Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST ngày 17/01/2023 của TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST ngày 17/01/2023 của TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Vĩnh Cửu (TAND tỉnh Đồng Nai) |
| Số hiệu: | 04/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/01/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông H xin ly hôn với bà D |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/01/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Bình
2. Ông Tôn Thất Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa:
Thái Thị Lan – Kiểm Sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu,
tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 506/2022/TLST
– HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13
tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2022/QĐST-HNGĐ
ngày 29 tháng 12 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1990.
2. Bị đơn: Bà Tiêu Kim D, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Nhà không số thuộc tổ M, ấp B, xã P, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh
Đồng Nai.
(Ông H và bà D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông H
trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà D chung sống với nhau từ năm 2014 và
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và
được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng
2
sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính
tình không hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã
nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng
hơn, hiện ông và bà D sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay ông H
xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên
yêu cầu được ly hôn với bà D.
Về quan hệ con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh
ngày 11/5/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 01/7/2016. Ly hôn, ông H
yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu bà D phải cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
* Lời khai của bị đơn bà D trình bày: Quá trình giải quyết vụ án bà D vắng
mặt nên không ghi nhận được lời khai của bà D.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia
phiên tòa:
- Về tố tụng:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký
Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng,
đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy đinh của Bộ luật Tố tụng dân
sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý đến
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố
tụng; bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử cho ông Nguyễn Hữu H được ly hôn
với bà Tiêu Kim D. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị
Tường V, sinh ngày 11/5/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 01/7/2016
cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; do ông H không yêu cầu
nên tạm thời bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ
chung: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông H phải chịu theo
quy định của pháp luật.
Đương sự không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Hữu H khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Tiêu Kim D, Hội đồng xét xử
xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo địa chỉ trong đơn khởi kiện và biên
bản xác minh tại Công an xã P, huyện Vĩnh Cửu cung cấp thông tin bà D có
đăng ký tạm trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: ấp B, xã P, huyện Vĩnh Cửu,
tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân
huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
[1.3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập tài
liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết
định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và
Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và
được cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 14 ngày 03/3/2014 nên áp dụng Điều 9,
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng ông H xác định giữa ông và bà D phát sinh mâu thuẫn
không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính
tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên
cãi vã. Hai vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm chăm sóc cho ai nên tình cảm
vợ chồng vợ chồng không còn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án hòa giải nhưng
bà D vẫn không đến Tòa án để làm việc như vậy thể hiện bà D không quan tâm
đến hôn nhân với ông H. Qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà D
tại nơi cư trú, được địa phương cung cấp thông tin giữa ông H và bà D có xảy ra
mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm và đã
sống ly thân. Như vậy, lời trình bày của ông H và kết quả xác minh tại địa
phương phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà D đã trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên

4
xét chấp nhận yêu cầu của ông H xin ly hôn với bà D là phù hợp với khoản 1
Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Ông H và bà D có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị
Tường V, sinh ngày 11/5/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 01/7/2016. Ly
hôn ông H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của ông H
là chính đáng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa
vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận
được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét
nguyện vọng của con”. Xét thấy, ông H trình bày và kết quả xác minh tại địa
phương thì ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; hiện nay cháu V
và cháu Phúc còn nhỏ và đang sinh sống ổn định với ông H, hơn nữa bà D không
lên Tòa làm việc, không ghi nhận được nguyện vọng của bà D về việc nuôi con
chung. Hiện cháu V trên 07 tuổi có nguyện vọng muốn ở với ông H, cháu Phúc
còn nhỏ nên để các cháu chung sống với nhau là phù hợp với lợi ích của con.
Hơn nữa, ông H có nơi cư trú ổn định, công việc có thu nhập đảm bảo để chăm
lo cuộc sống của các cháu. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống của cháu V và cháu
Phúc được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi
về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử giao con chung cho
ông H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với
quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bà D thực hiện các
quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có
quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi
con chung, bà D không lên Tòa làm việc và không ghi nhận được nguyện vọng
của bà D nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án
ông H khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà D không đến Tòa
án làm việc và không ghi nhận được ý kiến của bà D nên Hội đồng xét xử quyết
định không xem xét giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn.
[2.4] Về nợ chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông H
khai không có, bà D không đến Tòa án làm việc và không ghi nhận được ý kiến
của bà D nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết đối với yêu
cầu nợ chung.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu là có
căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
5
[4] Về án phí: Ông H chịu án phí hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều
144; Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H về việc
ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà Tiêu Kim D.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu H được ly hôn với bà Tiêu
Kim D.
1.2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tường V, sinh
ngày 11/5/2014 và cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 01/7/2016 cho ông H được
quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà D tạm thời
không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, bà D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con mà không ai được cản trợ. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai
bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp
dưỡng nuôi con chung.
1.3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông H đã nộp tại biên lai số 0004625 ngày
25/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Ông
H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
6
Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND H. Vĩnh Cửu;
- Chi cục THADS H. Vĩnh Cửu;
- UBND xã P;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm