Bản án số 03/2022/KDTM-ST ngày 12-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về tranh chấp kiện đòi tiền bảo hiểm trên cơ sở tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2022/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2022/KDTM-ST ngày 12-09-2022 của TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng) về tranh chấp kiện đòi tiền bảo hiểm trên cơ sở tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 03/2022/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/09/2022
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tổng công ty Bảo hiểm B và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại C tranh chấp kiện đòi tiền bảo hiểm trên cơ sở tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số:03/2022/KDTM-ST
Ngày 12-9-2022
V/v tranh chấp kiện đòi tiền bảo hiểm
Trên cơ sở tranh chấp hợp đồng
vận chuyển hàng hóa
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ninh Văn Tỉnh.
Bà Bùi Thu Lan.
- Thư phiên tòa: Ông Lương Đăng Bùi - Thư Toà án nhân dân huyện
An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 12 tng 9 m 2022, tại tr sở a án nhân n
huyện An Lão, thành ph Hải Png xét xử thm công khai v án th lý số
21/2021/TLST-DS ngày 31 tháng 5 m 2021 v “tranh chấp kiện đòi tiền bảo
him trên s tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóatheo Quyết định đưa
vụ án ra xét xsố: 627/2022/XXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2022, Quyết
định hoãn phiên a s: 721/2022/ST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các
đương s:
1. Nguyên đơn: Tổng công ty Bảo hiểm B (sau đây gọi tắt Bảo hiểm B),
địa chỉ: Số L, phường P, quận H, Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông
Nguyễn Xuân V - Tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Phương A
- Phó giám đốc ban Pháp chế Kiểm tra nội bộ - Công ty Bảo Việt H (theo giấy
ủy quyền số 4130/UQ-BHBV ngày 09/9/2022). Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại C (sau đây
gọi tắt Công ty T); địa chỉ: Số A đường N, thị trấn A, huyện A, TP. Hải Phòng;
người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T - Giám đốc. Vắng mặt không có lý
do
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại dịch vụ vận tải N (sau đây gọi tắt công ty N); địa chỉ: Đường N,
phường L, Quận Q (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tống đạt
2
theo yêu cầu: N, phường B, thành phố T, thành phHồ Chí Minh; người đại diện
theo pháp luật: Bà Trần Thị Ngọc N - Giám đốc. Vắng mặt.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty N Đỗ Trà M,
Luật sư thuộc Công ty Luật Trách nhim hữu hn N - Chi nhánh Hải Phòng, Đoàn
Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ng ty C phần Vn tải biển
V (sau đây gọi tắt Công ty V); đa ch: Số H, phường M, quận H, Hải Phòng;
người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Ngọc T - Tổng giám đốc; người đại
diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng H - Phó phòng pháp chế ATHH (theo giấy
ủy quyền số 193VNS/UQ-TGĐ ngày 02/6/2022); vắng mặt có đơn xin xét xử vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khi kiện đề ngày 05 tháng 4 m 2021, c bản tự khai, biên bản
lấy lời khai, phiên hòa giải và tại phn a nguyên đơn trình y yêu cầu như sau:
Công ty thép H chủ của hàng 2.600 tấn thép xây dựng. Công ty này đã
kết Hợp đồng vận chuyển hàng hóa số 03HĐVC/HP2020 ngày 31/12/2019 với
Công ty V để thuê vận chuyển hàng thép nói trên từ cảng H, Hải Dương đến
cảng L, Đồng Nai. Đồng thời Công ty Cổ phần Vận tải biển V tham gia kết hợp
đồng bảo hiểm hàng hóa cho lô thép xây dựng này theo Đơn Bảo hiểm số 3828923
cấp ngày 07/04/2020 và giấy sửa đổi bổ sung số 1792773 ngày 21/4/2020 tại Công
ty B (BVHP) đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty Bảo hiểm B (BHBV)
với số tiền bảo hiểm là 36.456.994.000 đồng. Bảo hiểm B đồng ý bảo hiểm khi xảy
ra tổn thất do tai nạn, thiên tai những rủi ro phụ khác như trường hợp hàng hóa
bị hỏng do ướt, ngập nước.
Ngày 06/04/2020, Công ty V hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hóa số:
TL36T04/C04/2020/HĐVC/VNS với Công ty N thuê tàu T 36 của Công ty T để
vận chuyển 2.600 tấn thép xây dựng đi từ Cảng H, Hải Dương đến cảng L, Đồng
Nai. Cũng trong ngày 06/4/2020, Công ty N kết hợp đồng thuê tàu vận chuyển
hàng hóa số 310320/HĐVC/NV-CKTL với Công ty T cũng với nội dung trên.
Ngày 09/04/2020, tàu T 36 nhận 2.604,071 tấn thép để vận chuyển tới địa
điểm các bên thỏa thuận. Vào khoảng 18h00 ngày 17/04/2020, tàu T 36 cập cảng
L, Đồng Nai tiến hành dỡ hàng thì phát hiện hàng hóa được bảo hiểm xếp trong
hầm hàng bị tổn thất do nước tràn vào.
Sau khi nhận được thông báo, ngày 18/04/2020, Bảo hiểm B đã mời Công ty
TNHH giám định B (BADINCO) tham gia giám định đánh giá nguyên nhân, mức
độ tổn thất. Mục 7 Báo cáo giám định cuối cùng số 20/04/0620/HCM/HH của
BADINCO lập ngày 26/10/2020 xác định nguyên nhân tổn thất như sau:“Sơ suất,
bất cẩn của thuyền viên tàu trong việc che phủ bạt hầm hàng mũi làm nước biển
xâm nhập qua các góc bạt rơi xuống lớp hàng hóa bên trên. Kết hợp với việc bảo
quản, bảo dưỡng theo dõi tình trạng tàu khi hành trình không phù hợp dẫn đến
không phát hiện được nước xâm nhập vào két ballast trong thời gian dài nước đùn
3
lên hầm hàng qua lỗ thủng sàn nắp tu đom không đóng kín làm ngập, gỉ sét
hàng hóa lớp bên dưới như đề cập ở trên”.
Ngày 18/05/2020, Công ty V thư khiếu nại Bảo hiểm B để yêu cầu bồi
thường cho tổn thất hàng hóa với số tiền 2.946.419.128 đồng.
Trên sở đánh giá mức độ tổn thất thực tế, căn cứ đơn bảo hiểm s
3828923 cấp ngày 07/04/2020 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bảo hiểm B tiến
hành bồi thường cho Công ty V stiền 2.131.730.688 đồng (Hai tỷ một trăm ba
mươi mt triệu bảy trăm ba mươi nghìn sáu trăm tám mươi tám đồng).
Ngày 22/05/2020, sau khi nhận đủ số tiền bồi thường nêu trên, Công ty V
văn bản Biên nhận và thế quyền gửi Bảo hiểm B với nội dung xác nhận nhận đủ số
tiền bồi thường chuyển quyền đòi bồi thường đối với người gây ra thiệt hại, tổn
thất hàng hóa nêu trên cho Bảo hiểm B trong phạm vi số tiền được Bảo hiểm B bồi
thường.
Căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng vận chuyển giữa các Công ty V,
Công ty N và Công ty T về trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tổn thất, Bảo hiểm B
xác định Công ty N là người vận chuyểnCông ty T là người vận chuyển thực tế;
hai công ty này gây ra thiệt hại khiến Bảo hiểm B phải bồi thường nên Bảo hiểm B
yêu cu Tòa án buc Công ty T Công ty N phải trcho Bảo hiểm B số tiền
2.131.730.68(hai tmột trăm ba ơi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn sáu
trăm m mươi tám đồng) là số tiền Tổng công ty Bảo hiểm B bồi thường cho
VINASHIP trong tổn thất ngày 17/4/2020.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn t một phần
yêu cầu khởi kiện, theo đó đề nghị Hội đồng xét xử xác định Công ty N là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Công ty T bị đơn, phải trả cho Bảo hiểm B số tiền
2.131.730.68(hai tmột trăm ba ơi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn sáu
trăm tám mươi tám đồng) và không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi đến ngày xét xử
sơ thẩm.
2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2022; biên bản hòa giải ngày
16/6/2022, bị đơnCông ty T trình bày:
Ngày 06/04/2020, Công ty V hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hóa số:
TL36T04/C04/2020/HĐVC/VNS với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Vận tải
N để thuê tàu T 36 (Công ty T) để vận chuyển 2.600 tấn thép xây dựng đi từ Cảng
H, Hải Dương đến cảng L, Đồng Nai. Cũng trong ngày 06/4/2020, Công ty N
kết hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hóa số 310320/HĐVC/NV-CKTL với
Công ty T cũng với nội dung trên.
Sau khi hợp đồng được kết thì Công ty V cử nhân viên trực tiếp giao
hàng xuống tàu T 36. Việc giao nhận hàng này diễn ra trực tiếp giữa đại diện
của Vinaship và tàu T 36, thể hiện bằng giấy vận chuyển ngày 09/4/2020 và một số
giấy tờ khác
Ngày 09/04/2020, tàu T 36 nhận 2.604,071 tấn thép để vận chuyển tới địa
điểm các bên thỏa thuận. Vào khoảng 18h00 ngày 17/04/2020, tàu T 36 cập cảng
4
L, Đồng Nai tiến hành dỡ hàng thì phát hiện hàng hóa được bảo hiểm xếp trong
hầm hàng bị tổn thất do nước tràn vào.
Sau khi nhận được thông báo, ngày 18/04/2020, BHBV đã mời Công ty
TNHH giám định B (BADINCO) tham gia giám định đánh giá nguyên nhân, mức
độ tổn thất. Tuy nhiên đây là đơn vị giám định của Bảo hiểm B mời, không phải
đơn vị bảo hiểm độc lập không sđồng ý của Công ty T. Sau khi bên giám
định có kết luận giám định về tổn thất làm giảm giá trị thương mại thì Công ty T đã
phản hồi, không nhất trí mức thiệt hại này do không phản ánh đúng thực tế thiệt
hại. Bản chất của thiệt hại này thiệt hại giảm giá trị thương mại của hàng hoá
chứ hàng hoá không bị mất, không bị hao hụt về số lượng, khối lượng.
Nay Công ty T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do thứ nhất
các bên chưa đàm phán thống nhất với nhau về đơn giá của thiệt hại, thứ hai nếu
Bảo hiểm B khởi kiện thì phải khởi kiện Công ty N chứ không phải Công ty T
Công ty T không ký hợp đồng với Công ty V.
3. Tại bản trình bày ý kiến ngày 18/4/2022, công ty N lập luận:
Tại Điều 2 của Hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hóa số
TL36T04/C04/2020/HĐVC/VNS ngày 06/04/2020 giữa Công ty V Công ty N
quy định phương tiện vận chuyển tàu T 36, chủ tàu là Công ty T. Bên cạnh đó,
theo giấy vận chuyển ngày 09/4/2020 của Công ty V đã thể hiện bên nhận hàng
hóa và thực hiện vận chuyển là Công ty T. Công ty N chỉ đơn vị cho thuê lại tàu
thuộc sở hữu của Công ty T đồng ý cho Công ty T trực tiếp thực hiện vận
chuyển. Do vậy Công ty N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
cho rằng Công ty T phải chịu trách nhiệm toàn bộ.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty N đồng ý
với quan điểm của Công ty N, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc Công ty T
phải chịu trách nhiệm toàn bộ.
4. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2022, ngày 30/6/2022 Công ty V trình
bày:
Công ty V hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của Bảo hiểm B về việc ký kết
hợp đồng vận chuyển giữa các bên; về việc mua bảo hiểm cho hàng; về việc
giao nhận, vận chuyển hàng; phương tiện, thời gian vận chuyển hàng hóa, tổn thất
xảy ra và mức độ tổn thất.
Công ty V khẳng định: "việc giao nhận lô hàng này diễn ra trực tiếp giữa đại
diện của Vinaship tàu T 36, thể hiện bằng giấy vận chuyển ngày 09/4/2020
một số giấy tờ khác" như vậy, căn cứ vào “Giấy vận chuyển” này thì Công ty V
Công ty T đã xác lập hợp đồng vận chuyển hàng 2.600 tấn thép bằng đường
biển".
Trên sở này, Công ty V xác định lỗi để xảy ra tổn thất hàng hóa thuộc về
Người vận chuyển thực tế Công ty T. Công ty V hoàn toàn nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đã Biên nhận thế quyền ngày 22/5/2020 cho
Bảo hiểm B khởi kiện.
5
Về vấn đề mua thanh toán tiền bảo hiểm: Trên sở Hợp đồng vận
chuyển hàng hóa số 03HĐVC/HP2020 ngày 31/12/2019 giữa Công ty thép H
Công ty V, ng ty V đã ký kết, mua bảo hiểm cho hàng 2.600 tấn thép tại Bảo
hiểm B Hải Phòng thể hiện bằng đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội đia số
3828923 ngày 07/4/2020. Tổng giá trị bảo hiểm là hơn 36 tỷ đồng, tiền phí bảo
hiểm hơn 12 triệu đồng. Công ty V người trực tiếp gửi hàng lên tàu vận
chuyển. Sau khi tổn thất xảy ra, Bảo hiểm B đã chi trả đầy đủ s tiền
2.136.477.888 đồng cho Công ty V. Sau khi nhận tiền bảo hiểm, Công ty V tiếp tục
thanh toán chuyển cho người thụ hưởng Công ty thép H. Như vậy, Công ty V
trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm với Bảo hiểm B là người được bảo hiểm và đã có
biên nhận và thế quyền cho Bảo hiểm B.
5. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão tham gia
phiên tòa phát biểu vviệc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, nguyên đơn
đúng với quy định của pháp luật. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét
xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T phải trả
cho nguyên đơn s tin bo him 2.136.477.888 đồng. Do nguyên đơn không
yêu cu tin lãi cho đến ngày xét x nên không xem xét. Bị đơn phải chịu toàn bộ
tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây vụ án kiện đòi bồi hoàn tiền bảo hiểm xuất
phát từ việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nội địa giữa các chủ thể hợp
đồng đều các pháp nhân độc lập, mục đích kinh doanh thu lợi nhuận nên đây
vụ án kinh doanh thương mại về "Tranh chấp kiện đòi bồi hoàn tiền bảo hiểm
trên sở tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa" theo Khoản 1 Điều 30 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn Công
ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại C địa chỉ trụ sở tại đường N,
thi trấn A, huyện A, TP. Hải Phòng. Tại biên bản xác minh lời khai của ông
Phạm Văn T, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Cơ khí T vẫn đăng kinh
doanh hoạt động tại địa chỉ này nên đây ván thuộc thẩm quyền giải quyết
thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo điểm b
Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án đã được niêm
yết, tống đạt cho bđơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng theo quy
định nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do chính đáng, người liên quan
đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn
theo khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
- Về nội dung tranh chấp:
[4] Về việc kiện đòi bồi hoàn tiền bảo hiểm:
[4.1] Công ty V đã ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa cho lô thép xây dựng
theo Đơn Bảo hiểm số 3828923 cấp ngày 07/04/2020 giấy sửa đổi bổ sung số
1792773 ngày 21/4/2020 tại Công ty B với số tiền bảo hiểm 36.456.994.000
đồng. Bảo hiểm B đồng ý bảo hiểm khi xảy ra tổn thất về hàng hóa bị hỏng do ướt,
ngập nước. Ngày 09/04/2020, tàu T 36 nhận 2.604,071 tấn thép để vận chuyển tới
địa điểm các bên thỏa thuận. Vào khoảng 18h00 ngày 17/04/2020, tàu T 36 cập
cảng L, Đồng Nai tiến hành dỡ hàng thì phát hiện hàng hóa được bảo hiểm xếp
trong hầm hàng bị tổn thất do nước tràn vào. Sau giám định xác định được mức độ
tổn thất hàng hóa 2.136.477.888 đồng. Bảo hiểm B đã chi trả đầy đủ số tiền bảo
hiểm cho người thụ hưởng là Công ty thép H.
[4.2] Công ty V Công ty N không ý kiến gì về số tiền 2.136.477.888
đồng là tiền đơn vị giám định BADINCO đánh giá mức đtổn thất hàng hóa
Bảo hiểm B phải chi trả. Công ty T cho rằng đây ( công ty giám định
BADINCO) là đơn vị giám định của Bảo hiểm B mời, không phải đơn vị bảo
hiểm độc lập không sự đồng ý của Công ty T. Sau khi bên giám định kết
luận giám định vtổn thất làm giảm giá trị thương mại tCông ty T đã phản
hồi, không nhất trí mức thiệt hại này do không phản ánh đúng thực tế thiệt hại. Bản
chất của thiệt hại này thiệt hại giảm gtrị thương mại của hàng hchứ hàng
hoá không bị mất, không bị hao hụt về số lượng, khối lượng. Tuy nhiên, Công ty T
cũng thừa nhận khi thực hiện giám định ngày 18/4/2020 có mặt đầy đủ các bên liên
quan bao gồm: Công ty T chủ tàu, chủ phương tiện; thuyền trưởng, thuyền phó
của tàu T 36; giám định viên của BADICO; đại diện Vinaship; đại diện của hãng
bảo hiểm P&I. Như vậy, Công ty T đã biết việc giám định kết quả giám định
nhưng không ý kiến nên được coi chấp nhận kết quả giám định. Hơn nữa,
Công ty T đã nhận được Thông báo giao nộp tài liệu chứng cứ của Tòa án, yêu
cầu giao nộp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng Công ty T
không thực hiện, không cung cấp được bất cứ tài liệu chứng cứ nào để chứng minh
cho quan điểm của mình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân
sự thì "Đương sự nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh không đưa ra
được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân
sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc."
[4.3] Như vậy, Hội đồng xét xđủ sở xác định các đương sự đã chấp
nhận số tiền 2.136.477.888 đồng do đơn vị giám định BADINCO đánh giá mức độ
tổn thất hàng hóa Bảo hiểm B phải chi trả. Công ty V người được bảo hiểm
đã biên bản thế quyền cho Bảo hiểm B khởi kiện nên việc Bảo hiểm B khởi
kiện đòi bồi hoàn số tiền bảo hiểm này là đúng quy định tại Điều 326 Bộ luật hàng
hải Việt Nam điểm e khoản 1 Điều 17; điểm a khoản 1 Điều 49 Luật kinh doanh
Bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010. Bảo hiểm B không yêu cầu bị đơn phải
trả tiền lãi cho đến ngày xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Điểm mấu chốt của vụ án này là xác định ai là người phải có trách nhiệm
bồi hoàn tiền bảo hiểm Bảo hiểm B đã chi trả. Như vậy, phải xem xét toàn bộ
7
quá trình kết hợp đồng và thực hiện việc vận chuyển giữa các bên như thế o,
bản chất của các hợp đồng này là vận chuyển theo vận đơn hay theo chuyến, từ đó
để xác định lỗi để xảy ra tổn thất thuộc về ai. Theo suốt quá trình kết thực
hiện hợp đồng vận chuyển giữa ng ty V, Công ty N và Công ty T thì thấy:
[5.1] Căn cứ vào tính chất, nội dung của các bản hợp đồng thuê tàu T 36
thuộc sở hữu của Công ty T để vận chuyển hàng 2600 tấn thép từ Hải Dương
vào Đồng Nai; căn cứ vào lời khai của các bên đương sự Hội đồng xét xử đủ cơ sở
nhận định đây là hợp đồng vận chuyển theo chuyến theo quy định tại khoản 2 Điều
146 Bộ luật Hàng hải. Công ty T Công ty N “Người vận chuyển”. Công ty T
còn là chủ tàu T 36 do vậy Công ty T 02 tư cách “Người vận chuyển thực tế”
và "Người vận chuyển" theo quy định tại Điều 147 B luật Hàng hải
[5.2] Tại Điều 8 của các Hợp đồng vận chuyển giữa Công ty V Công ty
N, giữa Công ty N Công ty T quy định rõ về trách nhiệm của người vận chuyển
phải có trách nhiệm bồi thường nếu để xảy ra tổn thất hàng hóa trong quá trình vận
chuyển. Công ty T không thừa nhận trách nhiệm bồi thường của mình cho rằng
không hợp đồng vận chuyển với Công ty V nhưng thừa nhận việc giao nhận
hàng 2600 tấn thép diễn ra trực tiếp giữa đại diện của Vinaship tàu T 36, thể
hiện bằng giấy vận chuyển ngày 09/4/2020. Công ty T cũng xác nhận thuyền phó
của tàu T 36 ông Văn T quyền thay mặt chủ tàu Công ty T thực hiện
giao nhận hàng hoá. Như vậy tuy giữa Công ty V Công ty T không văn bản
nào ghi “hợp đồng” với nhau nhưng “Giấy vận chuyển” ngày 09/4/2020 giữa
Vinaship đại diện tàu T 36 đã bao gồm 02 nội dung gửi hàng thực hiện
công việc vận chuyển. Căn cứ vào “Giấy vận chuyển” này thì Công ty V Công
ty T đã xác lập hợp đồng vận chuyển lô hàng 2.600 tấn thép bằng đường biển.
[5.3] Tại khoản 1 Điều 541, tiểu mục 2, mục 10, Chương XVI Bộ luật Dân
sự quy định “Bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển
nếu để tài sản bị mất hoặc hư hỏng”. Tại Mục 7 của Báo cáo giám định cuối cùng
số 20/04/0620/HCM/HH của BADINCO lập ngày 26/10/2020 xác định nguyên
nhân tổn thất như sau:“Sơ suất, bất cẩn của thuyền viên tàu trong việc che phủ bạt
hầm hàng mũi làm nước biển xâm nhập qua các góc bạt rơi xuống lớp hàng hóa
bên trên. Kết hợp với việc bảo quản, bảo dưỡng và theo dõi tình trạng tàu khi hành
trình không phù hợp dẫn đến không phát hiện được nước xâm nhập vào két ballast
trong thời gian dài nước đùn lên hầm hàng qua lỗ thủng sàn nắp tu đom không
đóng kín làm ngập, gỉ sét hàng hóa lớp bên dưới như đề cập ở trên”.
[5.4] n cứ o các lập luận, các quy định của hợp đồng giữa các bên, thực tế
giao nhn hàng hoá và c quy định của pháp luật đã được viện dẫn, Hội đồng xét xử
nhận định lỗi để xảy ra tổn thất thuộc về thuyền viên của tàu T 36 n Công ty T
chtàu T 36, vừa "Nời vận chuyển" vừa “Nời vận chuyển thực tế phải
chịu hoàn toàn tch nhiệm bồi tờng cho tổn thất đối với lô hàng 2600 tấn thép theo
mức đã được giám định là stiền 2.136.477.888 đồng. ng ty V Công ty N
những người vận chuyển nhưng không thực tế thực hiện vận chuyển nên không phải
chịu trách nhiệm về việc hàng hoá bị tổn thất. Do Bảo hiểm B đã thanh toán số tiền
y cho người được bảo hiểm đúng quy định n Công ty T phải bồi hoàn số tiền
2.136.477.888 đồng cho Bảo hiểm B.
8
-Về án phí:
[6] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên trả lại cho
nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn Công ty T phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 91; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân s;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 541 Bluật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 146; Điều 147; Điều 326 Bộ luật Hàng hải;
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 17; điểm a khoản 1 Điều 49 Luật kinh doanh
Bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sungm 2010;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty Bảo hiểm B
- Buộc ng ty Trách nhim hu hn Sản xut và Thương mại C phải trả
cho Tổng ng ty Bảo him B số tiền bảo him là 2.136.477.88 (Hai tmột
tm ba mươi sáu triệu bốn trăm by mươi by ngn tám trăm tám mươi tám
đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu, nếu Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại C chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng
tháng còn phải chịu tiền lãi trên tổng số tiền chưa trả theo lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thanh toán xong.
2. Về án phí:
- Trả lại cho Tổng công ty Bảo hiểm B số tiền 36.000.000đ (Ba mươi sáu
triệu đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai s 0001150 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện An Lão ngày 18 tháng 01 năm 2022.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại C phải nộp
74.729.557đ (Bảy mươi tư triệu bảy trăm hai mươi chín nghìn năm trăm năm mươi
bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Tổng công ty Bảo hiểm B quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Thương mại C, ng
ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại dịch vụ vận tải NCông ty Cổ phần Vận tải
biển V quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
9
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân stngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân squyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án, quyền u cầu thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- VKS ND TP. Hải Phòng;
- VKS ND huyện An Lão;
- Chi cục THA DS huyện An Lão;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Định
10
Vũ Văn Định
11
Tải về
Bản án 03/2022/KDTM-ST Hải Phòng Bản án 03/2022/KDTM-ST Hải Phòng

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 03/2022/KDTM-ST Hải Phòng Bản án 03/2022/KDTM-ST Hải Phòng

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất