Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bảo Thắng (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 04/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/03/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xử không công nhận chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là vợ chồng; Về con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 04/2022/HNGĐ - ST
Ngày 02/3/2022
V/v " Ly hôn, tranh chấp về nuôi dưỡng
con chung khi ly hôn .
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Như Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Phạm Tuấn Thịnh
2. Bà: Trần Thị Huệ
Thư ký phiên tòa: Thị Thanh Tuyền - Thư Tòa án nhân dân
huyện B, tỉnh Lào Cai.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022. Tại trụ sToà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào
Cai tiến hành xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
233/2021/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 về việc Ly hôn, tranh chấp
về nuôi dưỡng con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
05/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Lý Thị L.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà.
2- Bị đơn: Anh Phùng Văn L.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Thị L các bản tự khai cùng các tài liệu
chứng cứ đã trong hồ vụ án thì chị Thị L anh Phùng Văn L đều xác
nhận anh, chị về chung sống với nhau như vợ chồng, trên sở tự nguyện từ thời
gian năm 2010, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng
không đăng kết hôn. Sau ngày cưới anh, chị về chung sống với nhau tại Thôn
B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai và đã có 02 con chung với nhau Đến năm 2016 thì
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm trong làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình nuôi dạy con i, Anh
Phùng Văn L thường xuyên rượu chè, đánh đập, chửi bới vợ con, dẫn đến việc
thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Thực tế anh chị đã tự sống
ly thân từ năm 2016 đến nay. Khi mâu thuẫn xảy ra anh, chị đã được hai bên gia
đình, anh em bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng đều không kết quả. Nhận
thấy tình cảm không còn, ngày 14/12/2021 chị Lý Thị L đã làm đơn khởi kiện đề
2
nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn
L theo quy định của pháp luật.
Anh Phùng Văn L xác nhận anh chị Lý Thị L về chung sống với nhau
như vợ chồng, trên sở tự nguyện từ thời gian năm 2010, tổ chức cưới hỏi
theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới
anh, chị về chung sống với nhau tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai và đã
02 con chung với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính
dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống
gia đình và nuôi dạy con cái, trong cuộc sống anh chị thường xuyên sảy ra i
chửi nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Đến nay chị
Thị L có yêu cầu xin được ly hôn anh cũng nhất trí vì thực tế tình cảm không còn,
cuộc sống chung không hạnh phúc.
Về con chung: Chị Thị L anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời
gian chung sống cho đến nay anh, chị đã có 02 con chung.
Cháu lớn: Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011;
Cháu thứ hai: Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016;
Hiện nay cả 02 cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường cháu lớn
đang cùng với chị, cháu nhỏ đang cùng với anh tại thôn Bản Lọt, Bản Cầm,
huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Thị L anh Phùng Văn L thỏa thuận
để chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Thị Tr để
anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Văn Đ cho
đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không n nào phải cấp dưỡng tiền
nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: Chị Thị L anh Phùng Văn L đều xác nhận trong
thời gian chung sống anh, chị tạo dựng được một số tài sản chung nhưng trị giá
không lớn. Nên khi ly hôn anh chị tự thỏa thuận chia đều không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về ng nợ chung: Chị Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong
thời gian chung sống anh chị không vay nợ của ai và cũng không cho ai vay nợ
nên khi ly hôn anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ ván, được thẩm
vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị L anh Phùng Văn L chung sống
với nhau như vợ chồng từ thời gian năm 2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có
tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng kết
hôn theo quy định của pháp luật. Cũng từ đó cho đến nay anh chị không đến
quan nhà nước thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do
vậy Hội đồng xét xử xác định đây cuộc hôn nhân bất hợp pháp không được
pháp luật thừa nhận. Sau ngày cưới anh, chị về chung sống hòa thuận hạnh phúc
đã có 02 con chung với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân
chính dẫn đến việc chị Thị L làm đơn xin ly hôn anh Phùng Văn L do quan
điểm, cách sống không thống nhất với nhau trong làm ăn tạo dựng cuộc sống gia
đình nuôi dạy con cái. Xuất phát từ đó anh, chị thường xuyên xảy ra cãi chửi
3
lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân đôi bên gia đình. Khi mâu thuẫn
xảy ra anh, chị đã được hai bên gia đình, anh em bạn khuyên giải nhiều lần
nhưng không có kết quả. Thực tế anh, chị đã tự sống ly thân từ năm 2016 đến nay.
Nhận thấy tình cảm không còn, ngày 14/12/2021 chị Thị L đã làm đơn khởi
kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết cho chị anh Phùng n L
được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phùng Văn L ng xác nhận anh
chị Lý Thị L về chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn
tại quan nhà nước thẩm quyền. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị Thị
L trình bầy đúng. Đến nay chị Thị L yêu cầu đnghị Tòa án giải quyết
cho anh chị được ly hôn anh Phùng Văn L ng nhất tvới do tình cảm giữa
anh chị không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc.
Xét thấy việc chung sống của chị Thị L anh Phùng Văn L trái với
các qui định của pháp luật về hôn nhân gia đình. Tại phiên tòa hôm nay chị
Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh chị
được ly hôn. Anh Phùng Văn L cũng nhất trí với do tình cảm không còn, cuộc
sông chung không hạnh phúc. Hội đồng t xử xét thấy yêu cầu của chị Thị L
anh Phùng Văn L tại phiên tòa là căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần cần chấp
nhận xử không công nhận chị Thị L anh Phùng Văn L là vợ chồng là
căn cứ phù hợp với Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 luật hôn
nhân và gia đình.
[2].Về con chung: Chị Thị L anh Phùng Văn L đều xác nhận trong
thời gian chung sống cho đến nay anh, chị đã có 02 con chung.
Cháu lớn: Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011;
Cháu thứ hai: Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016;
Hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường đang với
cùng vớ anh, chị tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Lý Thị L
anh Phùng Văn L thỏa thuận để chị Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc
cháu Phùng Thị Tr để anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu
Phùng Văn Đ cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải
cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Tại phiên tòa hôm nay xét thấy sự thỏa
thuận của chị Thị L anh Phùng Văn L vcon chung. Hội đồng xét xxét
thấy là phù hợp với các quy định tại Khoản 1 Điều 14; Điều 15, 81,82, 83 luật hôn
nhân gia đình, phù hợp với tâm nguyện vọng của các cháu. Đảm bảo
được quyền, lợi ích về mọi mặt cho các cháu. Nên Hội đồng xét xcần chấp
nhận.
[3] Về tài sản chung: Chị Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận
trong thời gian chung sống anh chị tạo dựng được một số tài sản chung nhưng
trị giá không lớn. Khi ly hôn anh chị tự thỏa thuận chia không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[4] Về công nợ chung: Chị Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận
trong thời gian chung sống anh chị không vay nợ của ai cũng không cho ai
vay n nên khi ly hôn anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng
xét xử không đề cập giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
4
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ o Khon 1 Điu 9; Khoản 1 Điu 14; Điều 15; Khon 2 Điều 53;
Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí lệ pa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Thị L anh Phùng
Văn L là vợ chồng.
2. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Thị L anh
Phùng Văn L về con chung như sau: Chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc
giáo dục cháu Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011; Anh Phùng Văn L trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm c giáo dục cháu Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016 cho
đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không n nào phải cấp dưỡng tiền
nuôi dưỡng con chung.
Sau khi ly n chị Thị L anh Phùng Văn L quyền, nghĩa vụ thăm
nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí Dân sự thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí thẩm đã nộp theo biên lai số 0002783 ngày 17/12/2021 tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.
Xác nhận chị Lý Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai thẩm, báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện B;
- THA dân sự huyện B;
- UBND xã Bản Cầm, huyện B; Đã ký
- Các đương sự (2);
- Lưu HS – TA - VP.
Phạm Như Long
5
Tải về
Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất