chị Vy Thị N một mảnh để làm nhà. Do ông là người mua từ đầu và cũng là
người làm nhà ngay sau khi mua và ở luôn nên ông rất rõ thửa đất khi mua
không có một rãnh mương nào chảy qua thửa đất vì đất đó liền thửa, to, bằng
phẳng, đất không lún, nên không có rãnh mương nào kể từ khi ông Vi Văn C
còn canh tác cũng như lúc các hộ mua. Ông khẳng định không có mương, rãnh
nước nào bên cạnh mảnh đất bà Trần Thị M, chỉ có một rãnh nước nhỏ được
khơi qua đường mà đi vào nhà ông Cừ phía trước đất bà Trần Thị M nhưng rãnh
đó nằm ngoài diện tích của thửa đất các hộ mua. Không có việc thỏa thuận để
mương, rãnh thoát nước qua đất nhà bà Trần Thị M mà chỉ thỏa thuận có mương
nước qua đất nhà ông Mã Duy H và thực tế nhà ông đã làm để thoát nước phía
ngoài từ thời điểm thỏa thuận. Diện tích mương thoát nước này trước đây nằm
trong bìa đỏ gia đình ông, sau khi kê cấp lại đã trừ ra không nằm trong bìa đỏ
của gia đình ông nữa. Ông đã thực hiện làm mương thoát nước xây kiên cố từ
năm 1995 rộng và cao khoảng 01 mét, dài theo chiều dài đất và cũng làm cống
đi qua đường mòn phía trước để thoát nước xuống phía dưới. Ngày 03/8/1995
ông Mã Duy H mua lại đất của ông Lê Văn C, sau đó năm 2001 ông đã bán lại
cho Phạm Huy T và đã ông Phạm Huy T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa số 4, tờ bản đồ số 61, bản đồ địa chính phường L (nay là
phường C) với diện tích 114,7m
2
, đất ở đô thị ngày 21/8/2008. Hiện nay toàn bộ
diện tích đất của ông đã bán lại cho nhiều chủ mới ông không nhớ là ai.
Người làm chứng bà Lý Thị H trình bày: Năm 1994, ông Vi Văn C (Vi
Văn C là chú ruột của chồng bà Lý Thị H) đã bán thửa đất ruộng (khi có nước
thì làm ruộng, không có nước thì làm vườn) cho 05 hộ gia đình như đã nêu trên,
việc mua bán như nào do các bên thoả thuận bà không biết. Ông Vi Văn C sau
khi bán đất đã chuyển cả gia đình vào miền Nam sinh sống, hiện nay hai vợ
chồng ông Vi Văn C đều đã chết. Thửa đất số 99 tờ bản đồ 51 phường L, thành
phố Lạng Sơn vợ chồng bà mua lại của bà Lâm Thị M trú tại thôn Q, xã Q. Sau
11
khi mua đất gia đình bà trồng ngô, trồng rau lang, trồng đào. Bà đã được xem
trực tiếp trích đo khu đất tranh chấp, đối với diện tích trên trích đo ghi thửa tạm
99.1 diện tích 1,4m
2
hiện nay gia đình anh Lộc Sơn T đã xây chuồng gà lấn sang
đất của bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi xây nhà bà
không biết, do diện tích đất nhỏ nên bà không có ý kiến yêu cầu gì, bà không
tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nếu có yêu cầu sẽ khởi
kiện bằng vụ án khác. Về nguồn gốc chuồng gà của nhà anh Lộc Sơn T, trước
đây là hố phân nhà anh Lộc Sơn T làm khoảng năm 1999, 2000 vì bà mua đất
với bà Mòn năm 1997, sau đó 02 năm gia đình anh Lộc Sơn T mới nuôi lợn và
làm hố phân và sau này xây chuồng gà như hiện nay. Về mảnh đất ông Vi Văn C
bán cho 05 hộ gia đình nguyên là đất thửa ruộng, khi còn ruộng thì nước chảy tự
nhiên từ cao xuống thấp, nước chảy tràn ruộng để chảy xuống dưới, giữa thửa
ruộng không có đường nước chảy vòng quanh, trên đất không có nhà hay công
trình gì. Sau khi các hộ mua đất chia nhau thì nhà bà Trần Thị M mới xây nhà
nhưng chưa về ở, sau đó bà Trần Thị M bán cho nhà bà Nguyễn Thị L và cuối
cùng bà Nguyễn Thị L bán cho bà Nguyễn Thị T như hiện nay. Về việc thoả
thuận mương nước như thế nào bà không biết được cụ thể, sau này chỉ nghe các
bên nói qua nói lại là để mương nước hai bên, còn vị trí như nào bà không biết
cụ thể. Hiện trạng, trước đất tranh chấp hiện nay đang có đường cống chờ nước
do các nhà nộp tiền để mua cống đặt vào, cống chạy qua đường xuống khu đất
dưới, theo bà nếu được thì bà Nguyễn Thị T để rãnh để nước mưa tự nhiên chảy,
thoát nước vì mùa mưa nước rất to, mục đích chỉ để thoát nước mưa không phải
để các hộ gia đình để nước thải sinh hoạt, nước bể phốt. Nay anh Lộc Sơn T
khởi kiện, bà Nguyễn Thị T phản tố bà không có ý kiến gì.
Người làm chứng ông Nguyễn An S trình bày: Ông là người bản địa ở
đây. Ngày trước, các hộ gia đình mua đất của ông Vi Văn C là đất ruộng, còn
toàn bộ đất đồi đằng sau là đất của ông. Ông có cho gia đình ông Lộc Văn T
(con trai Lộc Sơn T) một diện tích đất nhưng đất ông cho là đất đồi chứ không
phải cho đất ruộng, phần diện tích đất chuồng gà hiện nay không phải là đất của
ông. Do ông bận công việc nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông tại các
giai đoạn tố tụng của Toà án, ông từ chối tham gia tố tụng.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc ngày 07/3/2025 xác định
diện tích đất tranh chấp là 25,28m
2
(trong đó có diện tích 17,08m
2
được ký hiệu
thửa tạm là 98.1; diện tích 4,0m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.2 và diện tích
4,2m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.3) thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ
số 51, bản đồ địa chính phường L (nay là phường C), tỉnh Lạng Sơn gồm các
điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8,A9, A10, A11, A12 có các cạnh tiếp giáp
như sau: Phía Bắc giáp đường hiện trạng; phía Nam giáp thửa đất 97; phía Đông
giáp thửa đất 99; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh. Trên đất có 01 chuồng trại
chăn nuôi (chuồng gà) xây năm 2018 và 01 đoạn kè xây gạch ba banh năm
2021.
Biên bản định giá ngày 07/3/2025, Hội đồng định giá xác định: Quyền sử
dụng đất đang tranh chấp có giá trị là 5.000.000đ/m
2
x 25,28 m
2
= 126.400.000
12
đồng. Giá trị tài sản trên đất: 01 chuồng gà có giá 1.431.360 đồng + 01 đoạn kè
gạch ba banh có giá 312.480 đồng =1.743.840 đồng. Tổng giá trị đất và tài sản
trên đất 128.143.840 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Lạng Sơn đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lộc Sơn T
và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T, không chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu phản tố bị đơn, cụ
thể:
1.1. Nguyên đơn anh Lộc Sơn T được quyền quản lý, sử dụng diện tích
đất tranh chấp là 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3) vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8 thuộc
một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997
nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn, có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp
thửa 98.2 có kích thước cạnh 1.13m; phía Nam giáp thửa đất 103 có kích thước
cạnh 1,34m; phía Đông giáp thửa đất 99 có kích thước cạnh 3,45m; phía Tây
giáp thửa 97 có kích thước cạnh 3,38m và công trình trên đất là chuồng gà có
diện tích 4,2m
2
, vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật anh Lộc Sơn T có quyền và nghĩa vụ
thực hiện quyền, nghĩa của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
1.2. Bị đơn bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất
tranh chấp là 21,08m
2
(trong đó có diện tích 17,08m
2
được ký hiệu thửa tạm là
98.1 và 4,0m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.2) thuộc một phần thửa đất số 98, tờ
bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng
Sơn có vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, P1, A4, A5, A8, A9, A10, P2, A11, A12.
Thửa đất trên có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp một phần thửa 98 có
kích thước cạnh 20,06m + 1,12m + 2,61m; phía Nam giáp thửa đất 97 có kích
thước cạnh 20,05m + 0.10m + 1,07m + 0,70m +1,69m; phía Đông giáp thửa đất
103 có kích thước cạnh 1,13m; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh có kích thước
cạnh 0,88m và được quyền sở hữu 01 đoạn kè xây gạch ba banh có diện tích
0,6m2, vị trí đỉnh thửa A3, P1, P2, A11, A12 trên diện tích đất 21,08m
2
nêu trên.
Ghi nhận tự nguyện của bị đơn bà Nguyễn Thị T đối với diện tích đất
21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa đất 98, tờ bản đồ số 51
phường L nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn để làm mương thoát nước mưa tự
nhiên cho các hộ xung quanh và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu
88cm, cao tối thiểu 1m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ
thực hiện quyền, nghĩa của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
(Có phụ lục trích đo kèm theo bản án)
1.3. Buộc nguyên đơn anh Lộc Sơn T, bị đơn bà Nguyễn Thị T và và
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tuấn H,
ông Trần Quang B chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
13
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, chi
phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, nguyên đơn anh Lộc Sơn T có đơn kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 – Lạng Sơn, đề nghị sửa bản án theo hướng công nhận có đường
mương thoát nước chung cho các hộ, trong đó có hộ gia đình nguyên đơn với
diện tích là 21,08m
2
, đề nghị bị đơn bà Nguyễn Thị T chấm dứt các hành vi làm
thay đổi hiện trạng đường mương thoát nước trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn anh Lộc Sơn T: Rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
diện tích 4,2m
2
và tài sản trên đất (thửa tạm là 98.3) có vị trí đỉnh thửa A5, A6,
A7, A8 thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường
L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn. Việc xin rút một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn được bị đơn nhất trí. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu
cầu nội dung kháng cáo đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm: Công nhận diện tích
là 21,08m
2
là đường mương thoát nước chung cho các hộ, trong đó có hộ gia
đình nguyên đơn.
Bị đơn có yêu cầu phản tố bà Nguyễn Thị T xin rút một phần yêu cầu đối
với diện tích 4,2m
2
cùng tài sản trên đất (thửa tạm là 98.3) và được nguyên đơn
nhất trí; đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T không
chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn. Bị đơn yêu cầu được quản lý, sử
dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2). Bị đơn tự nguyện
để lại diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
làm cống thoát nước mưa tự nhiên chung
cho các hộ xung quanh và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu 88cm,
cao tối thiểu 1 m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tấn
Hưng đều nhất trí việc xin rút một một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
và bị đơn có yêu cầu phản tố xin rút một phần yêu cầu đối với diện tích 4,2m
2
(thửa tạm là 98.3) và tài sản trên đất; nhất trí với nội dung kháng cáo của nguyên
đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Nguyên đơn xin rút
một phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố đối với
diện tích 4,2m
2
và tài sản trên đất (thửa tạm là 98.3) vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7,
A8 thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L
năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn. Bị đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu
được quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2).
Bà Nguyễn Thị T tự nguyện để diện tích đất tranh chấp 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 +
98.2) thuộc một phần thửa đất 98, tờ bản đồ số 51 phường L nay là phường C, tỉnh
Lạng Sơn để làm mương thoát nước mưa tự nhiên chung cho các hộ xung quanh và
có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu 88cm, cao tối thiểu 1m, kéo dài từ
điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5; đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

14
Ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa; Hội đồng xét xử và Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phúc thẩm
thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về việc kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn theo quy
định Điều 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số:
04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lạng Sơn.
Về nội dung: Về nguồn gốc đất tranh chấp các đương sự trình bày thuộc
thửa đất 98 tờ bản đồ số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là
phường C, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình quản lý sử dụng đất diện tích đất tranh chấp
21,08m
2
thuộc một phần thửa đất số 98 (98.1 + 98.2) nguyên đơn cho rằng là
diện tích trước đây các hộ thỏa thuận là mương thoát nước chung. Ngoài lời
trình bày nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Lời khai bà Đặng
Thị V, ông Lê Văn C, bà Trần Thị M là những người cùng mua đất với bố
nguyên đơn năm 1994 khẳng định khi mua các hộ gia đình thỏa thuận rãnh thoát
nước chung có chiều rộng 1m, chiều dài kéo theo thửa đất từ đằng sau ra đằng
trước để thoát nước trên đồi chảy xuống tuy nhiên không nhớ rõ vị trí thỏa thuận
làm mương thoát nước do những người này đều đã chuyển nhượng đất cho
người khác. Các tài liệu địa chính qua các thời kỳ không thể hiện giữa thửa đất
số 97 và thửa đất số 98 có đường mương thoát nước. Vì vậy, không có căn cứ
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận diện tích 21,08m
2
thuộc
một phần thửa đất số 98 là đường mương thoát nước chung.
Tuy nhiên, tại thực địa thể hiện giữa thửa 97 và 98 có đường rãnh thoát
nước tự nhiên, nối liền với đường thoát nước bao quanh thửa đất của bà Lý Thị
H ở phía sau có địa hình cao hơn đất của gia đình nguyên đơn, bị đơn. Tại điểm
A1-A2 trên bản trích đo là phần đất giáp mặt đường ngõ bê tông có cống chờ,
đảm bảo cho việc thoát nước khi cần thiết. Tại cấp sơ thẩm, cũng như tại phiên
tòa phúc thẩm bị đơn tự nguyện để diện tích đất tranh chấp này để làm mương
thoát nước mưa tự nhiên chung và có trách nhiệm xây cống bê tông diện tích
rộng tối thiểu 88cm, cao tối thiểu 1m. Xét thấy việc bị đơn để diện tích đất này
là mương nước thoát nước tự nhiên chung là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất,
phù hợp với địa hình khu đất, gia đình bị đơn đã đổ đất, xây tường bao quanh
diện tích đất bị đơn quản lý sử dụng nhưng phần diện tích 21,08m
2
vẫn đang là
khe thấp, không san lấp. Vì vậy, để đảm bảo cho mục đích sử dụng, việc giao
diện tích đất nêu trên cho bị đơn là phù hợp. Cần sửa bản án sơ thẩm theo
hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được quản lý sử
dụng diện tích đất 21,08m2; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn được quản lý
sử dụng diện tích đất 21,08m2 thuộc một phần thửa đất số 98 tờ bản đồ số 51
bản đồ địa chính phường L (nay là phường C).
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn đối với diện tích đất trên để làm mương
thoát nước mưa tự nhiên chung và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối

15
thiểu 88cm, cao tối thiểu 1m kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5
theo sơ đồ trích đo kèm theo hồ sơ vụ án.
Đối với diện tích 4,2m
2
và tài sản trên đất (thửa tạm là 98.3): Tại phiên
tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn xin rút
một phần yêu cầu phản tố đối với diện tích 4,2m
2
và tài sản trên đất (thửa tạm là
98.3) vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8 thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ
số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải
quyết đối với phần một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần yêu
cầu phản tố của bị đơn đối với diện tích nêu trên.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn có sai sót, cần sửa bản án sơ thẩm theo
hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được quản lý sử
dụng diện tích đất 21,08m
2
; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn được quản lý
sử dụng diện tích đất 21,08m
2
thuộc một phần thửa đất số 98 tờ bản đồ số 51
bản đồ địa chính phường L (nay là phường C). Ghi nhận sự tự nguyện của bị
đơn đối với diện tích đất trên để làm mương thoát nước mưa tự nhiên chung và
có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu 88cm, cao tối thiểu 1m kéo dài từ
điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5 theo sơ đồ trích đo kèm theo hồ sơ vụ
án.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Lộc Sơn T; sửa Bản án dân sự
sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1-
Lạng Sơn về các nội dung nêu trên.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản, đo
đạc: Nguyên đơn phải chịu tương ứng với yêu cầu khởi kiện không được chấp
nhận diện tích 21,08m
2
tương ứng số tiền
là 13.060.000 đồng; nguyên đơn và bị
đơn phải chịu đối với diện tích đã rút yêu cầu tương ứng số tiền 2.602.000 đồng,
mỗi người phải chịu ½ số tiền 1.301.000 đồng. Anh Lộc Sơn T đã nộp tạm ứng
để chi phí, bị đơn bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả lại cho anh Lộc Sơn T số tiền
1.301.000 đồng.
Về án phí phúc thẩm: Do sửa Bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật
định luật định, hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
tuy nhiên một số người đã có đơn xin xét xử vắng mặt, một số người vắng mặt
nhưng có người đại diện theo ủy quyền, một số người vắng nhưng đã được tống
đạt hợp lệ; căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến
16
hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy
định.
[3] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Lộc Sơn T, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[4] Theo kết quả xem xét thẩm định ngày 07/3/2025, xác định: Đất tranh
chấp có diện tích 25,28m
2
(trong đó có diện tích 17,08m
2
được ký hiệu thửa tạm
là 98.1 và diện tích 4,0m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.2; diện tích 4,2m
2
được
ký hiệu thửa tạm là 98.3) thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51, bản đồ
địa chính phường L (nay là phường C), tỉnh Lạng Sơn; thể hiện trên mảnh trích
đo có các điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12 có các
cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp đường hiện trạng; phía Nam giáp thửa đất
97; phía Đông giáp thửa đất 99; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh. Trên đất có
01 chuồng trại chăn nuôi (chuồng gà) xây năm 2018 và 01 đoạn kè xây gạch ba
banh năm 2021.
[5] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Năm 1994, ông Lê Văn C thay mặt 05
hộ gia đình gồm ông Mã Duy H, ông Lộc Văn T, bà Đặng Thị V, bà Trần Thị
M, ông Lê Văn C đứng ra nói chuyện mua thửa đất với ông Vi Văn C. Khi mua
có viết giấy mua bán viết tay đề "Giấy chuyển nhượng đất vườn" do ông Mã
Duy H viết ngày 06/3/1994, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Q ngày
07/5/1994. Năm hộ gia đình cùng nhau góp tiền mua, cụ thể mỗi người góp bao
nhiêu tiền không rõ, giá mua mảnh đất 3.500.000 đồng, khi mua không đo đạc
thực tế. Sau khi mua xong, 05 hộ gia đình đã tự bàn bạc cắm cọc phân chia đất
cho nhau thành 05 mảnh, việc phân chia chỉ ước lượng, không đo đạc cụ thể.
Thứ tự các mảnh đất phân chia như sau: Đầu tiên là đất của ông Mã Duy H, sau
đó đến đất ông Lê Văn C, bà Đặng Thị V, ông Lộc Văn T (nay chủ đất là anh
Lộc Sơn T) và cuối cùng là đất của bà Trần Thị M (nay chủ đất là bà Nguyễn
Thị T).
[6] Nguyên đơn cho rằng các hộ gia đình thỏa thuận thửa đất của ông Mã
Duy H và đất bà Trần Thị M sẽ được diện tích rộng hơn các thửa đất còn lại nên
hai người này sẽ có trách nhiệm làm mương thoát nước mưa tự nhiên, sử dụng
chung cho các hộ và mương thoát nước phải có chiều rộng 1m, chiều dài kéo từ
đằng sau ra đằng trước thửa đất, việc thỏa thuận này chỉ nói bằng miệng, không
lập thành biên bản. Phía gia đình của ông Mã Duy H đã làm mương thoát nước,
còn phía đất nhà bà Trần Thị M thì chưa làm mương thoát nước chung cho các
hộ gia đình như đã thỏa thuận trước đó, vị trí làm mương thoát nước được xác
định là nằm sát tường rào của gia đình nguyên đơn có diện tích 21,08m
2
.
[7] Tại Đơn xác nhận của ông Lê Văn C ngày 16/9/2024 (bút lục 15); bà
Trần Thị M ngày 19/9/2024 (bút lục 20) do phía nguyên đơn giao nộp tài liệu
chứng cứ cho Tòa án đều có chung nội dung: "Thời điểm đó các hộ sau khi mua
đất của ông Vi Văn C đã có thỏa thuận với nhau rằng hai bên đất của người
được chia nhiều hơn sẽ phải để ra một phần đất làm mương thoát nước vào mùa
mưa… phần đất của bà M phần mương thoát nước sẽ là ở sát tường rào nhà ông
Lộc Văn T và nằm trên đất của bà M".
17
[8] Tại biên bản lấy lời khai ông Lê Văn C (bút lục 328), bà Trần Thị M
(bút lục 324) lại đều khẳng định sau khi phân chia đất, các hộ gia đình thỏa
thuận bằng miệng đất của hộ gia đình ông Mã Duy H và bà Trần Thị M được
diện tích rộng hơn thì phải có trách nhiệm làm mương thoát nước cho các hộ gia
đình sử dụng chung, tuy nhiên không nói rõ cụ thể là ở vị trí nào nhưng rõ ràng
có việc các bên có thỏa thuận để mương nước chung của các hộ.
[9] Tại lời khai của bà Đặng Thị V, Hoàng Thị K, Lý Thị H, Nguyễn Văn
C (bút lục 16-19) lại thể hiện "từ năm 1996 đã luôn tồn tại một rãnh nước chung,
sau này tôn tạo lên thành cống thoát nước vào mùa mưa lũ". Tại bản tự khai
ngày 05/5/2025 bà Đặng Thị V lại khai "sau khi thống nhất mua mảnh đất thì
chia làm 05 xuất, ai lấy mảnh bên cạnh phải để ra 1 mét làm cống chung, bên bà
Trần Thị M thì phải để sát nhà anh Lộc Sơn T vì từ xưa đã có 2 mương rãnh
nước thoát rồi". Tại biên bản lấy lời khai cùng ngày bà Đặng Thị V lại trình bày
"tại phần diện tích đất h, vị trí rãnh thoát nước ở đâu do đã lâu nên tôi không
nhớ".
[10] Lời khai của ông Mã Duy H lại thể hiện nội dung do bà Trần Thị M
nhận thửa đất diện tích bé hơn của ông, tuy lớn hơn các hộ còn lại nhưng là
mảnh cuối thửa không có chiều sâu, có cạnh vát nhọn, xấu hơn, các thửa còn lại
thì vuông vắn nên bà Trần Thị M chỉ phải làm đường thoát nước qua đường vào
nhà ông Cừ chứ không phải làm mương thoát nước qua đất bà Trần Thị M.
Như vậy, lời khai những người cùng mua đất với bố nguyên đơn năm
1994 khi mua các hộ gia đình có việc thỏa thuận làm rãnh thoát nước có chiều
rộng 1m, chiều dài kéo theo thửa đất từ đằng sau ra đằng trước để thoát nước
trên đồi chảy xuống tuy nhiên không nhớ rõ vị trí thỏa thuận làm mương thoát
nước do những người này đều đã chuyển nhượng đất cho người khác, do sự việc
đã lâu và các hộ mua đất cũng đã không còn sinh sống ở đó.
[11] Tại Công văn số 288/UBND ngày 09/9/2024 của Uỷ ban nhân dân
phường L, thành phố Lạng Sơn cho biết "đối chiếu với hồ sơ địa chính được lưu
trữ cho thấy: Tại vị trí phần diện tích ông Lộc Sơn T cùng các hộ bà Đặng Thị
V, bà Hoàng Thị K, ông Nguyễn Văn C, bà Lý Thị H có ý kiến về việc tồn tại
01 rãnh thoát nước từ năm 1996, sau được tôn tạo làm cống thoát nước. Trên
bản đồ địa chính không thể hiện việc có đường thoát nước, phần diện tích này
thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ địa chính số 51, phường L, trên bản đồ
ký hiệu G1 (đất có nhà), sổ mục kê địa chính ghi tên ông Nguyễn Đ. Bản đồ địa
chính phường L được đo đạc tháng 5/1997, công nhận tháng 12/1997 và nghiệm
thu ký duyệt ngày 31/12/1997, trên cơ sở dữ liệu được thể hiện trên bản đồ địa
chính cho thấy tại thời điểm đo đạc nghiệm thu bản đồ không hề có mương thoát
nước nào". Như vậy, theo UBND thì các hộ dân cũng có ý kiến về việc tồn tại
01 rãnh thoát nước từ năm 1996, việc đo đạc từ năm 1997 không đảm bảo phản
ánh đầy đủ các công trình nhỏ như rãnh thoát nước, lời khai của người dân xung
quanh mới là chứng cứ thực tế, bản đồ không thể hiện mương nước không có
nghĩa rằng thực tế không có mương nước.
[12] Tại biên bản xác định ranh giới mốc giới khu đất xác định thửa đất bà
18
Nguyễn Thị T xin kê khai năm 2013 có thể hiện phía Nam giáp thửa đất số 97
của gia đình ông Lộc Văn T, ông Lộc Văn T đã ký xác nhận ranh giới, tại biên
bản này thể hiện thửa 98 tiếp giáp trực tiếp thửa đất 97, không mương thoát
nước chung giữa thửa 97 và 98. Tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 97, tờ bản đồ số 51, diện tích 173,4m
2
thấy: Ngày
25/6/2001, ông Lộc Văn T làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa
đất nhận chuyển nhượng của ông Vi Văn C ngày 06/3/1994. Tại biên bản xác
định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 19/9/2002, thửa đất số 97 có các chủ sử
dụng đất tiếp giáp như sau: Phía đông giáp đất đồi ông Nguyễn An S; phía Tây
giáp đường đi chung, phía Nam giáp nhà ông Phạm Huy T, phía Bắc giáp đường
vào nhà ông C, như vậy về phía Bắc đất của gia đình ông Lộc Văn T không thể
hiện là có đường mương thoát nước.
[13] Như vậy, các đương sự đều thừa nhận đất tranh chấp có nguồn gốc
do bà Trần Thị M cùng 5 người mua với ông Vi Văn C; đất tranh chấp là đoạn
mương thoát nước tự nhiên phía cuối đất tranh chấp có 01 cống tròn bê tông để
sẵn cho việc thoát nước từ trên cao xuống nằm trên 1 phần của thửa đất 98, hiện
tại do gia đình bà Nguyễn Thị T đang quản lý sử dụng có diện tích 21,08m
2
,
(trong đó có diện tích 17,08m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.1 và diện tích 4,0m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.2). Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị T đã
chứng minh phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia
đình bị đơn, do bà nhận chuyển nhượng của gia đình ông Ngô Văn Đ, bà Trần
Thị Lập mà có. Vì vậy, bà Nguyễn Thị T có đầy đủ các quyền của người sử
dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
[14] Mặc dù, các tài liệu địa chính qua các thời kỳ không thể hiện giữa
thửa đất số 97 và thửa đất số 98 có đường mương thoát nước. Tuy nhiên, tại
thực địa đất tranh chấp thể hiện giữa thửa 97 và 98 có đường rãnh mương thoát
nước tự nhiên, nối liền với đường thoát nước bao quanh thửa đất của bà Lý Thị
H ở phía sau có địa hình cao hơn đất của gia đình nguyên đơn, bị đơn. Tại điểm
A1-A2 trên bản trích đo là phần đất giáp mặt đường ngõ bê tông có cống chờ,
đảm bảo cho việc thoát nước khi cần thiết.
Tại cấp sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị
T tự nguyện để diện tích đất tranh chấp này để làm mương thoát nước mưa tự
nhiên chung và có trách nhiệm xây cống bê tông diện tích rộng tối thiểu 88cm,
cao tối thiểu 1m. Xét thấy việc bị đơn tự nguyện để diện tích đất tranh chấp
21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa đất 98, tờ bản đồ số 51
phường L nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn để làm mương thoát nước mưa tự nhiên
chung cho các hộ xung quanh và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu
88cm, cao tối thiểu 1m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5 là phù
hợp với hiện trạng sử dụng đất, phù hợp với địa hình khu đất, gia đình bị đơn đã
đổ đất, xây tường bao quanh diện tích đất bị đơn quản lý sử dụng nhưng phần
diện tích 21,08m
2
vẫn đang là khe thấp, không san lấp, có móng xây gạch ba
banh 0,6m
2
trên diện tích đất. Ý kiến này của bị đơn là hoàn toàn tự nguyện
không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi
19
nhận sự tự nguyện này. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị T là phù hợp và có căn cứ; do đó kháng cáo của nguyên đơn không
có cơ sở để được chấp nhận.
[15] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện được bị đơn nhất trí, bị đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố đối được
nguyên đơn nhất trí đối với diện tích 4,2m
2
và tài sản trên đất (thửa tạm là 98.3)
vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8 thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ số 51,
bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn. Xét thấy
việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn có yêu cầu phản
tố là tự nguyện, được nguyên đơn anh Lộc Sơn T và bị đơn có yêu cầu phản tố,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt đều nhất trí. Do đó, cần hủy một
phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
[16] Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm còn có sai sót cần phải xem xét, cần sửa
cho phù hợp, đó là: Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, bản án ghi
“...yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở” là chưa đầy đủ và chưa đúng quy định tại
khoản 10 Điều 11 Luật Đất đai năm 2024. Tại khoản 10 Điều 11 Luật Đất đai
năm 2024 quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai: “10. Cản
trở, gây khó khăn đối với việc sử dụng đất, việc thực hiện quyền của người sử
dụng đất theo quy định của pháp luật”. Chưa nhận định ý kiến của Viện kiểm
sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa đúng hướng
dẫn tại mục (26) mẫu số 52-DS (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-
HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Tại
phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bà Trần
Thị M, ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị L, đại diện Ủy ban nhân dân phường C)
nhưng tại phần quyết định của bản án không căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự về xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chưa đầy
đủ. Ngoài ra, phần quyết định của bản án không áp dụng khoản 10 Điều 11,
Luật Đất đai năm 2024 đối với hành vi cản trở việc sử dụng đất là thiếu sót,
không đúng hướng dẫn tại mục (27) mẫu số 52-DS (ban hành kèm theo Nghị
quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao). Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận diện tích đất tranh
chấp là đường mương thoát nước chung, công nhận diện tích đất tranh chấp là
của gia đình nguyên đơn; cấp sơ thẩm thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho
nguyên đơn chưa đầy đủ; tại mục nhận định về [7] Về án phí buộc nguyên
đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu không được chấp nhận,
không nhận định và không buộc nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu
đường mương thoát nước chung là có thiếu sót;
[17] Về chi phí tố tụng: Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ Luật
Tố tụng dân sự, tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản, đo đạc
là 15.662.000 đồng, anh Lộc Sơn T đã nộp tạm ứng để chi phí. Do yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không được chấp nhận đối với diện tích 21,08m
2
nên
nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng tương ứng số tiền là 13.060.000 đồng và
20
chịu 1.301.000 đồng đối với yêu cầu rút 1 phần yêu cầu khởi kiện, tổng cộng là
số tiền 14.361.000 đồng. Xác nhận nguyên đơn anh Lộc Sơn T đã nộp đủ chi
phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản, đo đạc.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền 1.301.000 đồng, tương ứng với
phần rút 1 phần yêu cầu phản tố, anh Lộc Sơn T đã nộp tạm ứng nên bà Nguyễn
Thị T phải hoàn trả lại cho anh Lộc Sơn T số tiền 1.301.000 đồng.
[18] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí không có
giá ngạch đối với yêu cầu không được chấp nhận mỗi loại là 300.000 đồng; tổng
cộng số tiền là 600.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận nguyên đơn
đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lại số 0000548 ngày 10/01/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn) số tiền trên đang được gửi tại tài khoản số
3949.0.1054441.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà
nước Khu vực VI - Phòng nghiệp vụ 2, sau khi khấu trừ nguyên đơn còn phải
nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
[19] Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nguyên đơn anh Lộc
Sơn T là người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 148 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
[20] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có căn cứ, phù hợp với các
quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Lộc
Sơn T; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 04-8-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 – Lạng Sơn, như sau:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều
39, Điều 157, Điều 165, Điều 217, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 10 11, 131, 133, 134,
135, 136 Luật đất đai 2024; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án:
21
I. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đối với diện tích đất tranh chấp là 4,2m
2
(thửa tạm là
98.3) vị trí đỉnh thửa A5, A6, A7, A8 thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ
số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn, có
các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp thửa 98.2 có kích thước cạnh 1.13m;
phía Nam giáp thửa đất 103 có kích thước cạnh 1,34m; phía Đông giáp thửa đất
99 có kích thước cạnh 3,45m; phía Tây giáp thửa 97 có kích thước cạnh 3,38m
và công trình trên đất là chuồng gà có diện tích 4,2m
2
, vị trí đỉnh thửa A5, A6,
A7, A8 (Có phụ lục trích đo kèm theo bản án).
Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nội dung
đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu khởi kiện theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
II. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lộc Sơn T
đề nghị công nhận diện tích 21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) ký hiệu A1, A2,
A3, A4, A5, A8, A9, A10, A11, A12 thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 51
phường L (nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn) là đường mương thoát nước chung,
buộc bị đơn tháo dỡ công trình là móng xây gạch ba banh 0,6m
2
trên diện tích
đất tranh chấp.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị T, cụ thể:
Bị đơn bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh
chấp là 21,08m
2
(trong đó có diện tích 17,08m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.1 và
4,0m
2
được ký hiệu thửa tạm là 98.2) thuộc một phần thửa đất số 98, tờ bản đồ
số 51, bản đồ địa chính phường L năm 1997 nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn có
vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, P1, A4, A5, A8, A9, A10, P2, A11, A12. Thửa đất
trên có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp một phần thửa 98 có kích
thước cạnh 20,06m + 1,12m + 2,61m; phía Nam giáp thửa đất 97 có kích thước
cạnh 20,05m + 0.10m + 1,07m + 0,70m + 1,69m; phía Đông giáp thửa đất 103
có kích thước cạnh 1,13m; phía Tây giáp đường ngõ dân sinh có kích thước
cạnh 0,88m và được quyền sở hữu 01 đoạn kè xây gạch ba banh có diện tích
0,6m
2
, vị trí đỉnh thửa A3, P1, P2, A11, A12 trên diện tích đất 21,08m
2
nêu trên.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ
thực hiện quyền, nghĩa của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn bà Nguyễn Thị T đối với diện tích đất
21,08m
2
(thửa tạm 98.1 + 98.2) thuộc một phần thửa đất 98, tờ bản đồ số 51
phường L nay là phường C, tỉnh Lạng Sơn để làm mương thoát nước mưa tự nhiên
chung cho các hộ xung quanh và có trách nhiệm xây cống bê tông rộng tối thiểu
88cm, cao tối thiểu 1m, kéo dài từ điểm A1 đến A8 và từ điểm A2 đến A5.
(Có phụ lục trích đo kèm theo bản án).
22
3. Buộc nguyên đơn anh Lộc Sơn T và những người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan là bà Hoàng Thị Đ, anh Lộc Tuấn H chấm dứt hành vi cản trở quyền
sử dụng đất.
4. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản, đo
đạc tổng số tiền là 15.662.000đ (mười năm triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn
đồng), anh Lộc Sơn T đã nộp tạm ứng để chi phí.
Nguyên đơn anh Lộc Sơn T phải chịu số tiền 14.361.000đ (mười bốn triệu
ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng), xác nhận anh Lộc Sơn T đã nộp đủ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền 1.301.000đ (một triệu ba trăm
linh một nghìn đồng), do anh Lộc Sơn T đã nộp tạm ứng để chi phí nên bà
Nguyễn Thị T phải hoàn trả lại cho anh Lộc Sơn T 1.301.000đ (một triệu ba
trăm linh một nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có
nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng
với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo
thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại Điều 357
và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Lộc Sơn Tùng phải chịu
số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ
Nhà nước. Xác nhận nguyên đơn anh Lộc Sơn T đã nộp 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lại số 0000548 ngày 10/01/2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn (nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 1 - Lạng Sơn) số tiền trên đang được gửi tại tài khoản số
3949.0.1054441.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà
nước Khu vực VI - Phòng nghiệp vụ 2; sau khi khấu trừ nguyên đơn anh Lộc
Sơn T còn phải nộp tiếp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
5.2. Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nguyên đơn anh Lộc
Sơn T không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả cho anh Lộc Sơn T số tiền
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ngày
03-9-2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án quy định tại điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội;
- Viện phúc thẩm VKSND tối cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
23
- TAND khu vực 1 - Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 1 – Lạng Sơn;
- Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
- HCTP; P. GĐKTTT&THA;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
Lƣơng Thị Nguyệt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm