Bản án số 04/2023/LĐ-ST ngày 24/04/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2023/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2023/LĐ-ST ngày 24/04/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 04/2023/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/04/2023
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN 
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn Cử nhân luật, Giám đốc Trung tâm GDNN
GDTX thành phố Dĩ An.
2. Bà Phạm Tú Nhi – Cử nhân luật, cán bộ hƣu trí.
- Thư ký phiên tòa: Phạm Thị Trung Hiếu - Thƣ Tòa án nhân dân
thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố An,
tỉnh Bình ơng xét xử thẩm công khai vụ án Lao động thụ số:
13/2022/TLST- ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về trƣờng
hợp đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định đƣa vụ án ra xét
xử số: 01/2023/QĐXXST- ngày 27 tháng 02 năm 2023, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1985; thƣờng trú: Thôn t,
b, huyện c, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Số 1/151, đƣờng 22 tháng 12, khu phố h,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Trịnh Thị P, sinh năm
1999; thƣờng trú: V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ: Số 1/47A, đƣờng 22
tháng 12, khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, ngƣời đại
diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2022). Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH Vận tải P; địa chỉ: Số 9, đƣờng N5, khu dân
dịch vụ T, khu phố T, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Phan Thị Thúy H, sinh năm
1978, là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 07/4/2023). Có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
 
TỈNH BÌNH DƢƠNG

Bản án số: 04/2023/-ST
Ngày 24-4-2023
V/v tranh chấp về đơn phƣơng chấm
dứt hợp đồng lao động

- - 

2
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm hội thành phố D;
địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. yêu cầu vắng
mặt.

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2022 các lời khai trong quá
trình tố tụng, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/01/2021 ông Nguyễn Minh H Công ty TNHH Vận tải P (sau
đây gọi tắt là Công ty P) ký hợp đồng lao động số 003/2021 thời hạn 01 năm (từ
ngày 02/01/2021 đến ngày 02/01/2022), công việc phải làm là Tài xế. Mức
lƣơng là 5.640.000đ/tháng. Công ty P tham gia bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn.
Ngày 18/7/2021, ông H nhận đƣợc tin nhắn của Group zalo của Công ty
P với nội dung từ ngày 19/7/2021, toàn bộ lao động nghỉ việc để phòng chống
dịch Covid-19 cho đến khi thông o mới”. Khi nhận đƣợc thông báo của
Công ty P, trong thời gian này Công ty P chỉ trả cho ông H 2.000.000đ tiền nghỉ
dịch chƣa đúng với quy định tại Nghị Quyết số 68/2021/NQ-CP và Quyết
định số 23/2021-TTg. Đến ngày 15/9/2021, Công ty P thông báo số 01/2021
về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông H, với do Do tình hình dịch
bệnh kéo dài Công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải
giảm chỗ làm việc”. Tháng 10/2021, tình hình dịch bệnh đã n định Công ty
đã hoạt động trở lại bình thƣờng, đồng thời công ty cũng không biện pháp
nào khắc phục thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông H trái quy
định của pháp luật, vi phạm thời hạn báo trƣớc.
Nay ông H yêu cầu các vấn đề sau:
+ Tiền lƣơng trong những ngày không đƣợc làm việc tngày 15/10/2021
đến ngày 24/4/2023 là 18 tháng 11 ngày theo mức lƣơng 5.640.000đ/tháng thành
tiền là 100.020.000đ;
+ Bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng là 11.280.000đ;
+ Vi phạm thời hạn báo trƣớc 15 ngày, thành tiền là 3.253.846đ;
+ Trợ cấp nghỉ việc không hƣởng lƣơng theo Nghị quyết 68/NQ-CP
quyết định số 23/2021/QĐ-Ttg là 3.710.000đ;
+ Trợ cấp thôi việc là 5.640.000đ;
+ Công ty P phải đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp từ ngày 15/10/2021 đến ngày 24/4/2023 quy đổi thành tiền
19.492.200đ.
Tổng cộng là 149.076.046đ.
- Bị đơn Công ty P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, tại phiên tòa bị
đơn cung cấp 01 văn bản y quyền đề ngày 17/4/2023, nội dung ủy quyền cho
người đại diện chỉ được tham gia phiên tòa, cung cấp các tài liệu chứng cứ, làm
3
việc về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngƣời đại diện xác định hai bên
tồn tại quan hệ lao động theo hợp đồng số 003 ngày 02/01/2021, loại hợp đồng
lao động xác định thời hạn, tuy nhiên hợp đồng đã chấm dứt từ ngày 15/7/2021.
Việc Công ty P ban hành văn bản thông báo số 01 về chấm dứt hợp đồng lao
động với ông H không cần thiết. Công ty P đồng ý hỗ trợ cho ông H
10.000.000đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An
trình bày tại bản tự khai như sau:
Công ty P tham gia bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế bảo hiểm thất
nghiệp tại Bảo hiểm hội thành phố D t tháng 4/2019. Qua kiểm tra dữ liệu
lƣu trữ thì Công ty P tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế cho ông Nguyễn Minh H từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2021, tuy nhiên
thời gian này ông H đã hƣởng bảo hiểm hội 01 lần hiện tại không còn quá
trình bảo hiểm hội. Ngày 30/10/2021, Công ty P nộp báo cáo điện tsố
103184/2021/07406 báo giảm quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế cho 06 lao động, trong đó ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho
đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ
phiên tòa ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng
dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập các
đƣơng sự cung cấp đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị chấp nhận 01 phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bị đơn bồi thƣờng tiền lƣơng từ ngày
15/10/2021 đến ngày 02/01/2022; bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng; bi thƣờng
khoản tiền theo Nghị quyết 68; buộc Công ty đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho
ông H từ ngày 15/10/2021 đến ngày 02/01/2022.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:
1 Về thủ tục tố tụng:
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bảo hiểm hội thành phố An đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét
xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân stiến hành xét xử vắng mặt
các đƣơng sự.
Bị đơn văn bản ủy quyền ngày 07/4/2023 ủy quyền cho Phan Thị
Thúy H tham gia phiên tòa, cung cấp các tài liệu chứng cứ làm việc về yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hằng xác định ngoài các nội dung y quyền
trên không đƣợc ủy quyền về việc quyết định đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định H đƣợc quyền tham gia phiên
tòa.
4
[2] Về nội dung: Quá trình tố tụng bị đơn không cung cấp ý kiến đối với
các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện hợp
pháp của bị đơn thừa nhận giữa nguyên đơn và bđơn hợp đồng lao động
số 003/2021 thời hạn 01 năm. Căn cứ vào trình bày của nguyên đơn, sổ bảo
hiểm của nguyên đơn cung cấp, báo cáo tình hình sử dụng, đăng ký bảo hiểm do
Bảo hiểm xã hội thành phố D cung cấp và sự thừa nhận của bị đơn có căn cứ xác
định ngày 02/01/2021 ông Nguyễn Minh H Công ty P hợp đồng lao động
số 003/2021 thời hạn 01 năm (từ ngày 02/01/2021 đến ngày 02/01/2022), công
việc phải m Tài xế. Mức lƣơng nguyên đơn đƣợc hƣởng
5.640.000đ/tháng. Nhƣ vậy, giữa nguyên đơn và Công ty P xác lập quan hệ
lao động là Hợp đồng lao động xác định thời hạn theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 20 B luật lao động.
[3] Về tính hợp pháp của chấm dứt hợp đồng lao động: Nguyên đơn xác
định ngày 18/7/2021, ông H nhận đƣợc tin nhắn từ Group Zalo của Công ty P
với nội dung từ ngày 19/7/2021, toàn bộ lao động nghỉ việc để phòng chống
dịch Covid-19 cho đến khi thông báo mới”, trong thời gian này ông H cũng
nhƣ các nhân viên của ng ty P nhà phòng chống dịch theo quy định của
Công ty. Đến ngày 15/9/2021 thì ông H nhận đƣợc thông báo số 01/2021 về việc
chấm dứt hợp đồng lao động. Trong thời gian nghỉ dịch ông H chƣa nhận đƣợc
sắp xếp nào từ Công ty về việc tìm các biện pháp khắc phục khó khăn. Tòa án đã
thông báo yêu cầu Công ty P cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh việc
Công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn nhƣng không đƣợc nên buộc
phải cắt giảm lao động, tuy nhiên tại phiên tòa đại diện của Công ty P cũng xác
định không tài liệu chứng cứ nào để cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa,
Hằng cho rằng hợp đồng lao động giữa Công ty với ông H chỉ thời hạn từ
ngày 02/01/2022 đến ngày 15/7/2021 nên giữa hai bên đã chấm dứt hợp đồng
lao động với ông H kể từ ngày 15/7/2021 việc Công ty ban hành thông báo chấm
dứt hợp đồng lao động không cần thiết, tuy nhiên không chng cứ đ
chứng minh việc hai bên chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 15/7/2021 nên
không sở xem xét. Ngày 15/9/2021 Công ty P chấm dứt hợp đồng lao
động với ông H trong khi ông H đang đƣợc cho nghỉ theo yêu cầu của Công ty
P, theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động thì trong trƣờng hợp này
Công ty P không đƣợc quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó,
thông báo s 01/2021 của Công ty P là trái pháp luật.
[3] Về thời hạn báo trƣớc: Theo nguyên đơn xác định đầu tháng 10/2021
thời điểm Công ty P hoạt động bình thƣờng trở lại, ngày 15/9/2021 ông H
nhận đƣợc thông báo số 01/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày
15/10/2021. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động để thực hiện
việc chấm dứt hợp đồng lao động thời hạn thì Công ty P phải thực hiện báo
trƣớc cho ông H 30 ngày, tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn thừa nhận đã
nhận đƣợc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động kề từ ngày 15/9/2021, do đó
việc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động là bảo đảm về thời gian không bị vi
phạm thời hạn báo trƣớc.
5
[4] Từ những phân tích trên, do Công ty P chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật nên căn cứ vào Điều 41 Bộ luật lao động, Công ty P phải bồi
thƣờng cho ông H các khoản sau: Tiền lƣơng trong những ngày không đƣợc làm
việc từ ngày 15/10/2021 đến ngày 02/01/2022 (ngày hợp đồng lao động hết hạn)
trên mức lƣơng 5.640.000đ; bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng chấm dứt hợp
đồng lao động.
[5] Xét yêu cầu trợ cấp nghỉ việc không hƣởng lƣơng theo quy định tại
Nghị quyết 68/NQ-CP, quyết định số 23/2021/QĐ-Ttg với số tiền 3.710.000đ,
Hội đồng xét xthấy rằng: Ngƣời lao động làm việc tại doanh nghiệp.... bị tạm
dừng hoạt động theo yêu cầu của quan nhà nƣớc thẩm quyền để phòng,
chống dịch COVID-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ
việc không hƣởng lƣơng trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên
tục trlên, tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2021 ...; đang tham gia bảo hiểm hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trƣớc
khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hƣởng lƣơng đƣợc
hỗ trợ ...từ 01 tháng trở lên mức 3.710.000 đồng/ngƣời. ng ty P cho ông H
nghỉ việc không hƣởng lƣơng phải trách nhiệm lập danh sách gửi cho Ủy
ban nhân dân cấp huyện nơi doanh nghiệp trụ sở để đƣợc chi trả khoản trợ
cấp này, tại phiên tòa đại diện của bị đơn thừa nhận không thực hiện các thủ tục
này cho ngƣời lao động do đó để đảm bảo quyền lợi của ngƣời lao động cần
chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[6] Xét yêu cầu chi trả khoản trợ cấp thôi việc, căn cứ vào bản tự khai của
Bảo hiểm hội D thì ttháng 6/2018 đến tháng 9/2021, ông H đã làm thủ tục
nhận bảo hiểm xã hội 01 lần, đồng thời hợp đồng lao động mà nguyên đơn đang
tranh chấp hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, do đó không căn
cứ để xem xét đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[7] Xét yêu cầu đóng bảo hiểm hội quy đổi ra tiền của nguyên đơn
thấy rằng, theo quy định tại Điều 21 Luật bảo hiểm hội thì trách nhiệm của
ngƣời sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm hội cho ngƣời lao động theo
quy định của pháp luật trích từ tiền lƣơng của ngƣời lao động. Do Công ty P
đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên có căn cứ chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn. Ông H nghĩa vụ đóng cùng với Công ty P theo quy
định. Không có căn cứ chấp nhận việc quy đổi thành tiền của nguyên đơn.
[8] Quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Công ty P phải chịu án phí trên số tiền trả cho nguyên đơn;
đối với yêu cầu của nguyên đơn không đƣợc chấp nhận thì cũng không phải
chịu.
Vì các lẽ trên;
:
- Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật T tụng dân sự;
6
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 20; khoản 2 Điều 37; Điều 41; Điều 168
Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 18, Điều 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã
hội;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thƣờng vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Minh H đối với Công ty TNHH Vận tải P về Tranh chấp đơn phƣơng chấm dứt
hợp đồng lao động.
- Tuyên bố Thông báo số 01/2021 ngày 15/9/2021 của Công ty TNHH
Vận tải P về chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Minh H trái pháp
luật.
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh H tiền
lƣơng trong những ngày không đƣợc làm việc từ ngày 15/10/2021 đến ngày
02/01/2022 02 tháng 16 ngày 14.751.000 (mƣời bốn triệu bảy trăm m
mƣơi mt nghìn) đng;
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh H 02
tháng lƣơng do chấm dứt hợp đồng lao động 11.280.000 (mƣời mt triệu hai
trăm tám ơi nghìn) đồng;
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P chi trả khoản tiền theo Nghị quyết
68/NQ-CP3.710.000 (ba triệu bảy trăm ời nghìn) đồng.
Tổng cộng Công ty TNHH Vận tải P phải bồi thƣờng cho ông Nguyễn
Minh H 29.741.000 (hai mƣơi chín triệu bảy trăm bốn mƣơi mốt nghìn)
đồng.
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt
buộc trích từ tiền lƣơng của ông Nguyễn Minh H đƣợc bồi thƣờng nêu trên
đối với phần ông Nguyễn Minh H phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội
bắt buộc cho ông Nguyễn Minh H theo quy định của pháp luật từ ngày
15/10/2021 đến ngày 02/01/2022 tại quan bảo hiểm hội thành phố An.
Việc đóng bảo hiểm hội Công ty phải thực hiện ngay sau khi bản án hiệu
lực pháp luật.
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh H đối với khoản tiền
trợ cấp thôi việc 5.640.000 (năm triệu sáu trăm bốn mƣơi nghìn) đồng; bồi
thƣờng tiền lƣơng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 03/01/2022 đến ngày xét
7
xử thẩm 24/4/2023; bồi thƣờng 15 ngày vi phạm thời hạn báo trƣớc là
3.253.846 (ba triệu hai trămm mƣơi ba nghìn tám trăm bốn mƣơi sáu) đồng.
3. Về án phí lao động thẩm: Ông Nguyễn Minh H không phải nộp.
Công ty TNHH Vận tải P phải nộp 892.230 (tám trăm chín mƣơi hai nghìn hai
trăm ba mƣơi) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Đƣơng sự mt đƣợc quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày tuyên án, đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
5. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dƣơng;
- VKSND TP Dĩ An;
- Chi cục THADS TP Dĩ An;
- Đƣơng sự;
- Lƣu: VT; HS.

- 

Tải về
Bản án số 04/2023/LĐ-ST Bản án số 04/2023/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất