Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Số hiệu: 03/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: V/v khiếu kiện quyết định hành chính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
Bản án số: 03/2026/HC-ST
Ngày: 25-8-2026
“V/v khiếu kiện quyết định hành chính”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Toàn
Ông Nguyễn Anh Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên
toà: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hành chính sơ thẩm thụ lý số:
07/2025/TLST-HC, ngày 26 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HC, ngày 26 tháng 6 năm 2026, giữa các đương
sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê Ngọc C, sinh năm 1959 và bà Trần Thị T, sinh
năm 1965; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H (tổ dân phố Tam H 1 cũ), phường Hải N,
tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Phạm Thị Xuân H,
sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố Nam H (tổ dân phố Thượng Hi cũ), phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh; Địa chỉ:
Tổ dân phố Hải H, phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bá T - Chức vụ: Chủ tịch Ủy
ban nhân dân phường Hải N (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi N vụ liên quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Trần Bá T (Vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện và người có quyền lợi N
vụ liên quan: Ông Phạm Danh H - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường Hải N (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện và người có
quyền lợi N vụ liên quan: Ông Trần Đình Đ - Chức vụ: Cyên viên Phòng Kinh
tế, Hạ tầng và Đô thị Uỷ ban nhân dân phường Hải N (Có mặt)
- Người làm chứng:
2
+ Ông Lê Văn T, sinh năm 1948; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Trần Đình H, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H,
phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Lê Trọng N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Võ Đình T, sinh năm 1944; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Đậu Thị T, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Dương Đình T, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H,
phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường
Hải N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Lê Thị D, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Văn T; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải N, tỉnh
Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Ông Phạm K, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
+ Bà Lê Thị T, sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ dân phố Tam H, phường Hải
N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của
người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, vụ án có
nội dung: Ngày 09/3/1987, ông Lê Ngọc C được Hợp tác xã (HTX) Tam Hải
cấp một thửa đất làm nhà ở. Hiện trạng là thửa đất số 54, tờ bản đồ số
10/299TTg tại tổ dân phố Tam H, phường Hải N (nay là thửa đất số 04, tờ bản
đồ số 57), diện tích 932,6m². Sau khi kết hôn (13/5/1987) và xuất ngũ
(30/4/1988), gia đình ông C dựng nhà tranh làm nhà ở ổn định, liên tục trên thửa
đất đến ngày 30/12/1998. Từ ngày 01/01/1999, do bão lớn tàn phá nhà cửa, gia
đình chyển đi nơi khác nhưng vẫn tiếp tục rào chắn, sử D thửa đất này để canh
tác, trồng cây (tràm, phi lao, hoa màu) liên tục đến nay, không có tranh chấp. Do
thiên tai, Quyết định giao đất năm 1987 đã bị thất lạc, tuy nhiên, nguyên Chủ
nhiệm HTX Tam Hải (ông Trần Xuân Linh) cùng cán bộ thôn và người dân địa
phương đều xác nhận nguồn gốc đất này cho gia đình ông C.
Ngày 26/9/2025, bà Phạm Thị Xuân H (đại diện ủy quyền của ông Lê
Ngọc C và bà Trần Thị T) nộp hồ sơ xin đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất
3
lần đầu. Đến ngày 27/11/2025, UBND phường Hải N trả kết quả bằng Thông
báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025 với nội dung: Ông Lê Ngọc C và bà
Trần Thị T không đủ điều kiện để được đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất
và cấp Giấy CNQSD đất lần đầu đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57.
Người khởi kiện cho rằng Thông báo số 167/TB-UBND trái pháp luật vì:
Theo quy định pháp luật về đất đai hiện hành, thẩm quyền ban hành văn bản trả
lời quyết định đối với hồ sơ đăng ký đất đai cấp xã thuộc về Chủ tịch UBND cấp
xã, không phải thẩm quyền của UBND cấp xã; Về nội dung: UBND phường kết
luận gia đình sử D đất "không ổn định" dựa trên việc có người tên "Phạm V"
từng ở trên đất là không đúng thực tế (người dân xác nhận không có ai tên Phạm
V ở TDP Tam Hải 1 từng sử D thửa đất này). Đồng thời, hồ sơ cuộc họp ngày
07/5/2025 của Hội đồng đăng ký đất đai có dấu hiệu giả mạo chữ ký của một số
hộ dân (bà Trần Thị Liên, ông Lê Văn T) và nội dung biên bản bị tráo đổi,
không đúng với sự đồng thuận 100% của người dân tại cuộc họp, bị tráo đổi từ
trang 1 đến trang 4 nên không có chữ ký giáp lai của thành phần tham gia cuộc
họp; kết quả thẩm định, kiểm tra hiện trạng không phản ánh đầy đủ hiện trạng
tài sản gắn liền với đất.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện khẳng
định ông C và bà T chưa bao giờ nhận được Văn bản số 47 ngày 15/12/2013 và
Văn bản số 23 ngày 28/6/2014 của UBND xã Kỳ Ninh, thị (cũ), Chỉ đến khi sao
chụp các tài liệu trong vụ án này mới thấy có 02 văn bản này
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện yêu
cầu tuyên hủy Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025 của UBND
phường Hải N; Buộc UBND phường Hải N nhận lại hồ sơ xin đăng ký đất đai,
cấp Giấy CNQSD đất lần đầu; Buộc Chủ tịch UBND phường H phải thực hiện
hành vi hành chính ban hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn liền
với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
cho ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 tại tổ
dân phố Tam Hải 1 (nay là tổ dân phố Tam Hải), phường Hải Ninh, tỉnh Hà
Tĩnh. Tuy nhiên, tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện
rút yêu cầu buộc Chủ tịch UBND phường H về việc phải thực hiện hành vi hành
chính ban hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy
chứng nhận quyền sử D đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 tại tổ dân phố
Tam H, phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh cho ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T và
kiến nghị Chủ tịch UBND phường H phải thực hiện hành vi hành chính ban
hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 04, tờ
bản đồ số 57 tại tổ dân phố Tam H, phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh cho ông Lê
Ngọc C và bà Trần Thị T.
Ý kiến của người đại diện theo quyền của người bị kiện và người có quyền
lợi N vụ liên quan:
- Về hình thức, thẩm quyền ban hành Thông báo số 167/TB-UBND ngày
25/11/2025 của UBND phường Hải N: Trong quá trình thực hiện, cán bộ tham
mưu đã có sự nhầm lẫn về thẩm quyền ký ban hành các văn bản nêu trên nên
4
dẫn đến thẩm quyền ban hành văn bản chưa phù hợp với quy định. UBND
phường Hải N tiếp thu và chấp nhận tuyên huỷ các văn bản nêu trên để thực
hiện theo đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Hồ sơ của ông C không có giấy tờ nào quy định tại Điều
137 Luật Đất đai năm 2024. Theo hồ sơ địa chính thời kỳ 299/TTg, thửa đất này
được xác định là thửa số 54, tờ bản đồ số 10/299TTg, ghi tên chủ sử D là Lê
Hồng (Đơn đăng ký lập ngày 31/7/1985), không có tên ông Lê Ngọc C. Kết quả
xác minh tại Biên bản làm việc ngày 06/11/2025 thể hiện: Ông C sử D đất từ
1987 đến năm 1996 thì Cyển sang thửa đất khác sinh sống (đã được cấp giấy
CNQSD đất năm 1999). Từ 1996 đến 2001, thửa đất này do hộ ông Phạm V sử
D. Từ sau 2001, thửa đất bỏ hoang, không ai canh tác. Đến năm 2025, gia đình
ông C mới tự ý trồng cây tràm lên đất. Do đó, việc sử D đất của ông C là không
ổn định, không liên tục theo Khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai 2024, không đủ điều
kiện cấp giấy CNQSD đất theo Điều 138 Luật Đất đai 2024.
Tại phiên toà, UBND phường Hải N thừa nhận việc UBND phường ký
ban hành Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025 là chưa đúng với thẩm
quyền vì thẩm quyền ban hành thông báo là của Chủ tịch UBND phường. Trong
quá trình kiểm tra hiện trạng, tài sản trên đất còn thiếu sót một số loại cây lâu
năm như cây phi lao và cây tràm và chưa làm rõ thời điểm hình thành của số cây
này. Biên bản Họp đội đồng đăng ký đất đai lần đầu ngày 7/5/2025 của UBND
phường Kỳ Ninh (cũ) để xét nguồn gốc, thời điểm sử D đất của ông Lê Ngọc C
có chữ ký của ông Lê Văn T chưa đúng do ông Thọ không ký được nên nhờ
người ký thay. UBND phường Hải N sẽ tiếp thu, trong quá trình thực hiện sẽ
thận trọng, kiểm tra, xác minh đầy đủ các tình tiết để làm rõ thêm về nguồn gốc,
thời điểm sử D của ông Lê Ngọc C theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu buộc UBND phường Hải N tiếp nhận lại hồ sơ sơ xin
đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất lần đầu của ông Lê Ngọc C và bà Trần
Thị T: UBND phường Hải N khẳng định tôn trọng và chấp hành nghiêm túc các
quyết định, bản án của Tòa án. Tại phiên toà UBND phường đồng ý tiếp nhận
ngay hồ sơ của ông C và bà T để xem xét, giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục.
Mặc dù, tại phiên toà, phía người khởi kiện rút yêu cầu về việc buộc Chủ tịch
UBND phường H thực hiện ban hành văn bản giải quyết đối với hồ sơ của ông
C và bà T, tuy nhiên UBND phường, chủ tịch UBND phường cũng cam kết sau
sẽ ban hành văn bản giải quyết đối với hồ sơ của ông C, bà T kịp thời, đúng quy
định của pháp luật.
Ý kiến của người làm chứng ông Lê Văn T: Quá trình UBND phường xác
nhận nguồn gốc của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T có mời ông làm việc vào
ngày 07/5/2025 và ngày 06/11/2025, nội dung phát biểu như trong các biên bản
là đúng với ý kiến của ông. Tuy nhiên, do bị run tay nên ông không ký được vào
biên bản mà nhờ người ký, ai ký thì ông không nhớ. Nay đề nghị giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Ý kiến của người làm chứng ông Trần Đình H: Ông H thừa nhận ngày
06/11/2025 tham gia buổi làm việc xác minh nguồn gốc, thời điểm sử D đất,
hiện trạng sử D đất của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T; thừa nhận chữ ký tại
5
biên bản, tuy nhiên tại thời điểm ký biên bản, ông không đọc kỹ và cũng không
được ai đọc lại biên bản. Ông thừa nhận khoảng năm 1987 ông C và T có sử D
thửa đất được xác minh trong biên bản, tuy nhiên từ năm 1996 đến năm 2021 thì
ông Lê Ngọc C bỏ hoang, không sử D đất. Đến năm 2021 ông C quay lại rào đất
và trồng cây hoa màu. Ông Trần Đình H không đồng ý với nội dung trong biên
bản liên quan đến sự việc có ông Phạm V ở khoảng 5-6 năm trên thửa đất ông C
đang xin cấp giấy chứng nhận. Đối với Biên bản xác minh nói trên, ông không
công nhận ý kiến của ông được ghi nhận trong biên bản vì nguyên nhân nội
dung biên bản không đúng ý kiến tại buổi làm việc và ông không đọc kỹ biên
bản trước khi ký, đề nghị không sử D ý kiến của ông trong Biên bản xác minh.
Ý kiến của người làm chứng ông Nguyễn Tiến H: Ông H thừa nhận ngày
06/11/2025 tham gia buổi làm việc liên quan đến xác minh nguồn gốc, thời điểm
sử, hiện trạng sử D đất của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T, thừa nhận chữ ký
tại biên bản là của ông. Tuy nhiên tại thời điểm ký biên bản, ông không đọc kỹ
và cũng không được ai đọc lại biên bản mà chỉ ký tên.
Về nội dung biên bản, ông có ý kiến như sau: Về nguồn gốc thửa đất mà
ông Lê Ngọc C đang xin cấp giấy chứng nhận, trước khi ông C, bà T ở trên đất
thì có nhiều người cũng đã sử D thửa đất này. Năm 1988 ông Lê Ngọc C đến đó
ở, đến năm 1989-1990 do bão đổ bộ làm hư hỏng nhà cửa nên ông C không ở
nữa. Từ đó đến nay ông thấy một vài người ở được một thời gian rồi lại bỏ đi,
trong đó có ông Phạm V cũng ở một thời gian ngắn. Đối với Biên bản xác minh
nói trên, ông không công nhận ý kiến của ông được ghi nhận trong biên bản vì
nội dung không đúng ý kiến tại buổi làm việc và ông không đọc kỹ biên bản
trước khi ký nên đề nghị không sử D ý kiến của ông trong Biên bản xác minh.
Ý kiến của người làm chứng ông Dương Đình T: Ông T thừa nhận ngày
06/11/2025 tham gia buổi làm việc liên quan đến xác minh nguồn gốc, thời điểm
sử D đất của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T. Ông thừa nhận chữ ký tại biên
bản, tuy nhiên tại thời điểm ký ông không đọc kỹ và cũng không được ai đọc lại
mà chỉ ký tên. Ông thừa nhận giai đoạn đó đi bộ đội nên ông không rõ ông C và
bà T bắt đầu ở trên thửa đất trên từ thời điểm nào. Đối với Biên bản xác minh
nói trên, ông không công nhận ý kiến của ông được ghi nhận trong biên bản vì
nội dung không đúng tại buổi làm việc, đề nghị không sử D ý kiến của ông trong
biên bản xác minh.
Ý kiến của người làm chứng ông Lê Trọng N: Ông N thừa nhận ngày
07/5/2025 và 06/11/2025 tham gia buổi làm việc liên quan đến xác minh nguồn
gốc, thời điểm sử D, hiện trạng sử D đất của ông Lê Ngọc C; thừa nhận chữ ký
của ông tại biên bản, biết rõ khoảng năm 1987 ông C và T có sử D thửa đất, tuy
nhiên được một vài năm thì ông C di dời sang vùng đất khác ở và không sử D gì
trên đất; không công nhận ý kiến của ông được ghi nhận trong biên bản vì nội
dung biên bản không đúng ý kiến tại buổi làm việc và không được đọc kỹ trước
khi ký, đề nghị không sử D ý kiến của ông trong biên bản xác minh.
Ý kiến của người làm chứng ông Võ Đình T, bà Đậu Thị T, bà Nguyễn Thị
H, bà Lê Thị T, bà Lê Thị T thống nhất ý kiến như sau: Người làm chứng thừa
nhận ngày 23/10/2025 ông Lê Ngọc C cùng người đại diện theo ủy quyền đến
6
nhà của từng người và xin xác nhận vào Đơn xác nhận đơn về nguồn gốc, quá
trình sử D đất của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T, ý kiến của người làm chứng
trong đơn xác nhận là đúng sự thật.
Ý kiến của người làm chứng bà Lê Thị D: Bà D thừa nhận ngày 29/7/2025
bà có tham gia buổi làm việc liên quan đến xác minh nguồn gốc, thời điểm sử D,
hiện trạng sử D đất của ông Lê Ngọc C; thừa nhận chữ ký của bà tại biên bản,
tuy nhiên không đồng ý với nội dung trong biên bản vì không phản ánh đúng ý
kiến của bà tại cuộc họp, không được đọc lại biên bản và cũng không được ai
đọc thông qua. Theo bà D thì từ năm 1987 ông Lê Ngọc C đã bắt đầu về ở trên
thửa đất hiện xin cấp giấy, mặc dù có một số thời điểm gia đình ông C không ở
trên thửa đất, tuy nhiên gia đình vẫn canh tác trồng các loại cây ăn quả, hoa màu
liên tục từ trước đến nay.
Ý kiến của người làm chứng ông Phạm K: Ông Kiểu có một người em là
ông Phạm Thế V, sinh năm 1959; từ trước đến nay ông Phạm Thế V không hề ở
trên thửa đất mà hiện nay ông Lê Ngọc C đang làm thủ tục xin cấp giấy CNQSD
đất. Gia đình ông Lê Ngọc C ở từ năm 1987 đến năm 1998, do bão lớn tàn phá
nên năm 1999 gia đình ông C không ở trên thửa đất nhưng vẫn trồng cây tăng
gia sản xuất, không bỏ hoang đất, không ai tranh chấp.
Ý kiến của người làm chứng bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T: Quá trình bà
sinh sống tại địa phương từ trước đến nay, ông, bà khẳng định không có bất kỳ
ai có tên Phạm V sống tại đây; họ Phạm thì có một người tên là Phạm Thế V,
sinh năm 1959, chết năm 2020; ông Phạm Thế V có người anh ruột tên là Phạm
K. Từ trước đến nay ông Phạm Thế V chưa từng ở trên thửa đất hiện nay ông Lê
Ngọc C đang xin cấp giấy. Gia đình ông Lê Ngọc C ở từ năm 1987 đến năm
1998, do bão lớn tàn phá nên năm 1999 đến nay gia đình ông C không ở trên
thửa đất nhưng vẫn trồng cây tăng gia sản xuất, không bỏ hoang đất, không ai
tranh chấp.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tại
phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những
người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Luật tố
tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa người khởi kiện,
người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có mặt người đại diện
theo ủy quyền và vắng mặt người làm chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử
vắng mặt theo quy định Điều 158, Điều 159 Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 29, Điều 30,
Điều 31, Điều 115, Điều 116, Điều 158, Điều 159, Điều 173, Điều 193, Điều
204, Điều 206, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 38 Điều 3; Điều 136,
Điều 137, Điều 138 Luật đất đai năm 2024; Điều 31, Điều 33 Nghị định số
101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ về điều tra cơ bản đất đai,
đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất và hệ thống thông tin đất đai, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025; điểm h, khoản 1, Điều 5 Nghị định số
151/2025/NĐ-CP, ngày 12/6/2025 của Chính phủ; điểm c khoản 1 Điều 3,
7
khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử D án phí và lệ phí Tòa án: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện
của người khởi kiện về việc buộc Chủ tịch UBND phường H, tỉnh Hà Tĩnh thực
hiện hành vi hành chính ban hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn
liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 tại tổ dân phố Tam H, phường Hải N,
tỉnh Hà Tĩnh. Chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện: Huỷ Thông báo số
167/TB-UBND ngày 25/11/2025 của UBND phường Hải N; Buộc UBND
phường Hải N nhận lại hồ sơ sơ xin đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất lần
đầu đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 tại tổ dân phố Tam H, phường Hải N,
tỉnh Hà Tĩnh theo quy định của pháp luật; Về án phí: Uỷ ban nhân dân phường
Hải Ninh phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được tranh
tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về đối tượng khởi kiện: Thông báo số 167/TB-UBND ngày
25/11/2025 của UBND phường Hải N về việc ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T
không đủ điều kiện đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy CNQSD
đất lần đầu, đây là văn bản được áp D một lần, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện; đồng thời người khởi kiện yêu cầu buộc
UBND phường Hải N nhận lại hồ sơ sơ xin đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD
đất lần đầu. Do đó, có đủ căn cứ xác định thông báo nêu trên là quyết định hành
chính; yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, công vụ thuộc đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính theo khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính sửa đổi, bổ
sung năm 2025.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện ông Lê Ngọc C và bà
Trần Thị T có hộ khẩu thường trú tại phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh; Người bị
kiện UBND phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh là cơ quan ban hành quyết định hành
chính bị yêu cầu tuyên huỷ và UBND phường Hải N có thẩm quyền nhận hồ sơ
xin đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất lần đầu nên thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều
31 Luật tố tụng hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 4 Nghị
quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1.3] Tại phiên tòa, người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của
người bị kiện, người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt nhưng có người đại
diện tham gia; người làm chứng vắng mặt có ý kiến đề nghị giải quyết, xét xử
vắng ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên
theo quy định Điều 158, Điều 159 Luật Tố tụng hành chính.
[1.4] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 25/11/2025, ông Lê Ngọc C nhận được
Thông báo số 167/TB-UBND của UBND phường Hải N về việc xác định ông
Lê Ngọc C và bà Trần Thị T không đủ điều kiện đăng ký đất đai, tài sản gắn liền
với đất và cấp Giấy CNQSD đất lần đầu. Ngày 22/12/2025, ông C và bà T khởi
8
kiện yêu cầu tuyên huỷ quyết định hành chính nêu trên là trong thời hạn 01 năm,
đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật
Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về nguồn gốc đất: Theo người khởi kiện, ngày 09/3/1987 ông Lê
Ngọc C được Hợp tác xã (HTX) Tam Hải cấp cho thửa đất làm nhà ở. Hiện
trạng là thửa đất số 54, tờ bản đồ số 10/299TTg tại tổ dân phố Tam H, phường
Hải N (nay là thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57) diện tích 932,6m². Sau khi kết hôn
(ngày 13/5/1987) và xuất ngũ (ngày 30/4/1988), vợ chồng ông C dựng nhà tranh
sinh sống ổn định, liên tục trên thửa đất đến ngày 30/12/1998. Từ ngày
01/01/1999, do bão lớn tàn phá nhà cửa, gia đình chyển đi nơi khác nhưng vẫn
tiếp tục rào chắn, sử D thửa đất này để canh tác, trồng cây (tràm, phi lao, hoa
màu) liên tục đến nay, không có tranh chấp. Do thiên tai nên Quyết định giao đất
năm 1987 đã bị thất lạc, tuy nhiên nguyên Chủ nhiệm HTX Tam Hải (ông Trần
Xuân Linh) cùng cán bộ thôn và người dân địa phương đều xác nhận nguồn gốc
thửa đất cho gia đình ông C. Tài liệu do UBND phường Hải N giao nộp trong
quá trình giải quyết vụ án là bản đồ 299 có ghi ông C tại thửa đất đang yêu cầu
cấp giấy nên đề nghị UBND phường xem xét theo quy định pháp luật để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử D đất.
Theo người bị kiện UBND phường Hải N, qua kết quả xét duyệt nguồn
gốc sử D đất của UBND phường Kỳ Ninh (cũ) và kết quả xác minh nguồn gốc
đất của UBND phường Hải N cho thấy năm 1987 ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị
T được hợp tác xã Tam Hải (cũ) cấp cho thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 để làm
nhà ở. Tuy nhiên, đến năm 1996 thì ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T Cyển đến
ở tại thửa đất khác và từ đó đến năm 2025 ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T
không sử D thửa đất. Bản đồ 299 hiện đang lưu trữ tại UBND phường và các cơ
quan có thẩm quyền chỉ ghi số thửa, diện tích mà không ghi tên chủ sử D trên
bản đồ; trích lục bản đồ 299 mà UBND phường cung cấp trong quá trình giải
quyết vụ án có ghi tên ông C là do trong quá trình quản lý, sử D bản đồ, cán bộ
địa chính tự ghi vào; việc đánh giá tính pháp lý cần căn cứ vào bản gốc đang
được lưu trữ tại các cơ quan nhà nước như: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hà
Tĩnh, Trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh Hà Tĩnh. Còn hiện nay tại UBND phường
chỉ lưu bản phô tô, không lưu bản gốc.
[2.2] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính
Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025:
Theo trình bày của các đương sự và các tài liệu có tại hồ sơ, sau khi tiếp
nhận bộ hồ sơ tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Hải Ninh về việc
đăng ký đất đai và cấp giấy CNQSD đất của ông C và bà T, UBND phường Hải
N đã tiến hành thực hiện theo trình tự quy định và UBND phường Hải N do Phó
chủ tịch ký thay chủ tịch ban hành Thông báo số 167/TB-UBND ngày
25/11/2025 trả lời việc không đủ điều kiện đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với
đất và cấp Giấy CNQSD đất lần đầu. Xét thấy, điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định
số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm
9
quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực
đất đai quy định:
“Điều 5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện chyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Luật
Đất đai Cyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện, bao gồm:
h) Cấp giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền
với đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 136 và điểm d khoản 2 Điều 142 Luật
Đất đai;”
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người bị kiện
thừa nhận thẩm quyền ban hành Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025
là của chủ tịch UBND phường; việc phó chủ tịch ký thay chủ tịch thay mặt cho
UBND phường đã ký ban hành các văn bản nêu trên là không đúng thẩm quyền
nên thừa nhận sai sót về thẩm quyền, chấp nhận huỷ bỏ quyết định hành chính
đã ban hành.
Như vậy, căn cứ xác định quyết định hành chính là Thông báo số 167/TB-
UBND ngày 25/11/2025 được ban hành không đúng thẩm theo quy định của
pháp luật.
[2.3] Về nội dung Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025 của
UBND phường Hải N:
Nội dung thông báo số 167/TB-UBND nhận định việc sử D đất của ông
Lê Ngọc C và bà Trần Thị T đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 không ổn
định. Căn cứ Điều 138 Luật đất đai năm 2024, ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T
không đủ điều kiện để được đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy
CNQSD đất. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung
cấp, ý kiến của người làm chứng và kết quả xác minh trong quá trình giải quyết
vụ án phản ánh:
Về ông “Phạm V” là người sử D thửa đất nêu trên từ năm 1996 đến năm
2001: UBND phường thừa nhận ngoài ý kiến của một số hộ dân cùng thời kỳ thì
không có tài liệu nào khác chứng minh nhân thân, thời điểm quản lý, sử D thửa
đất số 04, tờ bản đồ số 57. Trong khi đó, một số người dân cao tuổi tại địa
phương xác nhận không có người có tên “Phạm V” sinh sống tại tổ dân phố Tam
Hải 1 từ trước đến nay. Vì vậy, việc đánh giá ông “Phạm V” sử D thửa đất nêu
trên từ 1996-2001 để xác định ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T không sử D đất
ổn định liên tục là chưa có căn cứ vững chắc.
Tại mục 3 Thông báo số 167/TB-UBND phản ánh kết quả kiểm tra hiện
trạng sử D đất: “Qua kiểm tra hiện trạng thửa đất cho thấy hiện nay trên thửa
đất không có nhà ở, công trình xây dựng khác. Đối chiếu với kết quả kiểm tra
hiện trạng trước đây của UBND phường Kỳ Ninh (cũ) thì hiện nay trên thửa đất
có 01 giếng nước mới hình thành và một số cây tràm mới được gia đình ông Lê
Ngọc C trồng từ năm 2025”. Tuy nhiên, theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 04/8/2026 phản ánh: Trên thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 ngoài một số cây
keo tràm do ông C và bà T trồng thì hiện nay trên đất còn có nhiều cây phi lao
nằm tập trung và rải rác trên thửa đất, loại to có C vi vanh gốc 40 cm đến 50 cm
10
(cách mặt đất 10 cm); loại nhỏ hơn có C vi vanh gốc 30 cm đến 40 cm (cách mặt
đất 10 cm) và một số cây loại nhỏ có C vi gốc dưới 30cm; ngoài ra còn có cây
ăn quả, cây lộc vừng và cây hoa màu khác. Ngoài cây cối thì trên thửa đất còn
có 01 giếng nước được đặt bởi 03 ống bằng bê tông chồng lên nhau, đường kính
mỗi ống 82cm, cao 38cm, tình trạng quan sát bên ngoài thấy đã cũ nhưng không
đánh giá được thời điểm đặt, không xác định được phía dưới 03 ống này còn có
ống nào nữa không. Mặt khác, tại phiên toà người bị kiện thừa nhận trong quá
trình xác minh, kiểm tra hiện trạng năm 2025, tài sản trên đất còn thiếu sót một
số loại cây lâu năm như cây phi lao và cây tràm và chưa làm rõ thời điểm hình
thành của số cây này. Đồng thời thừa nhận Biên bản họp hội đồng đăng ký đất
đai lần đầu ngày 7/5/2025 của UBND phường Kỳ Ninh (cũ) để xét nguồn gốc,
thời điểm sử D đất của ông Lê Ngọc C có chữ ký của ông Lê Văn T chưa đúng
do ông Thọ không ký được nên nhờ người ký thay. UBND phường Hải N sẽ tiếp
thu, trong quá trình thực hiện sẽ thận trọng, kiểm tra, xác minh đầy đủ, toàn diện
các tình tiết để làm rõ thêm về nguồn gốc, thời điểm sử D của ông Lê Ngọc C
theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Lê Ngọc C và bà Trần Thị T về việc tuyên huỷ Thông báo số 167/TB-UBND
ngày 25/11/2025.
[2.4] Đối với yêu cầu buộc UBND phường Hải N nhận lại hồ sơ sơ xin
đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất lần đầu của ông Lê Ngọc C và bà Trần
Thị T:
Thông báo số 167/TB-UBND ngày 25/11/2025 có nội dung trả lại hồ sơ
đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD đất lần đầu của ông Lê Ngọc C và bà Trần
Thị T. Tuy nhiên có căn cứ tuyên hủy Thông báo theo quy định của pháp luật,
đồng thời tại phiên toà người bị kiện cam kết ngoài việc chấp hành quyết định
của bản án thì đồng ý tiếp nhận ngay hồ sơ xin đăng ký đất đai, cấp giấy
CNQSD đất của ông C và bà T để giải quyết kịp thời theo quy định của pháp
luật. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện về việc buộc
UBND phường Hải N nhận lại hồ sơ sơ xin đăng ký đất đai, cấp Giấy CNQSD
đất của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T.
[2.5] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút
yêu cầu buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hải N thực hiện hành vi hành
chính ban hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, cấp giấy CNQSD đất lần đầu
cho ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T, nhưng kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường Hải N sau khi tiếp nhận hồ sơ của ông C và bà T phải thực hiện
hành vi hành chính ban hành văn bản giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn liền
với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối
với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 tại tổ dân phố Tam H, phường Hải N, tỉnh Hà
Tĩnh kịp thời để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của ông bà. Xét thấy, việc rút
một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là tự nguyện, căn cứ khoản 2
Điều 173 Luật Tố tụng hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2025, đình chỉ yêu cầu
khởi kiện này của người khởi kiện. Xét việc giải quyết hồ sơ đăng ký đất đai, tài
sản gắn liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất thuộc thẩm quyền
11
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hải N; trên cơ sở kiến nghị của người
khởi kiện, ý kiến trình bày của người bị kiện, kiến nghị của Viện kiểm sát tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, sau khi
tiếp nhận hồ sơ của ông C và bà T, cần xem xét thực hiện việc giải quyết hồ sơ
của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T kịp thời theo đúng trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định.
[2.6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà
Tĩnh tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật.
[3] Về án phí sơ thẩm: Do quyết định hành chính bị tuyên hủy nên người
bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2, 3, 4 Điều 3, Điều 29, Điều 30, Điều 31, khoản 2 Điều
79, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều
204, 206, khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 136, Điều 138 Luật
đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội; điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP
ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định; điểm c khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều
30, khoản 2 Điều 32 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử D án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc buộc Chủ tịch
UBND phường H, tỉnh Hà Tĩnh thực hiện hành vi hành chính ban hành văn bản
giải quyết đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử
D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57
thuộc tổ dân phố Tam Hải 1 (nay là tổ dân phố Tam Hải), phường Hải Ninh, tỉnh
Hà Tĩnh của ông Lê Ngọc C và bà Trần Thị T.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Lê Ngọc C và bà
Trần Thị T:
- Huỷ Quyết định hành chính là Thông báo số 167/TB-UBND ngày
25/11/2025 của UBND phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh về việc xác định ông Lê
Ngọc C và bà Trần Thị T không đủ điều kiện để được đăng ký đất đai, tài sản gắn
liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 thuộc tổ dân phố Tam Hải 1 (nay là tổ
dân phố Tam Hải), phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh
- Buộc UBND phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh tiếp nhận lại hồ sơ xin đăng ký
đất đai, tài sản gắn liền với đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử D đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 57 thuộc tổ dân phố Tam
Hải 1 (nay là tổ dân phố Tam Hải), phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh của ông Lê
Ngọc C và bà Trần Thị T theo quy định của pháp luật.
12
3. Về án phí: Buộc Ủy ban nhân dân phường Hải N, tỉnh Hà Tĩnh phải
chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện có người đại diện theo ủy quyền,
người bị kiện và người có quyền lợi N vụ liên quan có người đại diện theo uỷ
quyền có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh
- VKSND khu vực 2 - Hà Tĩnh;
- Thi hành án tỉnh Hà Tĩnh;
- Phòng THADS khu vực 2 - Hà Tĩnh;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Hoàng
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất