Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phục Hòa (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 03/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2022, xuất phát từ quan hệ yêu đương nam nữ, tại nhà ở của mình thuộc xóm B, xã Quốc T, huyện Quảng Hòa, Cao Bằng, Lục Hà Đ đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu với Nông Thị Đ2, sinh ngày 21/6/2008. Tại thời điểm Đ thực hiện hành vi giao cấu lần đầu (Đ2 đủ 13 tuổi dưới 14 tuổi); đến ngày 24/3/2023 đã sinh một bé gái tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng. Do vậy hành vi của bị cáo Lục Hà Đ đã cấu thành vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “làm nạn nhân có thai” được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 03/2024/HSST
Ngày 05/01/2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Giáp Văn Cương Nghề nghiệp Hưu trí.
2. Ông Bế Văn Hạnh Phó hiệu trưởng, Trường Tiểu học Trung học
sở Tiên Thành.
Thư Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dương – Thư
Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa:
Hoàng Thị Hà Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa
xét xử công khai vụ án hình sự thẩm thụ lý s54/2023/HSST ngày 09/11/2023
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST - HS ngày 08/12/2023
quyết định hoãn phiên tòa số 1577/2023/HSST- ngày 20 tháng 12 năm 2023
đối với bị cáo:
Lục Hà Đ (tên gọi khác: Không) sinh ngày 28 tháng 5 năm 2000 tại Quốc
Toản, Quảng Hoà, Cao Bằng
Thẻ CCCD: 004200003738 cấp ngày 28 tháng 4 năm 2023, Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an.
Nơi thường trú: xóm B, xã Q, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; con ông: Lục Văn Đ1, sinh năm
1977 và con Hoàng Thị L, sinh năm 1978; Vợ: chưa; con: 01 con, sinh năm
2023. Chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên (hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt
Đảng từ ngày 15/11/2023).
Tin án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lục Đ hiện đang báp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi
cư trú từ ngày 03/7/2023 đến nay. Có mt ti phiên toà.
- B hi: Nông Thị Đ2, sinh ngày 21/6/2008, trú tại xóm Đ, T, huyện
2
Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nông Thị Đ2 là bà Linh
Thị An Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp tỉnh Cao Bằng.
mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nông Thị Đ2: Ông Nông Văn Ph, sinh
năm 1986 Thị Ch, sinh năm 1988 (là bố, mẹ đẻ của bị hại). Địa chỉ:
Xóm Đ, xã T, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hsơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa tiếp
nhận Bản kiến nghị khởi tố s35/UBND ngày 04/5/2023 của Ủy ban nhân dân
Q, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng về việc: Lục Đ, sinh năm 2000, trú tại
xóm B, Q, Quảng Hoà, Cao Bằng quan hệ tình cảm phát sinh quan hệ
tình dục với Nông Thị Đ2, sinh ngày 21/6/2008, trú tại xóm Đ, T, huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng dẫn đến Nông Thị Đ2 thai và ngày 24/3/2023 đã sinh
một gái tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng. Hành vi của Lục Đ dấu
hiệu của tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều
145 Bộ luật hình sự. Sau khi tiếp nhận bản kiến nghị khởi tố trên, Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Quảng Hoà đã tiến hành xác minh, điều tra xác định
được như sau:
Khoảng tháng 02/2021, Lục Hà Đ quen biết với Nông Thị Đ2 qua mạng
hội Facebook, sau đó giữa Đạt và Đào nảy sinh quan hệ tình cảm. Khi mới quen
biết, Đ2 nói với Đ là Đ2 sinh năm 2004, đến tháng 6/2021 qua thông tin cá nhân
được Đ2 ghi trên tài khoản mạng hội Facebook có tên 2N" thì Đ biết được
Đ2 sinh ngày 21/6/2008. Dù biết Đ2 chưa đủ 16 tuổi nhưng Đ và Đ2 vẫn tiếp tục
mối quan hệ yêu đương. Trong khoảng thời gian t tháng 3/2022 đến tháng
6/2022, Đ và Đ2 đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau tổng cng 03 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất vào khoảng tháng 3 năm 2022, lần thứ hai vào khoảng tháng 4
năm 2022 lần thứ ba vào khoảng giữa tháng 6 năm 2022. Cả ba lần đều quan
hệ tình dục bằng hình thức giao cấu tại phòng ngủ của Đ thuộc xóm B, Q,
huyện Quảng Hòa, Cao Bằng đều xuất tinh vào trong âm đạo của Đ2, không
sử dụng biện pháp tránh thai. Việc quan hệ tình dục đều diễn ra vào ban ngày,
thời điểm bố mẹ của Đ đi làm. Sau khi quan hệ tình dục lần thứ ba được khoảng
10 ngày thì Đ2 phát hiện có thai và báo cho Đ biết, sau đó cả Đ và Đ2 đều thông
báo cho bố mẹ cả hai bên biết nhưng Đ2 còn nhỏ (mới được 14 tuổi) nên ông
Lục Văn Đ1, bà Hoàng Thị L (bố mẹ đẻ của Đ) và ông Nông Văn Ph, bà Mã Thị
Ch (bố mđẻ của Đ2) đều chấp thuận Đ2 và Đ con dâu, con rể của mình nhưng
chưa tổ chức đám cưới. Đến ngày 24/3/2023 thì Đ2 sinh 01 gái tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Cao Bằng. Sau sinh con, Đ đón Đ2 cùng con gái về sinh sống cùng
tại nhà thuộc xóm B, xã Q, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 18/5/2023, quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã ra
3
Quyết định số 65/QĐ-CSĐT trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám
định gen (AND) xác định cháu bé do Đ2 sinh ra có quan hệ huyết thống con đẻ
mẹ đẻ với Nông Th Đ2, còn đẻ - bố đẻ với Lục Hà Đ hay không.
Tại Bản giám định số 3734/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Viện khoa học
hình sự Bộ Công an kết luận: Cháu mẫu niêm mạc gửi giám định quan
hệ huyết thống con đẻ - mẹ đẻ với chị Nông Thị Đ2 và quan hệ huyết thống con
đẻ - bố đẻ với anh Lục Hà Đ.
Quá trình điều tra bị cáo Lục Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm
tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSQH ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo Lục Đ về tội “Giao cấu với người
đủ từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d, khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lục Hà Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai
nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của
bị hại các tài liệu, chứng cứ, kết luận giám định quan điều tra đã thu
thập được.
Bị hại ng Thị Đ2 đã thừa nhận những lời khai của bị cáo Đ đúng. Về
trách nhiệm dân sự, Đ đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu
quả nên không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố luận tội đối với bị
cáo Lục Đ về tội Giao cấu với người đủ từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổitheo như
Cáo trạng số 55/CT-VKSQH ngày 08/11/2023 đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét
xử:
- Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Lục Hà Đ từ 18 đến
24 tháng tù.
Ti phn tranh lun:
B cáo Lục Hà Đ có ý kiến tranh lun đi vi lun ti của đại din Vin kim t
nhân n huyn Qung a đ ngh cho được hưởng án treo.
Ni bo v quyn và li ích hp pháp cho b hi Nông Th Đ2: Nhất trí
với tội danh điều khoản áp dụng đối với bị cáo Lục Đ theo Cáo trạng của
đã truy tố. Tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu
quả, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị hại còn nhỏ (ới 16 tuổi), chưa
có kinh nghiệm sống nếu phải một mình nuôi con sẽ hết sức khó khăn, bố bị cáo
hay đau ốm; quá trình điều tra bị hại đã đơn xin miễn giảm hình phạt cho bị
cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để phụ giúp công
việc gia đình chăm c con nhỏ. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường
khắc phục hậu quả nên không có yêu cầu gì.
4
Bị hại Nông Thị Đ2 đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo
để phụ giúp công việc gia đình và chăm sóc con nhỏ. Bị cáo đã bồi thường nên
không có yêu cầu gì thêm.
Viện kiểm sát đối đáp: Viện kiểm sát đã xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo
đã áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên,
bị cáo phạm tội 02 lần trở lên mà mỗi lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường
hợp nghiêm trọng, căn cứ Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật
hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy,
Viện kiểm sát đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị xử bị o dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, đã thể hiện tính nhân đạo của pháp
luật và cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi đưc i li sau ng, b cáo mong Hội đng xét x xem t cho mc án
nh nht để sm tr v vi gia đình và hi, ng v chăm sóc, ni dậy con. Hin
nay gia đình b cáo hết sc k kn, bố ốm hay đi điu tr, m cũng haym, b cáo
là lao động cnh trong gia đình, con n nhỏ cn s chăm c.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy n
sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện
Quảng Hòa, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
bị cáo, bị hại những người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời
khai nhận tội của bcáo Lục Đ có trong hsơ vụ án tại phiên tòa ngày hôm
nay phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của người bị hại, kết luận giám định
các tài liệu trong hồ được thẩm tra tại phiên a. đủ căn cứ để xác
định: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2022, xuất phát từ quan
hệ yêu đương nam nữ, tại nhà ở của mình thuộc xóm B, xã Quốc T, huyện Quảng
Hòa, Cao Bằng, Lục Đ đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu với Nông Thị Đ2,
sinh ngày 21/6/2008. Tại thời điểm Đ thực hiện hành vi giao cấu lần đầu (Đ2 đủ
13 tuổi dưới 14 tuổi); đến ngày 24/3/2023 đã sinh một gái tại Bệnh viện đa
khoa tỉnh Cao Bằng. Do vậy hành vi của bị cáo Lục Đ đã cấu thành vào tội
“Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” thuộc trường hợp “Phạm tội 02
lần trở lên” và “làm nạn nhân có thai” được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều
145 Bộ luật hình sự
5
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết ng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi trên đây của bcáo Lục Đ không những đã trực tiếp xâm hại thân
thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến sự
phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người bị hại còn gây mất an ninh
trật tự địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệmnh sự, hành
vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Mặc dù, bị cáobị hại có sự đồng thuận, tự
nguyện trong quan hệ tình dục nhưng bị hại còn đang ở trong độ tuổi đủ từ 13 đến
dưới 16 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên hành vi quan htình dục này
là trái pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự: Bị cáo Lục Đ không phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệmnh sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nh sự đối với bcáo: Trong quá trình
điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị
cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng bị hại
đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[4]. Về hình phạt: Hội đồng xét xxét thấy bị cáo nhân thân tốt, nơi
trú ràng; sau khi cháu Đ2 sinh con, bị cáo đã đón về chung sống với gia đình
và gia đình hai bên đều chấp thuận coi như con dâu, con rể trong gia đình, bị hại
có đơn xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo
bị hại sinh sống vùng điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức về pháp luật
còn hạn chế, tuổi đời còn rất trẻ chưa nhận thức được hậu quả do mình thực hiện;
phong tục tập quán nơi bịo và bị hại sinh sống còn nhiều lạc hậu. Xét tính chất
mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của
bị cáo và đề nghị ca Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải áp dụng
hình phạt phù hợp đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa, đấu
tranh với loại tội phạm này, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trem, người
chưa thành niên và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 4 Điều 145 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể b cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm ng việc nhất định t01 năm đến 05 năm”. Tuy
nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy
bị cáo lao động tự do, không nghề nghiệp, không đảm nhiệm chức vụ nên
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Bộ luật Hình sự
năm 2015 đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được số tiền bị cáo bồi thường
khác phục hậu quả 20.000.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
[7]. Về vật chứng: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
6
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh mức hình phạt: Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lục Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi”.
- Xử phạt bị cáo Lục Đ: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo tiếp tục bị Cấm đi khỏi nơi trú” cho đến khi đi chấp hành hình
phạt tù.
2. Ván phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản sdụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Bị cáo Lục Hà Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
3. Vquyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình
sự: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cao Bằng;
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Cao Bằng;
- VKSND huyện Quảng Hòa;
- Công an huyện Quảng Hòa;
- Chi Cục THADS huyện Quảng Hòa;
- Bị cáo;
- Lưu AV, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Hoàng Quốc Khánh
7
Tải về
Bản án số 03/2024/HS-ST Bản án số 03/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất