Bản án số 04/2023/LĐ-ST ngày 24/04/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2023/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2023/LĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2023/LĐ-ST ngày 24/04/2023 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 04/2023/LĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/04/2023 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
NHÂN DANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn – Cử nhân luật, Giám đốc Trung tâm GDNN –
GDTX thành phố Dĩ An.
2. Bà Phạm Tú Nhi – Cử nhân luật, cán bộ hƣu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân
thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số:
13/2022/TLST-LĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về trƣờng
hợp đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét
xử số: 01/2023/QĐXXST-LĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1985; thƣờng trú: Thôn t,
xã b, huyện c, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Số 1/151, đƣờng 22 tháng 12, khu phố h,
phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị P, sinh năm
1999; thƣờng trú: Xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ: Số 1/47A, đƣờng 22
tháng 12, khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣời đại
diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/10/2022). Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH Vận tải P; địa chỉ: Số 9, đƣờng N5, khu dân cƣ
dịch vụ T, khu phố T, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phan Thị Thúy H, sinh năm
1978, là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 07/4/2023). Có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 04/2023/LĐ-ST
Ngày 24-4-2023
V/v tranh chấp về đơn phƣơng chấm
dứt hợp đồng lao động
- -
2
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố D;
địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu vắng
mặt.
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá
trình tố tụng, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/01/2021 ông Nguyễn Minh H và Công ty TNHH Vận tải P (sau
đây gọi tắt là Công ty P) ký hợp đồng lao động số 003/2021 thời hạn 01 năm (từ
ngày 02/01/2021 đến ngày 02/01/2022), công việc phải làm là Tài xế. Mức
lƣơng là 5.640.000đ/tháng. Công ty P tham gia bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn.
Ngày 18/7/2021, ông H nhận đƣợc tin nhắn của Group zalo của Công ty
P với nội dung “từ ngày 19/7/2021, toàn bộ lao động nghỉ việc để phòng chống
dịch Covid-19 cho đến khi có thông báo mới”. Khi nhận đƣợc thông báo của
Công ty P, trong thời gian này Công ty P chỉ trả cho ông H 2.000.000đ tiền nghỉ
dịch là chƣa đúng với quy định tại Nghị Quyết số 68/2021/NQ-CP và Quyết
định số 23/2021-TTg. Đến ngày 15/9/2021, Công ty P có thông báo số 01/2021
về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông H, với lý do “Do tình hình dịch
bệnh kéo dài mà Công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải
giảm chỗ làm việc”. Tháng 10/2021, tình hình dịch bệnh đã ổn định và Công ty
đã hoạt động trở lại bình thƣờng, đồng thời công ty cũng không có biện pháp
nào khắc phục mà thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông H là trái quy
định của pháp luật, vi phạm thời hạn báo trƣớc.
Nay ông H yêu cầu các vấn đề sau:
+ Tiền lƣơng trong những ngày không đƣợc làm việc từ ngày 15/10/2021
đến ngày 24/4/2023 là 18 tháng 11 ngày theo mức lƣơng 5.640.000đ/tháng thành
tiền là 100.020.000đ;
+ Bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng là 11.280.000đ;
+ Vi phạm thời hạn báo trƣớc 15 ngày, thành tiền là 3.253.846đ;
+ Trợ cấp nghỉ việc không hƣởng lƣơng theo Nghị quyết 68/NQ-CP và
quyết định số 23/2021/QĐ-Ttg là 3.710.000đ;
+ Trợ cấp thôi việc là 5.640.000đ;
+ Công ty P phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp từ ngày 15/10/2021 đến ngày 24/4/2023 quy đổi thành tiền là
19.492.200đ.
Tổng cộng là 149.076.046đ.
- Bị đơn Công ty P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, tại phiên tòa bị
đơn cung cấp 01 văn bản ủy quyền đề ngày 17/4/2023, nội dung ủy quyền cho
người đại diện chỉ được tham gia phiên tòa, cung cấp các tài liệu chứng cứ, làm

3
việc về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngƣời đại diện xác định hai bên có
tồn tại quan hệ lao động theo hợp đồng số 003 ngày 02/01/2021, loại hợp đồng
lao động xác định thời hạn, tuy nhiên hợp đồng đã chấm dứt từ ngày 15/7/2021.
Việc Công ty P ban hành văn bản thông báo số 01 về chấm dứt hợp đồng lao
động với ông H là không cần thiết. Công ty P đồng ý hỗ trợ cho ông H
10.000.000đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An
trình bày tại bản tự khai như sau:
Công ty P tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất
nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố D từ tháng 4/2019. Qua kiểm tra dữ liệu
lƣu trữ thì Công ty P có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế cho ông Nguyễn Minh H từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2021, tuy nhiên
thời gian này ông H đã hƣởng bảo hiểm xã hội 01 lần và hiện tại không còn quá
trình bảo hiểm xã hội. Ngày 30/10/2021, Công ty P có nộp báo cáo điện tử số
103184/2021/07406 báo giảm quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế cho 06 lao động, trong đó có ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho
đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ
ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng
dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập và các
đƣơng sự cung cấp đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị chấp nhận 01 phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bị đơn bồi thƣờng tiền lƣơng từ ngày
15/10/2021 đến ngày 02/01/2022; bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng; bồi thƣờng
khoản tiền theo Nghị quyết 68; buộc Công ty đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho
ông H từ ngày 15/10/2021 đến ngày 02/01/2022.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:
1 Về thủ tục tố tụng:
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét
xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt
các đƣơng sự.
Bị đơn có văn bản ủy quyền ngày 07/4/2023 ủy quyền cho bà Phan Thị
Thúy H tham gia phiên tòa, cung cấp các tài liệu chứng cứ và làm việc về yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Hằng xác định ngoài các nội dung ủy quyền
trên bà không đƣợc ủy quyền về việc quyết định đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bà H đƣợc quyền tham gia phiên
tòa.

4
[2] Về nội dung: Quá trình tố tụng bị đơn không cung cấp ý kiến đối với
các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện hợp
pháp của bị đơn thừa nhận giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng lao động
số 003/2021 thời hạn 01 năm. Căn cứ vào trình bày của nguyên đơn, sổ bảo
hiểm của nguyên đơn cung cấp, báo cáo tình hình sử dụng, đăng ký bảo hiểm do
Bảo hiểm xã hội thành phố D cung cấp và sự thừa nhận của bị đơn có căn cứ xác
định ngày 02/01/2021 ông Nguyễn Minh H và Công ty P ký hợp đồng lao động
số 003/2021 thời hạn 01 năm (từ ngày 02/01/2021 đến ngày 02/01/2022), công
việc phải làm là Tài xế. Mức lƣơng nguyên đơn đƣợc hƣởng là
5.640.000đ/tháng. Nhƣ vậy, giữa nguyên đơn và Công ty P có xác lập quan hệ
lao động là Hợp đồng lao động xác định thời hạn theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 20 Bộ luật lao động.
[3] Về tính hợp pháp của chấm dứt hợp đồng lao động: Nguyên đơn xác
định ngày 18/7/2021, ông H nhận đƣợc tin nhắn từ Group Zalo của Công ty P
với nội dung “từ ngày 19/7/2021, toàn bộ lao động nghỉ việc để phòng chống
dịch Covid-19 cho đến khi có thông báo mới”, trong thời gian này ông H cũng
nhƣ các nhân viên của Công ty P ở nhà phòng chống dịch theo quy định của
Công ty. Đến ngày 15/9/2021 thì ông H nhận đƣợc thông báo số 01/2021 về việc
chấm dứt hợp đồng lao động. Trong thời gian nghỉ dịch ông H chƣa nhận đƣợc
sắp xếp nào từ Công ty về việc tìm các biện pháp khắc phục khó khăn. Tòa án đã
thông báo yêu cầu Công ty P cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh việc
Công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn nhƣng không đƣợc nên buộc
phải cắt giảm lao động, tuy nhiên tại phiên tòa đại diện của Công ty P cũng xác
định không có tài liệu chứng cứ nào để cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa, bà
Hằng cho rằng hợp đồng lao động giữa Công ty với ông H chỉ có thời hạn từ
ngày 02/01/2022 đến ngày 15/7/2021 nên giữa hai bên đã chấm dứt hợp đồng
lao động với ông H kể từ ngày 15/7/2021 việc Công ty ban hành thông báo chấm
dứt hợp đồng lao động là không cần thiết, tuy nhiên không có chứng cứ để
chứng minh việc hai bên chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 15/7/2021 nên
không có cơ sở xem xét. Ngày 15/9/2021 Công ty P chấm dứt hợp đồng lao
động với ông H trong khi ông H đang đƣợc cho nghỉ theo yêu cầu của Công ty
P, theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động thì trong trƣờng hợp này
Công ty P không đƣợc quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó,
thông báo số 01/2021 của Công ty P là trái pháp luật.
[3] Về thời hạn báo trƣớc: Theo nguyên đơn xác định đầu tháng 10/2021
là thời điểm Công ty P hoạt động bình thƣờng trở lại, ngày 15/9/2021 ông H
nhận đƣợc thông báo số 01/2021 về việc chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày
15/10/2021. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động để thực hiện
việc chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn thì Công ty P phải thực hiện báo
trƣớc cho ông H là 30 ngày, tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn thừa nhận đã
nhận đƣợc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động kề từ ngày 15/9/2021, do đó
việc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động là bảo đảm về thời gian không bị vi
phạm thời hạn báo trƣớc.

5
[4] Từ những phân tích trên, do Công ty P chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật nên căn cứ vào Điều 41 Bộ luật lao động, Công ty P phải bồi
thƣờng cho ông H các khoản sau: Tiền lƣơng trong những ngày không đƣợc làm
việc từ ngày 15/10/2021 đến ngày 02/01/2022 (ngày hợp đồng lao động hết hạn)
trên mức lƣơng là 5.640.000đ; bồi thƣờng 02 tháng tiền lƣơng chấm dứt hợp
đồng lao động.
[5] Xét yêu cầu trợ cấp nghỉ việc không hƣởng lƣơng theo quy định tại
Nghị quyết 68/NQ-CP, quyết định số 23/2021/QĐ-Ttg với số tiền 3.710.000đ,
Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngƣời lao động làm việc tại doanh nghiệp.... bị tạm
dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để phòng,
chống dịch COVID-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ
việc không hƣởng lƣơng trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên
tục trở lên, tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2021 ...; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trƣớc
khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hƣởng lƣơng đƣợc
hỗ trợ ...từ 01 tháng trở lên mức 3.710.000 đồng/ngƣời. Công ty P cho ông H
nghỉ việc không hƣởng lƣơng và phải có trách nhiệm lập danh sách gửi cho Ủy
ban nhân dân cấp huyện nơi doanh nghiệp có trụ sở để đƣợc chi trả khoản trợ
cấp này, tại phiên tòa đại diện của bị đơn thừa nhận không thực hiện các thủ tục
này cho ngƣời lao động do đó để đảm bảo quyền lợi của ngƣời lao động cần
chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[6] Xét yêu cầu chi trả khoản trợ cấp thôi việc, căn cứ vào bản tự khai của
Bảo hiểm xã hội D thì từ tháng 6/2018 đến tháng 9/2021, ông H đã làm thủ tục
nhận bảo hiểm xã hội 01 lần, đồng thời hợp đồng lao động mà nguyên đơn đang
tranh chấp là hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, do đó không có căn
cứ để xem xét đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[7] Xét yêu cầu đóng bảo hiểm xã hội và quy đổi ra tiền của nguyên đơn
thấy rằng, theo quy định tại Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội thì trách nhiệm của
ngƣời sử dụng lao động là phải đóng bảo hiểm xã hội cho ngƣời lao động theo
quy định của pháp luật và trích từ tiền lƣơng của ngƣời lao động. Do Công ty P
đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên có căn cứ chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn. Ông H có nghĩa vụ đóng cùng với Công ty P theo quy
định. Không có căn cứ chấp nhận việc quy đổi thành tiền của nguyên đơn.
[8] Quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Công ty P phải chịu án phí trên số tiền trả cho nguyên đơn;
đối với yêu cầu của nguyên đơn không đƣợc chấp nhận thì cũng không phải
chịu.
Vì các lẽ trên;
:
- Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

6
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 20; khoản 2 Điều 37; Điều 41; Điều 168
Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 18, Điều 19, khoản 2 và khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã
hội;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Minh H đối với Công ty TNHH Vận tải P về Tranh chấp đơn phƣơng chấm dứt
hợp đồng lao động.
- Tuyên bố Thông báo số 01/2021 ngày 15/9/2021 của Công ty TNHH
Vận tải P về chấm dứt hợp đồng lao động với ông Nguyễn Minh H là trái pháp
luật.
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh H tiền
lƣơng trong những ngày không đƣợc làm việc từ ngày 15/10/2021 đến ngày
02/01/2022 là 02 tháng 16 ngày là 14.751.000 (mƣời bốn triệu bảy trăm năm
mƣơi mốt nghìn) đồng;
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh H 02
tháng lƣơng do chấm dứt hợp đồng lao động là 11.280.000 (mƣời một triệu hai
trăm tám mƣơi nghìn) đồng;
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P chi trả khoản tiền theo Nghị quyết
68/NQ-CP là 3.710.000 (ba triệu bảy trăm mƣời nghìn) đồng.
Tổng cộng Công ty TNHH Vận tải P phải bồi thƣờng cho ông Nguyễn
Minh H là 29.741.000 (hai mƣơi chín triệu bảy trăm bốn mƣơi mốt nghìn)
đồng.
- Buộc Công ty TNHH Vận tải P phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt
buộc và trích từ tiền lƣơng của ông Nguyễn Minh H đƣợc bồi thƣờng nêu trên
đối với phần ông Nguyễn Minh H phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội
bắt buộc cho ông Nguyễn Minh H theo quy định của pháp luật từ ngày
15/10/2021 đến ngày 02/01/2022 tại Cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An.
Việc đóng bảo hiểm xã hội Công ty phải thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu
lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh H đối với khoản tiền
trợ cấp thôi việc 5.640.000 (năm triệu sáu trăm bốn mƣơi nghìn) đồng; bồi
thƣờng tiền lƣơng và bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 03/01/2022 đến ngày xét

7
xử sơ thẩm 24/4/2023; bồi thƣờng 15 ngày vi phạm thời hạn báo trƣớc là
3.253.846 (ba triệu hai trăm năm mƣơi ba nghìn tám trăm bốn mƣơi sáu) đồng.
3. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh H không phải nộp.
Công ty TNHH Vận tải P phải nộp 892.230 (tám trăm chín mƣơi hai nghìn hai
trăm ba mƣơi) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày tuyên án, đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
5. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dƣơng;
- VKSND TP Dĩ An;
- Chi cục THADS TP Dĩ An;
- Đƣơng sự;
- Lƣu: VT; HS.
-
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm