Bản án số 04/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Thái Bình về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Thái Bình về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Bình |
| Số hiệu: | 04/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Trương Văn T - Đỗ Minh H tranh chấp v/v Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 04/2022/DS-PT
Ngày 27/01/2022 V/v Bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Toàn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Bà Lương Hải Yến, bà Đỗ Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án ND tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà
Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2021/TLPT-DS ngày 26/11/2021 về việc
“Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của Tòa án
nhân dân huyện K bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2022/QĐ-PT ngày
12/01/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1944
- Bị đơn: Anh Đỗ Minh H, sinh năm 1978
Đều trú tại: Thôn B, xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Bà Nguyễn Thị H1 -
Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thái Bình.
- Người kháng cáo: Anh Đỗ Minh H - bị đơn
(ông T, anh H, bà H1 có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - Ông Trương Văn T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn trình bày: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/7/2020, tại thôn
B, xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình, giữa ông T và anh Đỗ Minh H có xảy ra xô xát.
Anh H đã dùng tay đánh vào mặt ông T theo hướng từ dưới lên trên, làm ông T bị
thương tích ở vùng miệng bên trái và bị ngã ngửa ra đường bê tông, đầu ông T đập
xuống đường gây chấn thương sọ não. Sau đó ông T được đưa đi cấp cứu tại bệnh
viện đa khoa Thái Bình từ ngày 24/7/2020 đến ngày 07/8/2020 xuất viện, tiếp tục
điều trị tại bệnh viện Lâm Hoa từ ngày 07/8/2020 đến ngày 14/8/2020 thì xuất
2
viện. Công an huyện K đã ra quyết định trưng cầu giám định, kết quả ông T bị tổn
thương cơ thể do thương tích gây nên là 9%. Anh H chưa bồi thưởng khoản thiệt
hại nào cho ông T. Nay ông T yêu cầu anh H phải bồi thường các khoản gồm:
+ Tiền thuốc điều trị ở bệnh viện đa khoa Thái Bình: 15.884.000 đ;
+ Bệnh viện đa khoa Lâm Hoa: 3.184.000 đ
+ Thuốc mua ngoài theo đơn: 14.981.000 đ;
+ Tiền thuê xe đi cấp cứu: 330.00đ;
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong
thời gian điều trị tại bệnh viện: 4.400.000đ;
+ Bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 5.000.000đ;
+ Bồi thường khoản bù đắp tổn thất về tinh thần bằng 8 lần mức lương cơ
sở do Nhà nước quy định: 11.920.000đ
Tổng bằng: 55.699.000đ
* Bị đơn - anh Đỗ Minh H trình bày: Khoảng 09 giờ ngày 24/7/2020, khi
hợp tác xã A mở cống lấy nước vào đồng, anh thấy nước dâng lên chảy vào rãnh
trước cửa nhà anh, anh lấy cuốc ra khơi để nước chảy vào ao. Khi anh đang khơi
thì ông T ra chửi không cho khơi và đến túm cổ áo anh, anh giật mình lấy tay trái
gạt về phía sau để hất tay ông T ra. Do cúc áo của anh bị đứt nên ông T trượt tay
bị ngã vật ra đằng sau. Sau khi sự việc xảy ra Công an xã A và Công an huyện K
đã xác minh và xử phạt vi phạm hành chính đối với anh, số tiền 2.500.000 đồng.
Anh đã chấp hành xong. Ông T có đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và Bệnh
viện đa khoa Lâm Hoa điều trị. Gia đình anh có đến bệnh viện và nhà thăm hỏi và
có ý bồi dưỡng cho ông T nhưng gia đình ông không chấp nhận, lại còn chửi bởi
nặng lời. Đến nay ông T khởi kiện đòi bồi thường số tiền 55.699.000đ, anh không
bồi thường, vì anh không có lỗi trong sự việc này.
Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của Tòa án
nhân dân huyện K đã quyết định:
- Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phi, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn Thẩm.
2. Buộc anh Đỗ Minh H bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn T tổng số
tiền là: 50.028.000đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 03/11/2021 anh H có đơn kháng cáo toàn bộ bán án dân sự sơ thẩm số
06/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện K.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Anh không nhận
được giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm lần 2 ngày 29/9/2021, Tòa án nhân
dân huyện K vẫn xử vắng mặt anh và niêm yết bản án, mà không gửi cho anh. Tòa
3
án sơ thẩm tính bồi thường chưa chính xác, nhập nhằng, anh không đồng ý bản án
sơ thẩm và không chấp hành. Do ông T túm cổ áo anh nên anh gạt tay ông T ra là
phản xạ tự nhiên của con người, anh kháng cáo đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét
giải quyết sự việc cho công bằng.
Ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Ông cho rằng anh H đánh ông
bằng hung khí từ bên ngoài cổng vào, đánh vào đầu ông khiến ông ngã ngửa ra.
Người bảo vệ quyền lợi cho ông T trình bày: Việc anh H gạt tay khiến ông T ngã
ra, anh H đã có lỗi, gây thiệt hại cho ông T, anh H phải bồi thường. Đề nghị Tòa
án phúc thẩm tuyên bác yêu cầu kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa trình
bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc
thẩm, người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của anh H không có căn cứ. Đề nghị Tòa phúc
thẩm xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Đơn kháng cáo của bị đơn gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định và có
đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, vì vậy kháng cáo là hợp lệ, được
xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
- Về việc tống đạt giấy triệu tập: Cấp sơ thẩm tiến hành xét xử khi chưa
tống đạt được giấy triệu tập phiên tòa lần 2 cho bị đơn là có thiếu sót. Song bị đơn
đã được tống đạt bản án và bị đơn đã thực hiện quyền kháng cáo nên quyền của bị
đơn vẫn được bảo đảm.
- Về nội dung sự việc:
Tại bản tự khai ngày 30/7/2021 và tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đỗ Minh H
khai: “Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2020, khi anh đang khơi rãnh nước, ông T tiến
đến túm cổ áo anh, anh dùng tay gạt về phía sau để hất tay ông T ra, nên ông T bị
ngã vật ra đằng sau. Ông T phải đi viện điều trị và bị tổn thương cơ thể do
thương tích gây nên là 9%. Anh đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ.
Anh đã nộp số tiền này”.
Như vậy anh H thừa nhận anh có hành vi gạt tay hất tay ông T làm ông T bị
ngã xuống đường bê tông gây thiệt hại sức khỏe cho ông T, anh H đã bị xử phạt
hành chính và anh đã chấp hành nộp phạt. Anh H là người có lỗi gây thiệt hại cho
ông T nên anh H phải có trách nhiệm bồi thường. Ông T cho rằng anh H đánh ông
bằng hung khí tại cổng nhà ông nhưng không có căn cứ chứng minh.
- Về các khoản thiệt hại:
4
+ Tiền xe đi viện ngày 24/7/2020 là 330.000 đồng.
+ Chi phí điều trị tại bệnh viện Đa khoa Thái Bình từ ngày 25/7 đến ngày 7/8
(14 ngày) gồm:
Tiền khám bệnh và chuẩn đoán hình ảnh ngày 24/7/2020 là 742.000 đồng
Tiền chuẩn đoán hình ảnh ngày 19/10/2020 là 536.000 đồng
Tiền mua thuốc theo đơn của bác sỹ gồm:
Hóa đơn bán lẻ ngày 25/7/2020 là 4.680.000 đồng
Hóa đơn bán lẻ ngày 28/7/2020 là 4.894.000 đồng
Hóa đơn bán lẻ ngày 29/7/2020 là 787.000 đồng
Hóa đơn bán lẻ ngày 07/8/2020 là 4.620.000 đồng
Bản kê chi phí điều trị lập ngày 07/8/2020 là: 14.606.189 đồng
+ Chi phí điều trị tại Bệnh viện Lâm Hoa từ ngày 07/8/2020 đến ngày
14/8/2020 (7 ngày) gồm:
Chi phí chụp cắt lớp ngày 7/8/2020 là 600.000 đồng
Chi phí xét nghiệm tế bảo máu ngày 7/8/2020 là 60.000 đồng
Bản kê chi phí điều trị lập ngày 14/8/2020 là 3.184.000đ
Chi phí sao bệnh án ngày 13/10/2020 là 90.000 đồng
Tổng là: 35.129.000đ
Các chi phí này có hóa đơn chứng từ hợp lệ, do vậy cần được chấp nhận
toàn bộ. Cấp sơ thẩm không tính số tiền ông T được Bảo hiểm chi trả là không
đúng vì tiền Bảo hiểm chi trả có được là do ông T đã đóng phí bảo hiểm.
+ Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: Do anh H gạt tay, ông T ngã ra, thương tích
nhẹ 9% vì vậy cần tính khoản tiền này bằng 3 tháng lương cơ sở là thỏa đáng: 3 x
1.490.000 đồng = 4.470.000 đồng.
+ Các khoản thiệt hại khác, án sơ thẩm đã xác định là phù hợp thực tế cần
được chấp nhận, bao gồm:
Tiền ngày công lao động của người trông coi tại 2 bệnh viện là 120.000
đồng x 21 ngày = 2.520.000 đồng. Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là:
5.000.000 đồng.
Cộng các khoản anh H phải bồi thường là: 47.119.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên không cụ thể các khoản phải bồi thường,
quyền và nghĩa vụ về thi hành án. Do vậy cần phải sửa bản án sơ thẩm.
4. Về án phí sơ thẩm: Do nghĩa vụ bồi thường được xác định lại nên cần
tính lại án phí sơ thẩm của anh H = 5% x 47.119.000 đồng = 2.355.000đ
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bản án sơ thẩm bị sửa nên anh H không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận
một phần kháng cáo của anh Đỗ Minh H sửa bản án sơ thẩm số 06/2021/DS-ST
ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
- Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự,
5
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phi, lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn T về việc yêu
cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
2. Buộc anh Đỗ Minh H bồi thường cho ông Trương Văn T các khoản thiệt hại
gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện Đa khoa Thái Bình và bệnh biện Đa khoa Lâm
Hoa, tiền thuốc, tiền xét nghiệm, chụp cắt lớp, chuẩn đoán, tiền xe đi viện, tiền sao
bệnh án, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền công
người phục vụ, tổng bằng 47.119.000 (bốn mươi bảy triệu một trăm mười chín
ngàn) đồng.
Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án, anh H còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí sơ thẩm:
Anh H phải chịu 2.355.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật thi hành án dân sự.
[2] Về án phí phúc thẩm: Anh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày
27/01/2022.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- TAND h. K;
- Chi cục THADS h. K;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
- Lưu HC-TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Toàn Nghĩa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm