Bản án số 03/2020 ngày 16/06/2020 của TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 03/2020

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2020

Tên Bản án: Bản án số 03/2020 ngày 16/06/2020 của TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 03/2020
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: án có hiệu lực
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 03/2020/DS-ST
Ngày: 16/06/2020
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duẩn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Cư, Bà Bùi Thị Cẩm
- Thư phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Hòa Thư Toà án nhân dân thị xã
Đức Phổ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tham gia phiên tòa:
Ông Trần Văn Hùng Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 06 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Phổ mở
phiên tòa xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 96/2019/TLST-DS ngày
01 tháng 06 năm 2018 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị
xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐST-DS ngày
29/04/2020 Quyết định hoãn phiên tòa số: 143/2020/QĐST-DS ngày 22/05/2020,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P;
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị P ông Nguyễn Tiến N, theo
văn bản ủy quyền ngày 16/04/2020.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường N, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Chỗ ở hiện nay:
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Thị T;
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
2
Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố D, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị P mặt, anh
Nguyễn Đức H và chị Ngô Thị T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày
20/11/2019 quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện hợp pháp của Nguyễn
Thị P trình bày:
Vào ngày 01/06/2019, khi bà P đang ngồi tại chợ Mỹ Á thuộc thôn H, P,
huyện Đ (nay là tổ dân phố H, phường P, thị Đ) thì bất ngờ bị ông Nguyễn Đức H
cớ đánh vào đầu, mặt của P gây thương tích. Sau khi bđánh P được mọi
người đưa đến Bệnh viện Đăng Thùy Trâm điều trị và làm đơn trình báo đến Công an
huyện Đ (nay là thị Đ) yêu cầu điều tra xử lý. Quá tnh điều tra, xác minh P
biết được ông H đánh P do Ngô Thị T thuê đánh. Đến ngày 01/8/2019, P
nhận được thông báo số 468 về việc không khởi tố vụ án hình sự. Bà P điều trị taị
Bệnh viện Đăng Thùy Trâm từ ngày 01/06/2019 đến ngày 06/06/2019 thì xuất viện,
sau khi xuất viện về nhà P thấy đầu còn đau, mắt mờ nên đến Bệnh viện đa khoa
Quảng Ngãi, Bệnh viện mắt tại thành phố Quảng Ngãi, Bệnh viện ngoại thần kinh
quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh để
khám và điều trị.
Nay ông đại diện hợp pháp cho P yêu cầu ông Nguyễn Đức H Ngô
Thị T phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị P gồm các khoản sau:
- Tiền viện phí + tiền thuốc là 928.483 đồng.
- Tiền chụp city: 536.000 đồng
- Tiền khám tại Bệnh viên đa khoa Quảng Ngãi Bệnh viện mắt Quảng Ngãi
là 85.000 đồng.
- Tiền khám tại Bệnh viện ngoại thần kinh quốc tế thành phố Hồ Chí Minh
(viết tắt TPHCM) là 2.440.000 đồng.
- Tiền khám + tiền thuốc tại Bệnh viện chợ Rẫy TPHCM là 499.129 đồng.
- Tiền xe Quảng Ngãi – TPHCM (đi và về 4 lần) là 1.700.000 đồng.
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 3.695.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại từ ngày 01/6/2019 đến
ngày 24/7/2019 là 10.800.000 đồng (200.000đ/ngày x 54 ngày = 10.800.000đ).
3
- Tiền ngày công lao động của người chăm sóc 6 ngày x 200.000đ/ngày
=1.200.000 đồng).
- Tiền tổn thất tinh thần 02 tháng x 1.390.000đ/tháng = 2.780.000 đồng.
- Tổng cộng các khoản là 24.663.612 đồng.
* Tại bản tự khai ngày 19/12/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án ông Nguyễn
Đức H trình bày:
Vào ngày 01/6/2019, anh đi uống rượu, bia với bạn ở xã Phổ Quang (nay
phường Phổ Quang), trong quá trình ngồi uống bia, rượu nghe bạn nói bà Nguyễn Thị
P chuyên cho vay nặng lãi và nói xấu bạn anh là bể nợ bỏ đi, anh bức xúc nói để đánh
cho P mấy cái cho chừa tội nói bậy. Sau đó anh nhờ một người bạn chở anh đến
chợ Mỹ Á thấy P đang ngồi trong chợ, anh đi vào đánh vào mặt bà P 03 cái, đánh
xong anh đi về.
Nay anh xác định hành vi anh đánh P vi phạm pháp luật, nên anh chấp
nhận bồi thường những khoản chi phí cho bà P.
* Tại bản tự khai ngày 06/01/2020 và ngày 8/01/2020 chị Ngô Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị P cùng buôn bán tại chợ Mỹ Á, nên tham gia chơi biêu
(hụi) với nhau. Đến tháng 5/2019 P tung tin chị bị bể nợ làm ảnh hưởng đến công
việc làm ăn của chị. Do vậy, chị bức xúc có nhờ anh Nguyễn Đức H đánh P để
P bỏ tính nói xấu người khác.
Đến ngày 01/6/2019, anh Nguyễn Đức H đến chợ Mỹ Á gặp P và đánh
P 03 cái vào mặt gây thương tích. Nay chị xác định, chị người nhờ anh H đánh
P, nên chị trách nhiệm liên đới ng anh H bồi thường thiệt hại cho P, mỗi
người bồi thương ½ chi phí bà P điều trị.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư
phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Tphiên tòa: Hội đồng
xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân svề việc xét xử
thẩm vụ án.
4
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình
giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Đối với nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp hành
đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng
theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 6 Điều 26, 35; 39, 91 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586,
587, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị P. Buộc anh Nguyễn Đức H
chị Ngô Thị T phải liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích tổng cộng các
khoảng là 23.735.129 đồng cho bà Nguyễn Thị P. Trong đó, anh Nguyễn Đức H phải
bồi thường là 11.867.564 đồng; chị Ngô Thị T phải bồi thường là 11.867.564 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức H người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan chị Ngô Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lđến lần thứ hai vẫn
vắng mặt tại phiên tòa không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung: Xuất phát từ mối quan hệ làm ăn, nên giữa Nguyễn Thị P
với chị Ngô Thị T phát sinh mâu thuẫn với nhau. Do vậy, chị Ngô Thị T nhờ anh
H đánh bà P. Ngày 01/6/2019, anh Nguyễn Đức H đến chợ Mỹ Á, thuộc Phổ
Quang (nay là phường Phổ Quang) thấy bà P đang ngồi tại chợ Mỹ Á, nên anh H đến
đánh vào mặt, đầu P gây thương tích. Sau khi bị đánh bà P được đưa đến Bệnh
viện đa khoa Đặng Thùy Trâm để khám điều trị. P điều trị từ ngày 01/6/2019 đến
ngày 06/6/2019 thì xuất viện, sau khi xuất viện về nhà bà P thấy đầu còn đau, mắt mờ
nên đến Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi, Bệnh viện mắt tại thành phố Quảng Ngãi,
Bệnh viện ngoại thần kinh quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện chợ Rẫy
thành phố Hồ Chí Minh để khám điều trị. Tổng chi phí điều trị P yêu cầu bồi
thường gồm các khoản là 24.663.612 đồng. Quá trình làm việc tại Tòa án anh
5
Nguyễn Đức H thừa nhận đánh bà P chấp nhận bồi thường cho P; chị Ngô
Thị T cũng thừa nhận chị T người nhờ anh H đánh P chấp nhận cùng anh H
liên đới bồi thường toàn bchi phí điều trị cho P. Tuy nhiên, đối với số tiền P
điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đặng Thùy Trâm là 928.483 đồng (tiền viện phí + tiền
thuốc) đã được bảo hiểm y tế thanh toán, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Hội
đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà P. Buộc anh Nguyễn Đức
H chị Ngô Thị T liên đới bồi thường cho P gồm các khoản: Tiền chụp city:
536.000 đồng, tiền khám tại Bệnh viên đa khoa Quảng Ngãi và Bệnh viện mắt Quảng
Ngãi 85.000 đồng, tiền khám tại Bệnh viện ngoại thần kinh quốc tế TPHCM
2.440.000 đồng, tiền khám + tiền thuốc tại Bệnh viện chợ Rẫy TPHCM 499.129
đồng, tiền xe Quảng Ngãi TPHCM (đi về 4 lần) 1.700.000 đồng, tiền bồi
dưỡng phục hồi sức khỏe là 3.695.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị
thiệt hại từ ngày 01/6/2019 đến ngày 24/7/2019 là 10.800.000 đồng (200.000đ/ngày x
54 ngày = 10.800.000đ), tiền ngày công lao động của người chăm c 6 ngày x
200.000đ/ngày =1.200.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 02 tháng x 1.390.000đ/tháng
= 2.780.000 đồng. Tổng cộng là 23.735.129 đồng, trong đó anh Nguyễn Đức H
nghĩa vụ bồi thường cho P 11.867.564 đồng; chị Ngô Thị T nghĩa vbồi
thường cho bà P 11.867.564 đồng.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Đức H chị Ngô Thị T mỗi người phải chịu
593.378 đồng. Bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự thẩm đối với phần
yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 26, 35, 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự; Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị P, buộc anh
Nguyễn Đức H chị Ngô Thị T phải nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho
Nguyễn Thị P 23.735.129 đồng, trong đó anh Nguyễn Đức H nghĩa vụ bồi
thường cho P 11.867.564 đồng; chị Ngô Thị T có nghĩa vụ bồi thường cho P
là 11.867.564 đồng.
6
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị P về việc
yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa Đặng Thùy
Trâm với số tiền là 928.483 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức H chị Ngô Thị T mỗi người
phải chịu 593.378 đồng; Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự thẩm
đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi
hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất được quy định tại
khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Nguyên đơn mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi nh theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân
sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thị xã Đức Phổ;
- Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn;
Nguyễn Văn Duẩn
7
Tải về
Bản án số 03/2020 Bản án số 03/2020

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất