Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 11/06/2024 của TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2024/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 11/06/2024 của TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Ninh Kiều (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 04/2024/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIENJ CỦA NGUYÊN ĐƠN.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIT NAM
QUẬN C R Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ C T
Bản án số: 04/2024/KDTMST
Ngày: 11/06/2024
Về việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
theo hợp đồng kinh tế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUN C R, THÀNH PHỐ C T
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm :
- Thm phán Ch tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.
- Các Hi thm nhân dân:
Ông Lê Văn Thành.
Võ Thị Bích Huyền.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Bích Trương Thư Tòa án nhân n
quận C R, thành phố C T.
Trong ngày 11/06/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C R, thành phố C
T tiến hành xét x công khai v án th s: 17/2024/TLST/KDTM ngày 11
tháng 04 năm 2024 v “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 164/2024/QĐST-DS ngày 28/05/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty CPĐT C T. (Viết tắt công ty C T)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu V C. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị.
Địa chỉ trụ sở: Số 05, Võ Thị Sáu, phường T A, quận N K, thành phố C T.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty CPĐT C T theo hợp đồng ủy
quyền ngày 28/02/2024 gồm:
1.Lê N A, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 88, tổ 48A, khu vực 7, phường H P, quận C R, thành
phố C T.
2.Đoàn T D T, sinh năm 1996. (Có mặt)
Địa chỉ thường trú: ấp Hậu Quới, xã H M B B, huyện C B, tỉnh T G.
Địa chỉ liên hệ: S88, tổ 48A, khu vực 7, phường H P, quận C R, thành
phố C T.
* Bị đơn: Công ty TNHH CK V QC H N. (Viết tắt công ty H N)
Người đại diện pháp luật: Ông Phan Thiện Chơn. Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: S21-22, đường số 7B, khu nhà Nam Long, phường H T, quận
C R, thành phố C T.
Người đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 06/05/2024 gồm:
2
1. Bà Phan T T Y, sinh năm 1989. (Có mặt)
Nguyên quán: Xã Đ T, thị xã B M, tỉnh V L.
ĐKTT: Số 04 Trần Quang Khải, phường C K, quận N K, thành phố C T.
2. Ông Phạm V N, sinh năm 1997. (Vắng mặt)
Địa chỉ: phường Thuận Hưng, quận T N, thành phC T.
3. Bà Ngô T N H, sinh năm 1981. (Có mặt)
Địa chỉ: 246/24N Tầm Vu, phường H L, quận N K, thành phố C T.
Địa chỉ liên hệ của các đại diện theo ủy quyền: S21-22, đường số 7B, khu
nhà ở Nam Long, phường H T, quận C R, thành phố C T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên, ngày 18 tháng 01 năm 2021 công ty TNHH CK V QC H N và
công ty CPĐTC T đã ký kết Hợp đồng kinh tế s180121/HĐKT về việc Chi phí
cung cấp vật tư trang trí đèn trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố C T Hợp đồng
kinh tế số 180121-1/HĐKT về việc Chi p lắp đặt đèn trang ttrụ sỦy ban
nhân dân thành phố C T.
Đối với Hợp đồng kinh tế số 180121/HĐKT về việc Chi phí cung cấp vật tư
trang trí đèn trụ sở Ủy ban nhân n thành phố C T tổng giá trị hợp đồng
467.202.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi bảy triệu, hai trăm lẻ hai nghìn đồng),
nguyên đơn đã tạm ứng cho bđơn 50% giá trị hợp đồng tương đương với số tiền
233.601.000 đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm l một nghìn đồng)
ngay sau khi hợp đồng được hai bên kí kết.
Đối với Hợp đồng kinh tế s180121-1/HĐKT về việc Chi phí lắp đặt đèn
trang trí trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố C T tổng giá trị hợp đồng
366.898.000 đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi tám nghìn
đồng), nguyên đơn đã tạm ứng cho bđơn 50% giá trị hợp đồng tương đương với
số tiền 183.449.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi
chín nghìn đồng) ngay sau khi hợp đồng được hai bên kí kết.
Đến ngày 26 tháng 01 năm 2021, do các yếu tkhách quan về vấn đề phân
bổ kinh phí nên nguyên đơn đã gửi công văn số 26/CPĐT-KTVT về việc thanh lý
hợp đồng kinh tế hoàn trả tạm ứng công trình đến bị đơn để yêu cầu thanh
hợp đồng và hoàn trả tạm ứng.
Sau khi thỏa thuận, hai bên thống nhất thanh hai hợp đồng kinh tế nêu
trên, nguyên đơn bị đơn đã phối hợp thanh hợp đồng, theo đó bị đơn
nghĩa vụ hoàn trả kinh phí đã tạm ứng cho hai hợp đồng, cụ thể:
Theo Biên bản thanh hợp đồng số 180121/BBTL.HĐKT ngày 04 tháng
02 năm 2021 giữa hai bên, công ty H N trách nhiệm hoàn trả cho ng ty C T
3
số tiền 233.601.000 đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm lẻ một nghìn
đồng).
Theo Biên bản thanh lý hợp đồng số 180121-1/BBTL.HĐKT ngày 04 tháng
02 năm 2021 giữa hai bên, công ty H N trách nhiệm hoàn trả cho Công ty C T
số tiền 183.449.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi chín
nghìn đồng).
Tổng số tiền công ty H N phải hoàn trả là: 417.050.000 đồng (Bốn trăm
mười bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng).
Hai bên đã thống nhất kết hai biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên tuy
nhiên bị đơn lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Nguyên
đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng không thực hiện, sau đó
nguyên đơn đã gửi nhiều công văn yêu cầu bị đơn thanh toán, cụ thể:
Công văn số 112/CPĐT-KTVT ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Công ty C T
về việc hoàn trả tiềm tạm ứng ng trình đã thanh lý hợp đồng theo thỏa thuận,
theo đó Công ty C T yêu cầu công ty H N hoàn trả số tiền 417.050.000 đồng (Bốn
trăm mười bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng);
Công văn số 41/CPĐT-KTVT ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Công ty C T
về việc hoàn trả tiềm tạm ứng ng trình đã thanh lý hợp đồng theo thỏa thuận,
theo đó Công ty C T yêu cầu công ty H N hoàn trả số tiền 417.050.000 đồng (Bốn
trăm mười bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng);
Công văn số 199/CPĐT-KTVT ngày 05 tháng 9 năm 2022 của Công ty C T
về việc hoàn trả tiềm tạm ứng ng trình đã thanh lý hợp đồng theo thỏa thuận,
theo đó Công ty C T yêu cầu công ty H N hoàn trả số tiền 417.050.000 đồng (Bốn
trăm mười bảy triệu, không trăm m mươi nghìn đồng), hạn chót thanh toán là
ngày 15 tháng 9 năm 2022.
Vào cuối năm 2022, công ty H N đã thanh toán cho Công ty C T số tiền
100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), đến nay ng ty H N vẫn không thanh
toán số tiền còn lại.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023, Công ty C T tiếp tục gửi Công văn số
65/CPĐT-KTVT ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc hoàn trả tiềm tạm ứng công
trình đã thanh hợp đồng theo thỏa thuận (lần 5), theo đó Công ty C T yêu cầu
công ty H N hoàn trả số tiền 317.050.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu, không
trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng đến nay công ty H N vẫn không thực hiện
nghĩa vụ.
Nay thấy quyền lợi bị ảnh hưởng nên Công ty CPĐTC T yêu cầu Tòa án
buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn CK V QC H N hoàn trả kinh pđã tạm ứng
cho Công ty CPĐTC T với số tiền 317.050.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu,
năm mươi nghìn đồng) và lãi suất chậm trả 10%/năm tính từ ngày 15 tháng 9 năm
2022 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm.
4
* Theo đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày:
Vào ngày 18/01/2021, công ty H N tiến hành hai hợp đồng kinh tế v
việc cung cấp vật lắp đặt đèn trang trí trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố C
T. Công ty H N đã tiến hành thực hiện thi công công trình, đạt tiến đ 30% giá trị.
Nhưng sau đó, công ty C T thông báo cho công ty H N do không được
nguồn vốn để tiếp tục thực hiện công trình như đã kết trong hai hợp đng, nên
công ty C T trao đổi với công ty H N xin thanh hợp đồng. Các nguyên vật
liệu đã thực hiện 30% công trình thì nhờ công ty H N tìm nguồn thanh lý lại và sẽ
dùng số tiền đó đã chuyển trả lại số tiền mà công ty C T đã ứng trước cho công ty
H N vào ngày 21/01/2021. Tuy nhiên, do tình hình dịch Covid kéo dài các
nguyên vật liệu đã sử dụng cho công trình nên không thanh lý hay sử dụng lại cho
các công trình khác.
Xét thấy, công ty H N cũng đang chịu khó khăn chung của tình hình kinh tế
lúc bấy giờ kinh phí bỏ ra cho công trình cũng knhiều nên nhiều lần công
ty H N cũng thiện chí trao đổi sẽ thanh toán dần khi tìm được nguồn thanh lý. Vào
ngày 20/12/2022, công ty H N chuyển trả cho nguyên đơn stiền 100.000.000
đồng (Một trăm triệu đồng). Hiện nay, tình hình ngày càng khó khăn, công ty H N
chưa thanh lý được hết đây cũng một phần chi phí tổn thất của công ty H N.
Nay đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì có ý kiến như sau:
Đối với số tiền 417.050.000 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, không trăm
năm mươi nghìn đồng) mà công ty H N đã tạm ứng trước thì yêu cầu nguyên đơn
bị đơn mỗi bên chịu một nữa thiệt hại, tương ứng mỗi bên phải chịu thiệt hại
208.525.000 đồng (Hai trăm lẻ tám triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng), mà
trước đó công ty H N đã trả 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho công ty
C T thì nay công ty H N sẽ trả số tiền còn lại 108.525.000 đồng (Một trăm ltám
triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Công ty H N xin trả dần mỗi tháng
20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tính từ thời điểm có quyết định của tòa án
cho đến khi dứt nợ trong năm 2024.
Vụ án đã được hoà giải nhưng không thành nên phải đưa vụ án ra xét xử
theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn trình bày như sau:
Vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bđơn Công ty trách
nhiệm hữu hạn CK V QC H N hoàn trả kinh phí đã tạm ứng cho Công ty CPĐTC
T với số tiền 317.050.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu, không trăm m mươi
nghìn đồng) lãi suất chậm trả 10%/năm tính từ ngày 15/9/2022 đến ngày
10/06/2024.
Đại diện ủy quyền cho bị đơn trình bày như sau: Đối với nội dung yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn thì không đồng ý. Giữ nguyên nội dung đã trình bày
5
tring buổi hào giải ngày 06/05/2024, công ty H N sẽ trả số tiền còn lại
108.525.000 đồng (Một trăm ltám triệu, m trăm hai ơi lăm nghìn đồng)
trả dần mỗi tháng 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tính từ thời điểm
quyết định của tòa án cho đến khi dứt nợ trong năm 2024. Việc phía nguyên đơn
yêu cầu bđơn thanh toán lãi chậm trả thì phía bị đơn không đồng ý trong nội
dung thỏa thuận của hai bản thanh hợp đồng thì không nêu việc trả lãi cũng
như lãi chậm trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liu có trong h sơ v án được thm tra
tại phiên tòa và n c kết qu tranh lun tại phiên tòa. Hi đồng xét x
nhn định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bđơn trả số tiền bị đơn đã tạm ứng
trước và lãi suất mà các bên đã ký kết theo các hợp đồng kinh tế, bản thanh lý hợp
đồng… Do bị đơn không thực hiện việc trả tiền theo nội dung thỏa thuận các
bên đã nên nguyên đơn nhận thấy quyền lợi lợi ích bị ảnh hưởng vậy đi
khởi kiện. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết các bên đều đăng kinh doanh đều mục đích lợi nhuận nên
c định đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chp, quan hệ tranh chấp giữa
các đương sự thuộc quan htranh chấp về hợp đồng dân sự cụ thể “Tranh
chấp đòi lại tài sản theo hợp đồng kinh tế. Mặt khác, bị đơn Công ty H N địa
chỉ trụ sở đăng kinh doanh tại quận C R, thành phố C T nên vụ kiện thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận C R, thành phố C T theo quy
định khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Theo hồ khởi kiện, nguyên đơn văn bản ủy quyền cho N A
hoặc Đoàn T D T. Bị đơn ủy quyền cho bà Phan T T Y, Ngô T N H, ông
Phạm V N phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền là 317.050.000 đồng (Ba
trăm mười bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền lãi chậm thanh
toán. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ vụ án, lời khai của các đương sự
trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xét
thấy, giữa nguyên đơn bị đơn Hợp đồng kinh tế số 180121/HĐKT về
việc Chi phí cung cấp vật tư trang trí đèn trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố C T
Hợp đồng kinh tế số 180121-1/HĐKT vviệc Chi phí lắp đặt đèn trang trí trụ
6
sở Ủy ban nhân dân thành phố C T. Theo nội dung của hai hợp đồng thì hai bên
thỏa thuận thống nhất về giá trị hợp đồng, phương thức thời hạn thanh
toán…. hai hợp đồng nói trên. Trong quá trình thực hiện các hợp đồng, nguyên
đơn đã tạm ứng trước cho bị đơn số tiền 417.050.000 đồng (Bốn trăm mười bảy
triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng). Phía nguyên đơn bị đơn thống nhất
số tiền đã tạm ứng trước như nguyên đơn đã trình bày, thống nhất việc các bên có
hai biên bản thanh lý hợp đồng và bị đơn đã thanh toán trả số tiền 100.000.000
đồng (Một trăm triệu đồng). Do li tnh bày của các đương sự thống nhất phù
hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ nên căn cứ theo quy định tại Điều 92
Bluật ttụng dân snăm 2015 thì tình tiết, sự kiện này các đương s không
cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, bị đơn cho rằng hiện nay chưa thanh toán trả số tiền còn lại cho
nguyên đơn là do điều kiện kinh tế khó khăn yêu cầu phía nguyên đơn chịu
một phần thiệt hại vì phía bị đơn đã thực hiện gần 30% gtrị hợp đồng mà hai
bên đã thỏa thuận nhưng phía nguyên đơn không đồng ý. Do lời trình bày của các
đương sự không thống nhất nên Hội đồng xét x căn cứ vào các tài liệu chứng cứ
các đương sự cung cấp để giải quyết. Nhận thấy, giữa nguyên đơn bị đơn
việc Hợp đồng kinh tế số 180121/HĐKT về việc Chi phí cung cấp vật tư
trang trí đèn trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố C T Hợp đồng kinh tế số
180121-1/HĐKT về việc Chi phí lắp đặt đèn trang trí trụ sở Ủy ban nhân dân
thành phố C T. Sau khi hai hợp đồng kinh tế này tnguyên đơn tạm ứng
trước cho bị đơn số tiền tổng cộng 417.050.000 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu,
không trăm năm mươi nghìn đồng) để cho bị đơn thi công, thực hiện theo nội
dung thỏa thuận hai hợp đồng kinh tế mà hai bên đã kết. Tuy nhiên, vào ngày
26/01/2022 do các yếu tố khách quan về việc phân bổ kinh phí n nguyên đơn
gửi văn bản yêu cầu thanh hai hợp đồng kinh tế nói trên đề nghị hoàn trả
tạm ứng với bị đơn. Khi đó, bị đơn cũng thống nhất việc thanh hai hợp đồng và
thống nhất trả toàn bộ số tiền nguyên đơn đã tạm ứng trước, điều này thể hiện
tại Biên bản thanh hợp đồng số 180121/BBTL.HĐKT ngày 04 tháng 02 năm
2021, công ty H N trách nhiệm hoàn trả cho Công ty C T số tiền 233.601.000
đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm lẻ một nghìn đồng) Biên bản thanh
hợp đồng số 180121-1/BBTL.HĐKT ngày 04 tháng 02 năm 2021, công ty H N
có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty C T số tiền 183.449.000 đồng (Một trăm tám
mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng). Nhận thấy, theo hai biên bản
thanh hợp đồng nói trên thì chữ đóng mộc dấu của các bên, việc thỏa
thuận trong nội dung biên bản thanh sự tự nguyện của các bên phát sinh
quyền, nghĩa vụ của các bên khi kết. Sau khi hai biên bản thanh hợp
đồng này thì bị đơn thanh toán trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng
(Một trăm triệu đồng) còn nợ lại 317.050.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu,
7
không trăm m mươi nghìn đồng), điều đó thể hiện các bên thống nhất làm theo
nội dung thỏa thuận của hai biên bản thanh hợp đồng đã nêu. Phía bị đơn cho
rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đã thực hiện khoảng 30% giá trị
công việc phải thực hiện nên yêu cầu nguyên đơn phải chịu một phần thiệt hại.
Tuy nhiên, các bên xác định việc thực hiện khoảng 30% giá trị công việc theo
hai hợp đồng kinh tế thì đáng lra khi hai biên bản thanh hợp đồng thì bị
đơn có quyền yêu cầu nguyên đơn phải trả phần gtrị thực hiện nhưng bị đơn lại
không yêu cầu, nay viện do này để yêu cầu tòa án xem xét buộc nguyên đơn
phải chịu một phần thiệt hại chưa căn cứ để chấp nhận. Do bị đơn ký kết hai
biên bản thanh thống nhất trả lại tiền đã nhận từ nguyên đơn nhưng nay
không thực hiện việc trả tiền nên nguyên đơn đi khởi kiện là có căn cứ chấp nhận.
Đối với việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm trả, Hội đồng xét xử xét
thấy tại hai biên bản thanh hợp đồng lập cùng ngày 04/02/2021 các bên không
đề cặp vấn đề thời gian thanh toán, lãi suất. Tuy nhiên, nguyên đơn đã nhiều lần
gửi văn bản yêu cầu bị đơn thực hiện việc thanh toán ấn định thời gian thanh
toán vào ngày 15/09/2022 nhưng bị đơn không thực hiện, ng nphản hồi lại
nên phải nghĩa vtrả lãi suất chậm trả mức lãi suất chậm trả 10%/năm tính
từ ngày 15/09/2022 đến ngày 10/6/2024 nguyên đơn yêu cầu phù hợp theo
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
Ngày 15/9/2024, bị đơn chậm trả số tiền 317.050.000 đồng tính đến ngày
10/6/2024 tương ứng với thời gian 01 năm 08 tháng 26 ngày với lãi suất 10%/năm
thì tiền lãi:
317.050.000 đồng x 01 năm 08 tháng 26 ngày x 10%/năm = 55.131.500
đồng (Năm mươi lăm triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm đồng).
Tổng cộng số tiền nguyên đơn phải trả cho bị đơn tạm tính đến ngày
10/6/2024 là: 317.050.000 đồng + 55.131.500 đồng = 372.181.472 đồng (Ba trăm
bảy mươi hai triệu, một trăm tám mươi mốt nghìn, bốn trăm bảy mươi hai đồng).
[4 V án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu
án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39Điều
147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 280, Điều 357, Điều 542, Điều 543, Điều 544, Điều 546, Điều 547,
Điều 551, Điều 552, Điều 553 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 85, khoản 4 Điều 271, Điều 306 của Luật Thương mại năm
2005;
8
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty CPĐTC T.
Buộc bị đơn Công ty TNHH CK V QC H N có nghĩa vụ trả tiền tạm ứng thi
công cho nguyên đơn Công ty CPĐTC T tổng cộng 317.050.000 đồng (Ba trăm
mười bảy triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền lãi chậm trả
55.131.500 đồng (Năm mươi lăm triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm
đồng) tạm tính từ đến ngày 10/6/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian
chậm thi hành án.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bị đơn phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thm số tiền 18.609.000
đồng (Mười tám triệu, sáu trăm lẻ nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền
tạm ứng án phí đã nộp với số tiền 8.716.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm mười sáu
nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003343 ngày 08/04/2024 của Chi cục thi hành
án dân sự quận C R, thành phố C T.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng o trong hn 15 ngày, k t ngày
tun án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 9 Luật Thi
hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Nơi nhận: THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
+ VKSND quận C R;
+ Chi Cục THADS quận C R;
+ Các đương sự; (ĐÃ KÝ)
+ Lưu hồ sơ vụ án.
TRẦN THỊ HỒNG GẤM
9
Tải về
Bản án số 04/2024/KDTM-ST Bản án số 04/2024/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2024/KDTM-ST Bản án số 04/2024/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất